Saturday, July 24, 2021

Thị trấn Ba Ngòi - nay là TX Cam Ranh Cam Ranh xưa và nay

CAM RANH QUA NHỮNG THỜI KỲ LỊCH SỬ
Từ năm 1653 - khi chúa Nguyễn Phúc Tần lập đơn vị hành chính dinh Thái Khang trên vùng đất nay là tỉnh Khánh Hòa - đến đầu thế kỷ XX, Cam Ranh là một phần đất của huyện Vĩnh Xương, phủ Diên Khánh (sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn chép địa giới của huyện Vĩnh Xương như sau: phía đông giáp biển, phía tây giáp động Mán, phía nam giáp đạo Ninh Thuận, phía bắc giáp huyện Phước Điền).
Những phát hiện khảo cổ học gần đây đã khẳng định vùng đất này từ hàng ngàn năm trước đã có con người sinh sống. Năm 1979, di chỉ khảo cổ học Xóm Cồn bên bờ vịnh Cam Ranh (thuộc phường Cam Linh, thị xã Cam Ranh) đã được phát hiện và sau đó được khai quật hai lần vào các năm 1980 và 1992. Hiện vật thu được trong các hố khai quật rất phong phú với các công cụ đá (rìu, bôn, công cụ chặt, bàn mài, hòn kê, hòn ghè, mũi khoan), rất nhiều đồ gốm, các loại xương thú, vỏ các loại nhuyễn thể biển ken dày giữa các tầng văn hóa. Năm 1990, trên các địa điểm thuộc đảo Bình Ba và Bình Hưng trong vịnh Cam Ranh, các nhà khoa học cũng đã tiến hành khai quật với quy mô lớn, kết quả thu được gồm nhiều loại rìu đá, đồ gốm, đồ trang sức bằng lõi ốc… Trên cơ sở đó, các nhà khoa học đã xác lập được một văn hóa khảo cổ mang tên địa điểm đầu tiên được phát hiện: văn hóa Xóm Cồn, có niên đại 4140 ± 80 năm cách ngày nay. Văn hóa Xóm Cồn không thuộc hệ thống văn hóa Sa Huỳnh, song chắc chắn có nhiều đóng góp vào sự hình thành văn hóa Sa Huỳnh sau này.
Di chỉ khảo cổ học Hòa Diêm (xã Cam Thịnh Đông, Cam Ranh) - cách di chỉ Xóm Cồn khoảng 5km về phía Nam - được khai quật lần đầu tiên vào tháng 4-1998, và sau đó lần thứ hai vào tháng 4-2002. Hàng chục mộ chum, hàng ngàn tiêu bản gốm cùng nhiều di vật bằng đá, đồng, sắt, thủy tinh, mã não… có niên đại từ 2000 - 2500 năm cách ngày nay đã được tìm thấy. Kết quả thu được tại Hòa Diêm cho thấy đây là một di chỉ cư trú xen lẫn mộ táng. Những đặc điểm về di vật ở đây phản ánh sự tiếp nối văn hóa với một số truyền thống từ Xóm Cồn trong sự phát triển lên giai đoạn Sa Huỳnh sau này ở Khánh Hòa.
Di chỉ khảo cổ học Văn Tứ Đông (xã Cam Hòa, Cam Ranh), cách Nha Trang 30km về phía Bắc và cách thị xã Cam Ranh 30km về phía Nam, thuộc loại hình di tích cồn sò điệp hay “đống rác bếp” (kjikkenmodding) lần đầu tiên được phát hiện và khai quật tại Khánh Hòa (tháng 7-2006). Toàn bộ di chỉ được bao bọc bởi một khe suối cổ được gọi là suối Bến Cọp. Địa tầng di chỉ Văn Tứ Đông có cấu trúc chủ yếu là vỏ sò điệp ken dày do người cổ thải ra sau khi bắt về ăn. Trong 2 hố khai quật có địa tầng sâu trung bình 120 cm với tổng diện tích 75m2 của đợt khảo sát này đã thu được 261 hiện vật (gồm 151 đồ đá, 84 mũi tên bằng xương và 26 đồ gốm), hàng vạn mảnh gốm, nhiều xương động vật, 4 vết tích bếp lửa và 1 hố đất đen. Di tích Văn Tứ Đông là một làng chài cổ ven biển có niên đại vào khoảng 3.000 - 3.500 năm trước.
Trong Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư, tập bản đồ đường xá Việt Nam do nho sinh trúng thức họ Đỗ Bá tự Công Đạo soạn vào khoảng nửa cuối thế kỷ XVII, đã thấy có tên Cam Ranh môn (cửa biển Cam Ranh). Trong một bản đồ khác cũng có niên đại cuối thế kỷ XVII mang tên Giáp Ngọ niên bình Nam đồ của Đoan Quận công Bùi Thế Đạt cũng thấy chép địa danh Cam Linh môn (cửa biển Cam Ranh) và còn ghi chú: Cam Linh môn thâm đại (cửa biển Cam Ranh rất sâu). Đây có lẽ là những tài liệu sớm nhất của người Việt ghi chép về địa danh này.
Về mặt ngôn ngữ, Cam Ranh (tên Nôm) chắc chắn có trước Cam Linh (tên Hán-Việt). Dưới thời phong kiến, khi hệ thống làng Việt đã hình thành và tương đối ổn định, các tên Nôm làng xã đã được Hán hóa để tạo ra một lớp địa danh Hán-Việt tiện lợi cho việc khai báo, ghi chép vào sổ bộ phục vụ yêu cầu quản lý của chính quyền các cấp. Trong mối tương quan giữa các địa danh thuần Việt và địa danh Hán-Việt, ta thường thấy có sự chuyển đổi giữa cặp phụ âm đầu r / l, chẳng hạn: Nha Ru / Nha Lỗ (tên cổ của huyện Ninh Hòa); Phan Rang / Phan Lang… Từ đó có thể thấy tênCam Linh là kết quả của sự Hán hóa Cam Ranh theo cách:
- Cam ---> Cam (một yếu tố của tên Nôm được chuyển sang Hán-Việt bằng cách dùng một ký hiệu Hán đồng âm nhưng không đồng nghĩa)
- Ranh ---> Linh (một yếu tố của tên Nôm được phiên âm Hán-Việt bằng một ký hiệu Hán tương ứng).
Đến nay chúng ta vẫn chưa biết rõ nguồn gốc và ý nghĩa của địa danh Cam Ranh hoặc Cam Linh, ngoại trừ những lý giải mang tính “từ nguyên học dung tục” rất võ đoán và khó kiểm chứng, như thuyết cho rằng tên Cam Linh là do chúa Nguyễn Ánh đặt cho vùng đất này với ý nghĩa là “vùng đất ngọt linh thiêng” - từ sự việc thủy quân Nguyễn đổ bộ lên bán đảo Cam Ranh tìm nước ngọt và phát hiện ra hồ nước trên núi Phượng Hoàng (?).
Một tài liệu khác có thể cho ta biết tường tận xã hội Đàng Trong vào đầu thế kỉ XVIII là sách Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn (viết năm 1776 khi ông trấn nhậm hai đạo Thuận - Quảng). Qua sự ghi chép tỉ mỉ của tác giả, chúng ta biết được tuần Cam Ranh (thuộc phủ Diên Khánh) tiền thuế là 105 quan 3 tiền, một mức thuế khá cao so với nhiều cửa biển lân cận, cho thấy quy mô giao thông, buôn bán, khai thác thủy sản ở cửa biển Cam Ranh vào thời đó đã khá tấp nập, sầm uất.
Trong các bài vè các lái kể lại thủy trình của những người đi buôn hoặc chuyên chở hàng hóa bằng ghe bầu trên tuyến đường biển Bắc-Nam vào các thế kỷ trước cũng thấy nhắc đến địa danh Cam Ranh hoặc Cam Linh, chẳng hạn như đoạn sau đây:
“… Ngó mù mù Hòn Nồm chỗ đó
Qua Hòn Nồm mới tỏ Cam Ranh
Vũng Găng đá vách như thành
Vũng Găng đá vách xung quanh như buồm …”
Hoặc:
“… Nhìn ra Nội, Ngoại sóng xao
Vát mũi chạy vào Bãi Dài, Con Nghê
Chụt đèn ngó xuống chỉnh ghê
Ngó về Hòn Tý dựa kề Cam Linh
Mò O, Dỏ Tó rất xinh
Lại thêm Đá Vách dựa kề Vũng Găng
Vũng Găng Đá Vách tựa thành
Hai bên núi tấn vây quanh như buồng…”
Sách Đại Nam nhất thống chí do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn (được xem là tài liệu địa dư quan trọng nhất của nước ta ở thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX) cung cấp nhiều dữ kiện về địa lý tự nhiên của vùng đất Cam Ranh:
1. Về núi non, có:
- Núi Yên Đỗ: ở phía nam huyện Vĩnh Xương 50 dặm, phía tây liền với thôn Diêm Nại, bắc tiếp trạm Hòa Du (ở thôn Thủy Triều, huyện Vĩnh Xương, nay thuộc địa bàn xã Cam Hải Đông, thị xã Cam Ranh - NVT), đông gối bờ biển, tả hữu có gò cát. Thế núi rộng lớn, đỉnh đồi trùng điệp, rất nhiều hòn nhỏ, duy lấy ngọn núi này làm chủ.
- Núi Hòa Quân: ở phía nam huyện Vĩnh Xương 91 dặm, phía đông sông Tam Độc (Ba Ngòi), làm trấn cho cửa tấn Cam Ranh.
- Núi Lữ: ở phía nam huyện Vĩnh Xương 115 dặm. Thế núi sừng sộ cao lớn, phía tây có các dẫy núi liên tiếp, đều là chỗ mán lèo cư trú, phía đông gần đường trạm.
- Núi Hiệp Mỹ: ở phía tây nam huyện Vĩnh Xương 111 dặm. Trước kia tên là núi An Mỹ, năm Tự Đức thứ 5 (1852) đổi lại tên này, vì giới hạn của núi ở giữa 2 hộ Khánh Hiệp và Khánh Mỹ. Thế núi quanh co, đi xuống đông chia làm núi Phong Lãnh và núi Hòa Quân, gối trên cửa biển lớn Cam Ranh. Có bãi cát kéo dài vài mươi dặm.
- Núi Thạnh Đức (hiện nay có tên là núi Phượng Hoàng - NVT): ở phía đông nam huyện Vĩnh Xương 88 dặm. Trước kia tên là núi Đông An, năm Tự Đức thứ 15 (1862) đổi lại tên này. Mạch núi từ núi Hoàng Ngưu (Đồng Bò) trải qua một dãy bãi cát, nối liền bờ biển rồi chạy xiên về phía nam, đột khởi lên một ngọn núi cao che kín cửa biển Cam Ranh. Quanh núi bày ra những động cát trùng điệp, có một cái hồ ở dưới chân núi, nước rất trong mà phẳng lặng tục danh là Ao Tương (nay gọi là Ao Hồ - NVT). Phía tây núi này nứt ra một núi nhỏ che cửa biển gọi là Hòn Lang, phia nam nứt ra một núi nhỏ che cửa biển gọi là Hòn Tranh, ở đây có dân cư, phía đông nam cũng nứt ra một núi gọi là Hòn Khô, ở phía bắc có Cửa Bé, ngoài cửa biển ấy có các đảo nhỏ là Hòn Nội, Hòn Ngoại.
- Núi Phong Lãnh: ở phía đông nam huyện Vĩnh Xương 163 dặm, giáp giới huyện An Phước đạo Ninh Thuận. Phía đông gối bãi cát, có đầm Vũng Găng, phía nam tiếp giáp mỏ cát đảo Hòn Tai.
2. Về sông ngòi, có:
- Sông Tam Độc (tức Ba Ngòi): ở phía nam huyện Vĩnh Xương 85 dặm. Phát nguyên từ trong các động Mán Bồng Lam, Bạch Cân, chảy xuống đông nam chia làm 3 chi: một chi theo thôn Thượng Nguyên chảy xuống đông nam 11 dặm; một chi theo thôn Diêm Nại chảy xuống đông nam 4 dặm; một chi theo thôn Nhược Đỗ chảy xuống đông nam 4 dặm, rồi có Khe Dầu từ thôn Hiệp Mỹ đến nhập lại, chảy ra đầm Thủy Triều, chuyển qua hướng đông chảy đến thôn Thạnh Đức phóng ra cửa biển Cam Ranh.
3. Về đầm, vịnh, cửa biển, có:
- Đầm Thủy Triều: ở phía nam huyện Vĩnh Xương 43 dặm, bốn phía là bãi cát, dồn nước sông Ba Ngòi chảy ra cửa biển Cam Ranh.
- Đầm Vũng Găng: ở cực nam huyện Vĩnh Xương, cách huyện 113 dặm, chu vi hơn 20 dặm.
- Vịnh Cam Ranh: ở phía đông nam huyện Vĩnh Xương 88 dặm, chu vi 79 dặm. Trong vịnh có đá rạng.
- Cửa tấn Cam Ranh: ở phía đông huyện Vĩnh Xương 88 dặm, rộng 400 trượng, sâu 50 trượng. Phía tả có Mũi hòn Lang, phía hữu có Hòn Lang, ngoài có Hòn Tranh, chu vi dài 19 dặm, có dân cư thôn Bình Ba ở đấy. Thuở xưa có đặt 1 chức Thủ ngự và 1 chức Hiệp thủ, sau bãi bỏ.
Đến đầu thế kỷ XIX, Cam Ranh - Ba Ngòi hầu như vẫn còn là một vùng đất hoang vu, hẻo lánh, nơi triều đình đày các tù phạm bị tội lưu đến khai khẩn, làm ruộng. Cho đến cả trăm năm sau đó, dân cư vùng này vẫn còn khá thưa thớt. Rải rác vài thôn làng người Việt ở Hòa Tân, Lập Định, Thủy Triều, Ba Ngòi, Cam Linh, Bình Ba… Ở vùng Ba Ngòi, Đá Bạc trở vào, cư dân chủ yếu là đồng bào dân tộc Raglai vốn là dân bản địa lâu đời, sinh sống chủ yếu dựa vào nương rẫy. Ở Cồn Sung (bán đảo Cam Ranh) và Bãi Lao (bán đảo Mũi Hời) có độ vài nhóm người Đàng Hạ. Cả một vùng đất rộng lớn phía nam huyện Vĩnh Xương thời đó mà Đại Nam nhất thống chí chỉ ghi nhận có một ngôi chợ nhỏ là chợ Thủy Triều, ở thôn Thủy Triều ven biển.
Mãi đến đầu thế kỷ XX, năm 1901 một người Pháp là hầu tước De Barthelemy đến lập nghiệp ở Cam Ranh. Nhìn thấy triển vọng rực rỡ của vùng vịnh này, ông ta xin cấp nhượng mấy ngàn héc-ta đất để khai khẩn, lập nhà cửa, mở ruộng muối, khuếch trương nghề cá, lại in hình ảnh, bản đồ cửa biển Cam Ranh để quảng cáo ra nước ngoài. Tuy nhiên ý định mở mang Cam Ranh của ông đã thất bại vì không được chính quyền thuộc địa và giới tư bản mẫu quốc ủng hộ.
Tuy vậy, vùng đất Cam Ranh cũng đã có những bước phát triển nhất định để trở thành một đơn vị hành chính độc lập. Dưới thời Duy Tân (1907-1916), chính quyền thực dân cắt một phần đất huyện Vĩnh Xương lập thành tổng Cam Ranh.
Ngày 8/ 6/ 1939 Toàn quyền Đông Dương ra Nghị Định lập Nha Đại lý hành chính Ba Ngòi trực thuộc tỉnh Khánh Hoà.
Dưới thời chính quyền Ngô Đình Diệm, vùng đất này trải qua nhiều lần tách, nhập, đổi tên. Tháng 7/1951 huyện Cam Lâm gọi là Nha kiêm ký Bang tá Cam Lâm, trực thuộc Tòa Tỉnh trưởng Khánh Hòa. Đến tháng 12/1954 Nha Bang tá Cam Lâm đổi là Nha Đại diện hành chánh Cam Lâm.
Ngày 17/5/1958 Nghị định số 216-BNV/NĐ giải thể Nha Đại diện hành chánh Suối Dầu, sáp nhập vào địa hạt Cam Lâm lập thành một quận mới gọi là quận Cam Lâm, gồm cả vùng bán đảo Cam Ranh và vịnh Cam Ranh.
Ngày 6/ 4/ 1960 sắc lệnh số 84-BNV tách các xã Cam Thọ, Cam Ly, 2 thôn Ma Dú và Sông Cạn (xã Cam Lục), thôn Trại Láng (xã Cam Lương) và một phần đất thôn Hòa Diêm (xã Cam Lộc) thuộc quận Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa sáp nhập vào quận Du Long thuộc tỉnh Ninh Thuận.
Tháng 10/ 1965, theo sắc lệnh số 209-NV, lấy 8 xã của quận Cam Lâm là Suối Vĩnh, Suối Hòa, Suối Hải, Cam Phúc, Cam Ranh, Cam Bình, Cam Linh, Cam Lộc, thêm núi Hòn Rồng thuộc ấp Văn Thủy Hạ (xã Cam Phú) giáp đường xe lửa xuyên Việt, cùng các phần đất đã sáp nhập vào quận Du Long (tỉnh Ninh Thuận) trước đó là các thôn Hoà Diêm, Trại Láng, Ma Dú, Sông Cạn, Mỹ Thạnh thành lập thị xã Cam Ranh. Quận lỵ Cam Lâm dời tới Suối Dầu.
Nghị định số 620 BNV/NC/NĐ ngày 6-7-1966 đổi các xã thuộc thị xã Cam Ranh thành khu phố.
Sắc lệnh số 17-SL/NV ngày 20-2-1968 lấy thêm xã Cam Sơn và một phần xã Cam Phú, Cam Thượng của quận Cam Lâm sáp nhập vào thị xã Cam Ranh.
Đến Nghị định số 1048-NĐ/NV ngày 7-11-1970, thị xã Cam Ranh chia thành 2 quận là quận Bắc và quận Nam. Quận Bắc gồm các khu phố: Suối Hoà, Suối Vĩnh, Suối Hải, Suối Cam; quận Nam gồm các khu phố: Cam Phúc, Cam Bình, Cam Ranh, Cam Phú, Cam Lộc, Cam Sơn, Cam Thịnh.
Dưới chính quyền cách mạng, địa giới hành chính huyện Cam Ranh cũng nhiều lần thay đổi. Tháng 6/ 1946 ở đồng bằng Ninh Thuận thành lập 6 khu hành chính, trong đó khu 6 là Ba Ngòi (Cam Ranh). Tháng 2/ 1947 đổi khu 6 thành vùng 6. Tháng 8/ 1948 vùng 6 được bàn giao cho tỉnh Khánh Hòa. Cuối năm 1949, nhập tổng Hòa Tân vào huyện Ba Ngòi. Đầu năm 1951 tách huyện Ba Ngòi thành hai khu: khu đặc biệt Cam Ranh và huyện miền núi Khánh Sơn.
Ngày 29-10-1975, theo Quyết định của Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa được hợp nhất thành một tỉnh mới lấy tên là tỉnh Phú Khánh, Cam Ranh là một huyện của tỉnh.
Quyết định số 49-CP ngày 10-3-1977 nhập 2 đơn vị hành chính Cam Ranh và Khánh Sơn thành một huyện mới lấy tên là huyện Cam Ranh. Đến quyết định số 268-CP ngày 23-10-1978 thành lập thị trấn Ba Ngòi.
Quyết định số 100-HĐBT ngày 30-9-1981 chia xã Cam Thành thành 2 xã Cam Thành Bắc và Cam Thành Nam; chia xã Cam Phúc thành 2 xã Cam Phúc Bắc và Cam Phúc Nam.
Đến Quyết định số 189-HĐBT ngày 27-6-1985 huyện Cam Ranh lại tách thành 2 huyện: huyện Cam Ranh và huyện miền núi Khánh Sơn. Huyện Cam Ranh gồm thị trấn Ba Ngòi và 16 xã có tên bắt đầu bằng chữ Cam.
Ngày 1-7-1989, Nghị quyết kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa 8 nước CHXHCN Việt Nam đã quyết định chia tỉnh Phú Khánh thành 2 tỉnh mới là tỉnh Phú Yên và tỉnh Khánh Hòa. Huyện Cam ranh thuộc tỉnh Khánh Hòa.
Ngày 07-7-2000, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị Định số 21/2000/NĐ-CP thành lập thị xã Cam Ranh và các phường thuộc thị xã.
Địa giới hành chính thị xã Cam Ranh hiện nay: phía bắc giáp huyện Diên Khánh và thành phố Nha Trang, phía tây giáp huyện miền núi Khánh Sơn, phía nam giáp huyện Ninh Hải thuộc tỉnh Ninh Thuận, phía đông giáp biển Đông và huyện đảo Trường Sa. Diện tích tự nhiên: 690 km2, dân số: 209.000 người (năm 2002), gồm 9 phường và 18 xã. 9 phường nội thị là: Ba Ngòi, Cam Lộc, Cam Lợi, Cam Linh, Cam Thuận, Cam Phú, Cam Phúc Nam, Cam Phúc Bắc, Cam Nghĩa. 18 xã ngoại thị là: Cam Tân, Sơn Tân, Cam Hòa, Cam Hải Đông, Cam Hải Tây, Cam Hiệp Bắc, Cam Hiệp Nam, Cam An Bắc, Cam An Nam, Cam Thành Bắc, Cam Thành Nam, Cam Phước Đông, Cam Phước Tây, Cam Thịnh Đông, Cam Thịnh Tây, Cam Đức, Cam Bình, Cam Lập.
CAM RANH - NHỮNG SỰ KIỆN LỊCH SỬ
Cam Ranh gồm có hai phần: phần đất liền và phần bán đảo. Bên ngoài bán đảo Cam Ranh là vịnh Cam Ranh sâu, rộng, từ xa xưa đã nổi tiếng là nơi trú đậu an toàn, tránh gió bão cho các loại tàu bè, một trong số rất ít cảng biển tự nhiên tốt nhất thế giới, đồng thời cũng có vị trí rất quan trọng về mặt quân sự. Nhiều nhà chiến lược phương Tây đã đánh giá Cam Ranh là một “pháo đài tự nhiên lý tưởng”, “một đồn phòng vệ của Thái Bình Dương”...
Vì vậy, ngay sau khi đánh chiếm Khánh Hòa (1886), thực dân Pháp đã chiếm đóng Cam Ranh và biến vùng đất này thành một đồn binh, một căn cứ hải quân cho các lực lượng của họ ở Đông Dương.
Đầu thế kỷ XX, vịnh Cam Ranh nổi tiếng do sự kiện hạm đội Baltic, tức hạm đội Thái Bình Dương II của Nga hoàng, gồm 45 chiến hạm và nhiều tàu tiếp viện dưới quyền chỉ huy của đề đốc Rozhestvensky, đã ghé vào tạm trú trước trận hải chiến ở eo biển Đối Mã (Tsushima) trong cuộc chiến tranh Nga - Nhật. Trong thời gian hạm đội lưu lại Cam Ranh (tháng 4-1905), ba nhà chí sĩ yêu nước đất Quảng Nam là Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng, trên đường “Nam du” đi qua Khánh Hòa, đã ghé vào vịnh Cam Ranh xem tàu chiến. Cuộc tham quan tận mắt hạm đội khổng lồ của người Nga - một cường quốc Châu Âu thời đó - có thể đã gây những suy tư trong chí hướng cứu nước của các cụ.
Trước cuộc đại chiến thế giới thứ nhất, năm 1911, Pháp quyết định xây dựng Cam Ranh thành một quân cảng để củng cố sự hiện diện của họ ở Nam Thái Bình Dương. Tuy nhiên, việc đầu tư xây dựng Cam Ranh thành một quân cảng chưa có gì đáng kể.
Cho đến giữa năm 1939, thực dân Pháp mới thực sự xây dựng Cam Ranh thành một căn cứ hải quân lớn trong kế hoạch “phòng thủ chung” ở Đông Dương hòng đối phó trong cuộc đại chiến thứ hai sắp xảy ra.
Nhưng từ tháng 7-1940, Nhật đã ép Pháp để Nhật cùng “phòng thủ Đông Dương” và ngày 15-9-1940, Nhật gửi tối hậu thư đòi kiểm soát các căn cứ hải quân, trong đó có cảng và vịnh Cam Ranh. Trên thực tế, đến năm 1942, phát xít Nhật đã độc chiếm cảng và vùng vịnh đồng thời xây dựng thêm sân bay làm bàn đạp để tiến đánh các thuộc địa của Anh, Mỹ ở Thái Bình Dương cho đến năm 1945.
Năm 1946 thực dân Pháp lại tiếp tục gây chiến tranh xâm lược đất nước ta. Cao ủy Pháp lúc đó là D’Argenlieu, với cái nhìn chiến lược của một đô đốc hải quân, sau khi chiếm được Sài Gòn đã nhanh chóng cho quân ra chiếm Cam Ranh.
Ngày 18/10/1946, trên chiếc thiết giáp hạm Suffren neo ngoài khơi vịnh Cam Ranh, đã diễn ra cuộc hội kiến giữa Hồ Chí Minh và Cao ủy Pháp D’Argenlieu, Về sự kiện lịch sử này, báo chí đương thời đã đưa tin bằng những đầu đề lớn, như báo Le Monde (Thế giới) của Pháp số ra ngày 21/10/ 946 đăng bài có nhan đề “Sur l’entre vue de Cam Ranh” (Cuộc gặp gỡ Cam Ranh).
Trong cuộc chiến tranh Việt Nam, Cam Ranh là một trong những vị trí mà quân đội Hoa Kỳ đặt chân đầu tiên. Từ năm 1965 đến 1972, Hoa Kỳ đã xây dựng Cam Ranh thành một căn cứ quân sự được bảo vệ “bất khả xâm phạm” để làm căn cứ tiếp liệu và khí tài quân sự cho chiến tranh, đồng thời kiểm soát hành lang phía tây Thái Bình Dương. Ngày 10-6-1965, Lữ đoàn 106 gồm 4.000 công binh Mỹ đến Cam Ranh xây dựng căn cứ quân sự. Tháng 8-1965, 4.000 Lữ đoàn 1 Sư đoàn  101 đến Cam Ranh. Tháng 10-1965, Trung đoàn 30 Sư đoàn Bạch Mã Nam Hàn đến Cam Ranh. Từ đó  Hoa Kỳ và Đồng Minh liên tiếp đổ quân vào Cam Ranh, năm cao nhất (1968) có tới 20,000 quân nhân Hoa Kỳ 10,000 quân của đồng minh. Cam Ranh thật sự trở thành một căn cứ quân sự liên hợp hải, lục, không quân và khu hậu cần lớn cho cả chiến trường Nam Trung và Tây Nguyên. Tại đây đã xây dựng phi trương có thể sử dụng cho các loại máy bay và hệ thống đường sá với chiều dài 260km. Vào lúc cao điểm, sân bay quân sự Cam Ranh có các phi vụ hạ cánh và cất cánh cao nhất thế giới. Tháng 3-1967, Sài Gòn đã ký hiệp định bán cho Mỹ vùng bán đảo và vịnh Cam Ranh trong 99 năm và Mỹ đã biến Cam Ranh thành căn cứ hải quân lớn nhất Đông Nam Á.
Sau năm 1975, Cam Ranh được tổ chức lại là đơn vị hành chính cấp huyện, đến năm 2000 thị xã Cam Ranh được thành lập trên cơ sở thị trấn Ba Ngòi.
Năm 1978, Nga thuê lại căn cứ Cam Ranh trong vòng 25 năm (đến 2004) nhưng đã kết thúc hợp đồng trước 2 năm. Ngày 2-5-2002, theo thỏa thuận giữa Việt Nam và Liên bang Nga, Cảng Cam Ranh đã được bàn giao lại cho Việt Nam.
Cam Ranh như một bán đảo giàu tiềm năng đã ngủ vùi khá lâu, từ sau thời điểm trở thành thị xã đã mở cửa để phát triển kinh tế, đặc biệt là du lịch. Việc sử dụng sân bay Cam Ranh vào khai thác thương mại (5-2004) cùng với việc nâng cấp hệ thống bến tàu , hệ thống giao thông  (Đại lộ Nguyễn Tất Thành nối từ sân bay Cam Ranh đến TP. Nha Trang chỉ 30 km), sẽ là cầu nối giao thông quốc tế thuận lợi, góp phần tạo ưu thế trong việc cải thiện môi trường đầu tư, thu hút đầu tư trong và ngoài nước. Xây dựng khu vực Bắc bán đảo Cam Ranh (Bãi Dài) thành trung tâm du lịch , xây dựng vịnh Cam Ranh thành khu kinh tế : thương mại, công nghiệp, du lịch vv… Những thay đổi mới được ban hành.  Chúng ta tin vào một tương lai phát triển tốt đẹp của Cam Ranh.
Sưu Tầm.

Friday, July 23, 2021

Depot Đà Lạt - Không ảnh (1968 - Photo by Bill Robie)

Vào những năm đầu của thập niên 1930, Đà Lạt đã trở thành một nơi nghỉ mát nổi tiếng của Đông Dương, rất nhiều du khách đã sử dụng đường sắt để đến Đà Lạt. Mỗi chuyến đi cũng là một cuộc du ngoạn thú vị trên xe lửa hơi nước đi qua những phong cảnh thiên nhiên hoang sơ và rừng núi cao nguyên hùng vĩ. Lúc bấy giờ, đi từ Hà Nội đến Đà Lạt chỉ mất 48 giờ nên du khách đến nghỉ mát ở Đà Lạt rất đông.

Tuy nhiên, tuyến đường được khai thác một cách khó khăn với mật độ tàu lưu thông thấp, do trọng tải đoàn tàu được kéo bởi đầu máy trên đường răng cưa độ dốc 12% không thể vượt quá 65 tấn chiều lên và 55 tấn chiều xuống. Số lượng đầu máy và toa xe còn rất hạn chế đã không cho phép tăng thêm nhiều hơn những chuyến tàu lưu thông trên tuyến.

Mặc dù vậy, trong thời kỳ đầu, tuyến đường hoạt động đều đặn và đáp ứng được những nhu cầu về vận tải đường sắt của cao nguyên Lang Biang.

Ban đầu, xe lửa vận chuyển một số lượng ít hành khách hạng sang đến Đà Lạt để nghỉ mát. Nhưng chỉ vài năm sau, phần lớn hành khách lại là người Việt Nam lao động sinh sống tại Đà Lạt trong những vườn rau, vườn hoa, đồn điền trà và những trại thử nghiệm của Viện Pasteur (trồng cam, canhkina) dọc theo tuyến đường sắt.

Năm 1937, mỗi ngày có 2 chuyến tàu đi và đến ga Đà Lạt. Thời gian chạy tàu Tháp Chàm – Đà Lạt với tàu F713 và 2733 là 4 giờ 14 phút và tàu 1731 là 5 giờ. Thời gian chạy tàu Đà Lạt – Tháp Chàm với tàu 1732 là 4 giờ 43 phút và tàu 2736 và F714 là 4 giờ 11 phút.

Vật liệu, thiết bị vận chuyển đến Đà Lạt bằng đường sắt gia tăng do nhu cầu xây dựng của thành phố. Hàng hoá chiều lên gồm: gạch từ Tháp Chàm và Dran; thép, xi măng, ống nước và thiết bị từ Sài Gòn. Đà Lạt cũng tiếp nhận gạo, gia súc, đồ gỗ đã gia công từ vùng đồng bằng.

Hàng hoá vận chuyển chiều ngược lại, xuống đồng bằng gồm: gỗ, chè Cầu Đất, cà phê Fimnom, nhưng khối lượng vận chuyển nhiều nhất vẫn là hoa và rau.

Cao nguyên Lang Biang với điều kiện khí hậu, đất đai, nguồn nước tưới và phân bón dồi dào nên có tiềm năng rất lớn về sản xuất rau hoa và một số loại trái cây ôn đới, không có khu vực nào ở miền Nam có thể so sánh được.

Mặc dù kết quả những năm đầu còn khiêm tốn, lượng rau chỉ mới cung cấp được 1/30 thị trường Sài Gòn và Chợ Lớn, nhưng sự tăng trưởng lại rất đáng khích lệ: lượng rau hàng năm vận chuyển đi từ năm 1932 đến 1937 đã tăng từ 300 tấn lên đến 1.200 tấn và lượng hoa gửi đi của năm 1936 và 1937 cũng tăng từ 70 tấn đến 90 tấn.

Tuyến đường sắt Đà Lạt có mức cước phí vận chuyển trung bình rất hợp lý với giá 20 đồng/tấn hàng hoá. Giá vé hành khách hạng tư rất thấp. Mức thu của các nhà ga năm 1936 và năm 1937 gia tăng 50%, từ 90.000 đồng lên 133.000 đồng.

Khoảng thời gian hoạt động đều đặn của tuyến đường sắt Tháp Chàm – Đà Lạt tương đối ngắn do những cuộc chiến tranh nối tiếp nhau sau đó.

Từ năm 1939, thế chiến thứ hai bùng nổ đưa Đông Dương rơi vào sự bất ổn và cũng đánh dấu sự khởi đầu của giai đoạn khó khăn của tuyến đường sắt Đà Lạt. Cuối năm 1943, đường xe lửa Hà Nội – Đà Lạt bị gián đoạn vì máy bay đồng minh oanh tạc phá hủy nhiều đoạn.

Từ năm 1946, việc khai thác tiếp tục được phục hồi và duy trì khá đều đặn. Năm 1946, tuyến đường được bổ sung thêm 4 đầu máy để đáp ứng yêu cầu vận chuyển. Năm 1956 đã có nghiên cứu điện khí hoá tuyến đường này nhưng chưa thực hiện được.

Trong những năm 1950, thỉnh thoảng tuyến đường được sử dụng để vận chuyển gỗ. Từ năm 1964 trở đi, sau khi Mỹ đưa quân ồ ạt vào miền Nam, cuộc kháng chiến trở nên ác liệt hơn, dần dần tuyến đường bị phá hủy một vài đoạn, việc khai thác thưa thớt hơn và sau đó hoàn toàn bị bỏ hoang từ năm 1972.

Sau ngày thống nhất đất nước, tuyến đường sắt Đà Lạt đưa vào vận hành lại được 7 chuyến từ Đà Lạt đến cầu Tân Mỹ (Ninh Sơn). Đoạn Tháp Chàm – Sông Pha được sửa chữa lần 1 vào năm 1978 và sửa chữa lần 2 vào năm 1985, song cũng không thể đưa vào hoạt động trở lại.

Năm 1990, Công ty đường sắt Thụy Sĩ DFB SA (Dampfbahn Furka - Bergstrecke AG - Xe lửa hơi nước của tuyến đường núi Furka SA), trong quá trình tìm các đầu máy hơi nước để phục hồi tuyến đường sắt vùng núi Furka đã mua lại các đầu máy hơi nước HG 4/4 số hiệu 40-304, 40-308 và chuyển về Thụy Sĩ. Sau đó, khung sườn và các bộ phận truyền động cho hệ thống răng cưa của đầu máy 40-306 cũng được thu gom và đưa về Thụy Sĩ vào năm 1997. Được phục hồi và đưa vào hoạt động trở lại, những đầu máy trên là những đầu máy hơi nước mạnh nhất châu Âu hiện nay.

Năm 1991, đoạn cuối của tuyến đường sắt từ Trại Mát đến Đà Lạt đã được Liên hiệp đường sắt Việt Nam (nay là Đường sắt Việt Nam – VNR) khôi phục đưa vào hoạt động để đáp ứng nhu cầu về du lịch.

Đoạn đường được khai thác hiện nay có chiều dài 6,55km, tuy không cạnh tranh được với phương tiện giao thông bằng ô tô, nhưng lại có nhiều ý nghĩa lịch sử, nhắc nhở sự tồn tại và kỳ vọng khôi phục lại một tuyến đường sắt độc đáo đã từng hoạt động 70 năm về trước.

Hiện nay, tại ga Đà Lạt có một đầu máy hơi nước kiểu 131 do Nhật Bản chế tạo năm 1936, một toa chở hàng của Đức sản xuất năm 1930, một xe kiểm tra đường của Nga sản xuất loại D6H và một ô tô ray chạy động cơ Diesel của Nga sản xuất loại D4H. Toa xe sử dụng loại toa xe khách C với chiều dài 6,5m. Đầu máy 131 thường đậu trưng bày tại ga, nhiệm vụ kéo đoàn tàu du lịch được giao cho ô tô ray D4H.

Chẳng hỉu vì sao mà trong cái website www.dalat.gov.vn/web/books/di...an3/c2-2-3.htm này lại gọi D4H là "ô tô ray chạy động cơ"

Còn D6H chắc cũng giống như D8H là loại chuyên dụng để làm đường, kiểm tra đường nhỉ??? D8H theo một số nguồn tin thì là máy Liên xô viện trợ VN để phục vụ xây cầu Thăng Long

Thursday, July 22, 2021

TIÊM CHỦNG ĐỂ DIỆT CHỦNG

Từ khi khởi phát đến nay, những diễn biến hơn một năm rưỡi đã đủ để chứng minh COVID 19 chỉ là một loại bệnh đồng dạng với bệnh cúm mùa nhưng tử suất của người nhiễm bệnh rất thấp –KHÔNG ĐẠT MỨC ĐẠI DỊCH-.
Theo tài liệu của CDC, người xem đều thấy biểu hiện lâm sàng của COVID 19 giống hệt CÚM MÙA ( INFLUENZA) như một cặp anh em song sinh.
Những người có các triệu chứng này xuất hiện từ 2-14 ngày sau khi tiếp xúc với vi rút có thể bị COVID-19:
Sốt hoặc ớn lạnh Ho - Thở gấp hoặc khó thở -Mệt mỏi - Đau nhức cơ hoặc cơ thể - Đau đầu - Mất vị giác - Đau họng - Nghẹt mũi hoặc chảy nước mũi- Buồn nôn hoặc nôn mửa - Bệnh tiêu chảy - Đau dai dẳng hoặc áp lực trong ngực - Không có khả năng đánh thức hoặc tỉnh táo.
Tuy nhiên đây là loại bệnh không chữa cũng khỏi vì thực tế báo cáo của CDC chỉ có 6% trong tổng số tử vong có ảnh hưởng của SARS COVID 2.
Nhưng như chúng ta thấy mặc dù -thời gian cũng phơi bày tất cả những bộ mặt gian dối của bọn người làm truyền thông vô lương tâm đã bán mình cho những thế lực âm mưu trong đế chế tài chánh nhưng chúng vẫn tung ra những bản tin bịa đặt, giả tạo, bất chấp SỰ THẬT. Qua những việc làm này, chúng ta càng tháy rõ mục đích của bọn tài phiệt là nhắm tới việc thử nghiệm thuốc tiêm chủng trên “đám súc vật người” trên toàn thế giới đồng thời phát động chương trình nghị sự Agenda 21 của (Đế Quốc Tài Chính) điều khiển công cụ thực hiện là Liên Hiệp Quốc.
ÂM MƯU: CORONAVIRUS, BILL GATES, LHQ VÀ KẾ HOACH GIẢM DÂN SỐ BẰNG TIÊM CHỦNG
24 THÁNG 7 NĂM 2021
Bill Gates
© UN Photo / Jean-Marc Ferré CC BY-NC-ND 2.0
BILL GATES VÀ SỞ THÍCH TRIỆT GIẢM DÂN SỐ
Mối liên hệ giữa tỷ phú công nghệ và mối quan tâm về dân số là gì? Ngày nay một số lượng lớn người ngạc nhiên khi biết rằng Gates đang thực hiện sứ mệnh quét sạch loài người thông qua việc ép buộc tiêm các chất ngăn chặn khả năng sinh sản, kiểm soát tâm trí hoặc các chất độc hại khác và 'vi mạch' được ngụy trang thành vắc-xin COVID-19 đã không còn nghi ngờ gì vì thực tế đại dịch COVID-19 đang được Bill Gates và các 'giới tinh hoa toàn cầu' cố tình tạo ra bằng cách thổi phồng, bịa đặt về mức độ nguy hiểm và sự ngụy tạo có hệ thống về con số thống kê để tấn công khủng bố tinh thần nhân loại toàn thế giới và cưỡng bách nhân loại buộc phải tiêm chủng những loại vaccine thử nghiệm diệt chủng, vô sinh, chứa những mầm bệnh nguy hiểm khôn lường.. Chưa hết như chúng ta đã chứng kiến hiện nay gần như 3/5 nhân loại đã bị cưỡng bách trở thành “súc vật thử nghiệm” khi loại thuốc tiêm chủng hiện nay vốn chỉ là thuốc thử nghiệm và thật là vô lương tâm khi FDA của chính phủ Hoa Kỳ cấp phép sử dụng KHẨN CẤP trong khi bệnh COVID 19 thuộc loại không chữa cũng khỏi.
Vì vội vã kiếm tiền và cố gắng thực hiện nghị trình diệt chủng Agenda 21/30 nên cBill Gates, George Soros đã lệnh cho chính quyền phản động Biden- Harris khuyến khích rồi tìm đủ cách cưỡng ép dân Hoa Kỳ tiêm chủng. Điều buồn cười nhất là một xã hội công dân tự do có trình độ gọi là CAO lại ngu xuẩn hơn những con cừu trong trại chăn nuội gia súc khi ngoan ngoãn rủ nhau chích loại thuốc thử nghiệm ngừa bệnh COVID 19 (experimental vaccine) nhưng không bảo đảm sự miễn nhiễm với bệnh COVID 19 . Ngoan ngoãn Ttuân theo những điều vô lý như đeo mặt nạ gọi là phòng bệnh khiến xã hội Hoa Kỳ biến thành xã hội của đám gian nhân hợp đảng chuẩn bị trộm cắp, cướp của giết người như bọn BLM.
Sao lạ vậy nhỉ? Tiêm chủng là để ngừa bệnh nhưng tiêm rồi vẫn không kháng miễn với COVID 19 thì kết quả việc tiêm mầm bệnh vào người hại nhiều hơn lợi.
Đeo mặt nạ đã được khoa học chứng minh không có tác dụng ngừa bệnh, ngược lại tạo ra hiệu ứng tâm lý bệnh hoạn, nhưng sau khi hầu hết mọi nơi đều bỏ mặt nạ, bọn “lưu manh chính trị”, và “lưu manh y dược” vẫn cố tình kéo dài những cuộc cãi cọ chầy cối.
Những luận điệu dối trá, ngược ngạo giúp mọi người nhận rõ những bộ mặt ác quỷ của đám tỷ phú Hoa Kỳ khi chúng phát động một làn sóng bịa đặt fake news để tấn công việc điều trị COVID 19 bằng “hydroxychloroquine” trước đây khiến hàng nghìn người bị tử vong. Cho đến nay hầu như tất cả mọi tổ chức nghiên cứu đã xác nhận “hydroxychloroquine” là khắc tinh của COVID 19.
Hiện nay theo những cơ sở khoa học kết luận COVID 19 không còn là mối đe dọa khủng khiếp như bọn tài phiệt ma quỷ muốn áp đặt lên não bộ nhân loại thì bọn chúng lại độc ác đổi “tone” sang câu chuyện biến thể Delta và chắc chắn khi biến thể Delta không khủng bố, bẻ gãy được tinh thần và ý chí nhân loại chúng lại hô hoán thêm nhiều loại biến thể COVID 19 khác.
Sự thực chúng ta cần phải thấy “đế quốc tài phiệt” nắm giữ hoàn toàn các công ty dược phẩm và vật dụng y tế với khối lượng tư bản quá lớn nên không có gì ngạc nhiên trong mấy thập niên vừa qua bọn chúng tạo ra rất nhiều loại dịch bệnh để bán thuốc do chúng sản xuất. Trong đó có nhiều loại dịch bệnh tự tan vì trong thực tế lũ ma vương, ác qủy trong Big Pharma không tạo ra được lây lan trên diện rộng như vụ COVID 19 vì những tổng giám đốc trước đây của WHO không dám tuyên bố láo lếu như tên đương kim tổng giám đốc chẳng có chút liên quan đến ngành y dược nên ngu dốt, liều lĩnh chỉ tuân theo tiếng gọi của kim tiền mà phát động cuộc khủng bố tinh thần, gieo rắc sự hoài nghi và sợ hãi trong toàn nhân loại bằng một báo cáo đại dịch phi khoa học.
Tại sao vậy? Bởi vì năm 2021 là cột mốc quan trọng, là năm đầu tiên của chương trình đại sát Agenda 21 ẩn tàng trong cái tên “Sustainable and Development” của tổ chức Liên Hiệp Quốc.
Quỹ Bill và Melinda Gates từ lâu đã núp dưới bảng hiệu mỹ miều “hỗ trợ các quyền và sức khỏe sinh sản ở các nước đang phát triển, bao gồm cả các dịch vụ kế hoạch hóa gia đình.” Quỹ cũng đã cam kết hỗ trợ hàng tỷ đồng cho các chương trình tiêm chủng. Bill Gates đã nhiều lần lên tiếng công khai về lợi ích của việc hạn chế dân số thông qua việc cải thiện chăm sóc sức khỏe. Ví dụ, trong một cuộc nói chuyện TED năm 2010 về các cách giảm khí thải khí hậu, doanh nhân giàu có đã thừa nhận yếu tố dân số và tuyên bố rằng chúng ta có thể thực hiện điều này “nếu chúng ta thực hiện một công việc tuyệt vời về vắc-xin mới, dịch vụ chăm sóc sức khỏe và sức khỏe sinh sản”.
Lý thuyết là khi mọi người không phải lo lắng quá nhiều về việc mất con vì những căn bệnh có thể phòng ngừa, họ sẽ sinh ít hơn, sinh suất sẽ giảm như đã giải thích trong bức thư thường niên năm 2014 của Gates .
Vắc xin là thuốc ngừa nhiễm bệnh. Chích vaccine là chích tác nhân gây bệnh đã được làm cho suy yếu vào cơ thể con người nhằm tạo ra kháng thể chống bệnh.
Nhưng nếu sử dụng vaccine vào mục đích triệt sản, vô sinh thì quá dã man, vô nhân đạo và để tiến hành công việc tàn độc này. Quỹ Bill và Melinda Gates đã chọn người dân nghèo ở Ấn Độ, Phi Châu để làm “những con vật thử nghiệm” cho những âm mưu đen tối nhằm biến đổi gen trong chương trình hạn chế sinh đẻ và giảm dân số có thể dẫn đến tỷ lệ sinh thấp hơn (số con trung bình trên một phụ nữ).
Đối với những người có tinh thần nhân bản việc triệt sản, phá thai dưới mọi hình thức đều là sát nhân. Dùng vaccine để gây ra tình trạng vô sinh hàng loạt chính là hành động diệt chủng. Tiêm chủng nhằm mục đích hạn chế dân số chính là tội ác diệt chủng, để cho bọn siêu giàu mới có quyền cư ngụ trên trái đất này.
Thật ra bọn siêu giàu cũng chỉ là con người bình thường như 7 tỷ 7 con người trên hành tinh Trái Đất. Nhưng chúng đã tự phong cho chúng quyền thay đổi luật tạo hóa trên hành tinh này bằng những đồng tiền đẫm máu của những người bị bóc lột.
Năm 1962, Rockerfeller đã kêu gọi tiết giảm dân số tại diễn đàn LHQ, năm 1972 cũng tại “Diễn đàn Phát triển và Ổn định” Kissinger cũng kêu gọi hạn chế sự tăng trưởng dân số của các quốc gia.
Năm 1992 Chương trình nghị sự Agenda 2021, được đưa ra tại Hội nghị Môi trường và Phát triển ở Rio có kế hoạch bí mật nhằm giảm dân số toàn cầu.
Chương trình nghị sự năm 2021 nêu rõ “Sự gia tăng dân số và sản xuất thế giới kết hợp với các mô hình tiêu dùng không bền vững gây ra căng thẳng ngày càng nghiêm trọng đối với năng lực hỗ trợ sự sống của hành tinh chúng ta,”
Chương trình nghị sự 21 và những chương trình gần đây là Chương trình nghị sự 2030 và Chương trình nghị sự 2050 - là kế hoạch giảm 95% dân số thế giới vào năm 2030 .
Đây là một kế hoạch hành động do LHQ đề ra và được 178 chính phủ ký kết. Mục tiêu của nó là tiêu diệt nhân loại vì "địa cầu quá tải dân số ". Nó được giới tinh hoa cổ vũ như một cách để “cứu hành tinh” và được các chính phủ trên toàn thế giới thực hiện. Bill Gates thậm chí đã chia sẻ quan điểm của mình về cách đạt được mục tiêu này bằng cách tiêm chủng và các phương tiện khác trong một bài giảng TedX:
“Thế giới ngày nay có 7,7 tỷ người. Con số đó sẽ lên tới khoảng chín tỷ. Bây giờ, nếu chúng tôi thực hiện một công việc thực sự tuyệt vời đối với vắc-xin mới, dịch vụ chăm sóc sức khỏe và sức khỏe sinh sản, chúng tôi có thể giảm con số đó xuống 10 hoặc 15%. "
Chương trình nghị sự 2030 là phiên bản mới của Agenda 21 chứa đựng những sáng kiến đầy tham vọng của Liên hợp quốc được đưa ra vào năm 2015 nhằm giải quyết các cuộc khủng hoảng lớn nhất của nhân loại vào năm 2030, từ chấm dứt nạn đói, bất bình đẳng giới và nghèo đói đến ngăn chặn biến đổi khí hậu và mất đa dạng sinh học. Mục tiêu của nó được đưa ra trong 17 Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDGs).
Những tên bồi bút của bọn tỷ phú ra sức biện minh cho âm mưu ác độc của bọn quỷ vương đang thực hiện tội ác của chúng thông qua cái công cụ gọi là LHQ
Tất nhiên, Liên hợp quốc từ lâu đã và đang tìm cách trở thành một "chính phủ thế giới". Tố chức này được hưởng lợi từ “đế chế tài chánh” nên trở thành công cụ tạo lợi thế cho tập đoàn Big Pharma trong việc đánh vào nỗi sợ hãi của nhân loại.
Ngay cả hoàng tử William gần đây cũng bày tỏ lo ngại về sự gia tăng dân số nhanh chóng trong quá khứ. William có thẩm quyền gì nếu không phải là một thành viên hội kín chủ trương “Đại Sát Nhân Loại”. Tôi và hiền nội đã lái xe đi hơn 120 dặm đến tượng đài Georgia Guidestones để tận mắt thấy và tự mình quay cuốn phim trong đó những hàng dự ngôn bằng 8 thứ ngôn ngữ nói về việc chỉ duy trì 500 triệu người trên trái đất.
Chương trình nghị sự 21 - và những chương trình gần đây là Chương trình nghị sự 2030 và Chương trình nghị sự 2050 - là kế hoạch giảm 95% dân số thế giới vào năm 2030 .
Mối quan tâm chính của tôi ở đây là một chương trình nghị sự ẩn đang được che giấu như một kế hoạch có lợi cho nhân loại, trong khi hoàn toàn ngược lại. Trên thực tế, đó là một lời nói dối được tạo dựng khéo léo để vượt qua sự giám sát của chúng ta. Kết quả của tất cả những điều này là xóa bỏ chủ quyền quốc gia và trao quyền cho LHQ dần dần kiểm soát những gì từng là chính sách quốc gia.
“Nó sẽ xóa bỏ và phá hủy tất cả các hiến pháp, hạn chế tự do ngôn luận và tước vũ khí của người dân. Khi Chương trình nghị sự 21 được thực hiện đầy đủ, Liên hợp quốc sẽ sở hữu tất cả các loại súng và sau đó, sẽ không có sự phản đối nào đối với sự kiểm soát của họ ”.
Đây là một kế hoạch hành động do LHQ đề ra và được 178 chính phủ ký kết. Mục tiêu của nó là tiêu diệt nhân loại vì "chúng ta quá nhiều". Nó được giới tinh hoa cổ vũ như một cách để “cứu hành tinh” và được các chính phủ trên toàn thế giới thực hiện. Bill Gates thậm chí đã chia sẻ quan điểm của mình về cách đạt được mục tiêu này bằng cách tiêm chủng và các phương tiện khác trong một bài giảng TedX:
“Thế giới ngày nay có 7,7 tỷ người. Con số đó lên tới khoảng chín tỷ. Bây giờ, nếu chúng tôi thực hiện một công việc thực sự tuyệt vời đối với vắc-xin mới, dịch vụ chăm sóc sức khỏe và sức khỏe sinh sản, chúng tôi có thể giảm con số đó xuống 10 hoặc 15%. "
“Chương trình nghị sự thực sự của Chương trình nghị sự Agenda 21 [/ 2030] là thiết lập một chính phủ toàn cầu, hệ thống kinh tế toàn cầu và tôn giáo toàn cầu. Khi Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Ban Ki-Moon nói về 'giấc mơ về một thế giới hòa bình và phẩm giá cho tất cả mọi người', điều này không khác gì khi những người Cộng sản hứa với người dân một 'thiên đường của người lao động.'
Họ thúc đẩy chương trình nghị sự toàn cầu hóa của họ để tất cả chúng ta không có quyền đối với tài sản và các quyền khác. Nhân loại trở thành bầy thú được nuôi dưỡng hay sát hại tùy theo kế hoạch phục vụ THUYẾT ƯU SINH của những kẻ đang dùng sự giàu có về tiền bạc đứng sau cánh gà đạo diễn các tuồng tích trên phạm vi toàn cầu.
Kim Âu
Atlanta July 22/2021
(còn tiếp)

Một nước Việt buồn... Phạm Minh Vũ

Người Dân Việt Nam vốn dĩ cái đói cái nghèo cứ vây lấy quanh năm, có khi bám đến suốt đời. Cái ăn cái mặc vẫn chưa lo tới làm sao biết cái chữ. Bởi thế, cán bộ có bằng cấp lý luận chính trị, làm tới phó chủ tịch phường, nhưng dốt tới nổi không thể biết bánh mì là một loại lương thực.
Bình thường, Dân nghèo quá khốn khổ vì sự điều hành của chính phủ quá yếu kém, không trọng dụng người tài nên quan chức vô học cứ thế ra làm quan. Kẻ nắm vận mệnh đất nước, thì họ lại thi hành chánh sách có lợi cho một nhóm gồm 18 tên trùm và hơn 200 tên cướp. Chính sách bóc lột Dân bằng thuế, bằng phí đã là một gánh nặng đối với Dân chúng khốn khổ vô cùng.
Tới khi chính sách bóc lột được thực thi, thì những kẻ mang màu áo công quyền thi hành công vụ hành động xem Dân như kẻ thù, cứ thế mà sát phạt Dân vô tội vạ. Dân hé cửa cũng phạt, dân đi mua bánh mì cũng phạt thật vô đạo đức.
Từ trên xuống dưới cả hệ thống ai cũng nghĩ cái lợi cho bản thân nên trăm sự đổ đầu Dân. Cái nghèo cứ thế mà vây lấy cuộc đời họ.
Trong vòng xoáy đại dịch V.ũ H.án thì cái nghèo mới trở nên là điều đáng sợ.
Hôm nay, Quốc hội người ta vẫn họp, vẫn chém gió và kiên định mục tiêu tiến lên XHCN. Ngày mai họ sẽ có buổi đại yến tiệc để mừng kỳ họp đầu tiên khoá mới thành công, toàn nhân sự “mới”. Họ sẽ nói gì khi trà dư tửu hậu? Chắc hỏi mày đã mua quốc tịch Síp chưa chứ biết nói gì? Vì trên tivi họ nói Qh họp cãi nhau chí choé vậy thôi, chứ đảng lãnh đạo toàn diện đảng quyết cả rồi. Đại biểu gặp nhau chỉ đẹp đội hình hợp thức hoá cho có cái gọi là Dân chủ thôi.
Trong khi họ đốt tiền Dân vô tội vạ giữa đại dịch ấy. Thì nay, 30 người dân đã đi bộ hàng chục km, đêm ngủ ven đường, đến khi gặp chốt kiểm soát dịch, được chọ gói mì mà ai cũng mới cầm lên tay đều ngấu nghiến sống từng gói mì vì...đói quá!
Họ là những người dân của huyện Ba Tơ (Quảng Ngãi) đi làm mướn ở Bình Định, sau nhiều tháng không có việc làm vì dịch, hết sạch tiền, không nơi nương tựa, đã quyết định về quê đi bộ. Họ đi từ huyện Hoài Nhơn (Bình Định) lúc 2 giờ chiều ngày 20/7 đến trưa hôm sau 21/7 thì đến trạm kiểm soát dịch đèo Bình Đê (giáp ranh Bình Định), ngủ đường ngủ bụi.
Sẽ có người hỏi sao không ở lại mà phải đi khổ như vậy?
Ở lại thì tiền trọ đâu? Ăn bằng gì? Đâu phải bí thư đảng ủy Phạm Văn Sáng vơ sạch tiền của Dân để rồi hạ cánh bên Mỹ? Vay mượn bây giờ ai cũng khó khăn như ai, chỉ có quan tích luỹ mới dư được nhiều, Dân thì điêu đứng như nhau cả.
Sẽ có người trả lời sao không xin gói hỗ trợ 26.000 tỷ chính phủ cho?
Xin thì bao giờ tới? Hay là tổ trưởng Dân phố đem chia cả giòng họ rồi? Mà nếu chính phủ có cho thật, thì tới lúc nhận được có lẽ đặt trên di ảnh của họ chăng?
Một đất nước mà quan chức con cháu lúc sống tranh nhau từng miếng đất, từng liều vac-xin với Dân, lúc ốm thì tranh nằm viện ưu tiên cho cán bộ cho lãnh đạo cao cấp hưởng những đặc quyền không khác gì vua chúa thời phong kiến ngày xưa, lúc chết thì lại tranh đất hàng ngàn m2 để xây nghĩa trang to bự, bệ vệ uy nghi. Cho người đời sau biết, đây là mả của kẻ từng có uy quyền lắm hay là có tội với muôn Dân?
Quan chức sống vô đạo đức
vô liêm sỉ như thế thì Dân còn con đường sống nào?
Nhìn dòng người lam lũ nối đuôi đi giữa trưa nắng hạ Miền Trung, lòng bỗng quặn thắt, tim chợt đau nhói.
Vì đâu một nước Việt buồn đến vậy?
Phạm Minh Vũ

Dân Biểu Janet Nguyễn Yêu Cầu Ủy Ban Quân Vụ và Cựu Quân Nhân Thượng Viện Tiểu Bang Cho Phép các Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà Được Hưởng Những Quyền Lợi An Táng Tại Nghĩa Trang Quốc Gia Hoa Kỳ


SACRAMENTO, CA - Ủy Ban Quân Sự và Cựu Quân Nhân của Thượng Viện Tiểu Bang gần đây đã yêu cầu để chung Nghị Quyết AJR 13 (Assembly Joint Resolution) của Dân Biểu Janet Nguyễn với Nghị Quyết AJR 10, để được thông qua vào tuần này. Nghị quyết AJR 13 cuả Dân Biểu Janet Nguyễn kêu gọi Quốc Hội Liên Bang và Tổng Thống Hoa Kỳ cho phép những Cựu Quân Nhân Việt Nam Cộng Hòa được hưởng những quyền lợi chôn cất và tưởng niệm tại Nghĩa Trang Quốc Gia Hoa Kỳ.          

AJR 10 là những nỗ lực thành công của Dân Biểu Janet Nguyễn và Dân Biểu Steven Choi liên quan đến những Cựu Quân Nhân Việt Nam Cộng Hòa và Cựu Quân Nhân Nam Hàn. Các chiến sĩ của cả hai Quân Lực đã chiến đấu cùng với các chiến sĩ của Quân Lực Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam vì tự do và dân chủ. AJR 10 hiện kêu gọi Quốc Hội Liên Bang trao cho những người lính dũng cảm này các quyền lợi chôn cất và tưởng niệm tại nghĩa trang quốc gia Hoa Kỳ, cùng với các đồng đội của họ trong Quân Lực Hoa Kỳ.
Theo luật hiện tại, một công dân Hoa Kỳ, trong bất kỳ cuộc chiến nào mà Hoa Kỳ đã hoặc có thể tham gia, đã phục vụ trong Quân Lực của bất kỳ chính phủ nào liên minh với Hoa Kỳ trong cuộc chiến đó, những người đã chấm dứt phục vụ tại ngũ được vinh danh vì tử trận hoặc qua đời, và là công dân Hoa Kỳ tại thời điểm nhập ngũ và tại thời điểm qua đời, đều đủ điều kiện để chôn cất tại nghĩa trang quốc gia.
AJR 10 sẽ kêu gọi Quốc Hội Liên Bang trao cho các Cựu Quân Nhân Việt Nam Cộng Hòa và Cựu Quân Nhân Nam Hàn những quyền lợi về mai táng và tưởng niệm tại nghĩa trang quốc gia. Đây là những vị đã phục vụ trong chiến tranh Việt Nam nhưng chưa là công dân Hoa Kỳ trong thời gian phục vụ hay sau đó.
Dân Biểu Janet Nguyễn phát biểu: “Những Quân Nhân anh dũng này đã luôn sát cánh chiến đấu bên cạnh quân đội Hoa Kỳ và đã trở thành công dân Hoa Kỳ, xứng đáng được hưởng các quyền lợi an táng và tưởng niệm thích hợp trong nghĩa trang quốc gia hoặc trong các nghĩa trang của Cựu Quân Nhân của Tiểu Bang. Tôi và gia đình sẽ không có ngày hôm nay nếu không có sự hy sinh của những vị anh hùng này trong cuộc chiến. Họ xứng đáng nhận được sự vinh danh và tôn trọng của chúng ta”. 
Chiến tranh Việt Nam kết thúc vào năm 1975 và mang theo sự mất mát của hàng trăm ngàn chiến sĩ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà và Quân Lực Hoa Kỳ, những người đã sát cánh chiến đấu vì tự do và dân chủ.
Sau chiến tranh Việt Nam, nhiều chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà và gia đình của họ đã buộc phải vượt biển để thoát khỏi sự cai trị độc tài và đàn áp của chế độ cộng sản. Cha và Chú quá cố của Dân Biểu Janet Nguyễn đều phục vụ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà. Chú của Dân Biểu Janet Nguyễn, là một sĩ quan, đã bị hành quyết trong những ngày cuối cùng khi Sài Gòn thất thủ. Dân Biểu Janet Nguyễn và gia đình đã phải vượt biển đến Hoa Kỳ để tìm tự do và dân chủ.   
Tại Hoa Kỳ, những người lính Cựu Quân Nhân Việt Nam Cộng Hòa vẫn tiếp tục đấu tranh cho dân chủ, tự do tôn giáo, và nhân quyền tại Việt Nam. Họ đã đóng góp về mặt văn hóa và kinh tế cho đất nước Hoa Kỳ và cho sự đa dạng của dân tộc chúng ta. Những cựu quân nhân này đã sát cánh chiến đấu cùng những người lính Hoa Kỳ để chống lại kẻ thù chung và liều mình cứu sống nhiều chiến sĩ Hoa Kỳ.
Dân Biểu Janet Nguyễn phát biểu: “Tôi rất vui mừng với những công việc mà chúng tôi đã và đang làm để giúp những cựu quân nhân này. Tôi rất vinh dự khi được cùng đồng nghiệp của tôi, Dân Biểu Steven Choi, cùng nhau tìm ra giải pháp để vinh danh những Cựu Quân Nhân Việt Nam Cộng Hòa và Cựu Quân Nhân Nam Hàn”.
Dự luật đã được thông qua bởi Ủy Ban Quân Vụ và Cựu Quân Nhân Thượng Viện Tiểu Bang. Hiện tại, dự luật đang được đệ trình lên Thượng Viện Tiểu Bang để bỏ phiếu. Sau khi thông qua Thượng Viện, AJR 10 sẽ chuyển đến Hạ Viện Tiểu Bang.
Để chứng minh với Quốc Hội sự quan tâm và tầm quan trọng của Nghị Quyết AJR 10 đối với Cộng Đồng Việt Nam nói chung và các Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà nói riêng, Dân Biểu Janet Nguyễn rất mong muốn chúng ta có được nhiều chữ ký ủng hộ để trao cho Uỷ Ban trước khi họ có quyết định về Nghị Quyết. Vì tình hình dịch bệnh, quý đồng hương không thể đích thân đến Uỷ Ban Điều Trần để kêu gọi ủng hộ cho AJR 10. Thế nên, Dân Biểu Janet Nguyễn kêu gọi quý đồng hương khắp nơi ký vào bản kiến nghị trên trang mạng http://baovecongdong.com để ủng hộ Nghị Quyết AJR 10.

Ai giữ tác quyền nhạc phẩm "Sài Gòn Ơi, Vĩnh Biệt"?

Xin chia sẻ cùng quý vị và các bạn lá thư đính kèm để rộng đường dư luận, cũng như để quý nhạc sĩ thân hữu được cảnh báo, đồng thời minh xác những lời vu khống đầy ác ý của bọn Youtubers vô tư cách trong cộng đồng người Việt của chúng ta.

Cám ơn quý vị,
Nam Lộc

From: loc nguyen <namlocnguyen@yahoo.com>
To: info@vcpmc.org <info@vcpmc.org>
Cc: asiaentertaimentinc@gmail.com <asiaentertaimentinc@gmail.com>
Sent: Wednesday, July 21, 2021, 10:47:04 PM PDT
Subject: Ai giữ tác quyền nhạc phẩm "Sài Gòn Ơi, Vĩnh Biệt"?

Kính gởi nhạc sĩ Đinh Trung Cẩn
Tổng Giám Đốc Trung Tâm Bảo Vệ Quyền Tác Giả Âm Nhạc Việt Nam (Vietnam Center for Protection of Music Copyright / VCPMC)
88 Nguyễn Văn Huyên
Phường Nghĩa Đô, Quận Cầu Giấy
Hà Nội, Việt Nam via info@vcpmc.org (http://vcpmc.org/vcpmc//)

Kính thưa nhạc sĩ, 
Chúng tôi là Nguyễn Nam Lộc, tức nhạc sĩ Nam Lộc. Trước hết xin cám ơn nhã ý của Trung Tâm Bảo Vệ Quyền Tác Giả Âm Nhạc Việt Nam, trong việc bảo vệ tác quyền cho các nhạc sĩ sáng tác. Một việc làm thật quan trọng, nhưng đã bị xao lãng từ lâu. Tuy nhiên vì sống ở hải ngoại cho nên tôi không có dịp theo dõi hay tìm hiểu về các hoạt động của quý vị tại Việt Nam. Thế nhưng trong thời gian gần đây, tôi vô cùng ngạc nhiên khi được Trung Tâm Asia cho biết Trung Tâm Bảo Vệ Quyền Tác Giả Âm Nhạc Việt Nam đã gởi thư cho họ và tự nhận là chủ quyền của 2 nhạc phẩm "Sài Gòn Ơi, Vĩnh Biệt" do tôi sáng tác cả nhạc lẫn lời, và ca khúc "Mùa Thu Lá Bay", nhạc ngoại quốc, do tôi soạn lời Việt (tài liệu đính kèm).

Thưa nhạc sĩ, như đã nói ở trên, tôi chưa được hân hạnh quen biết hay giao tiếp với nhạc sĩ hoặc bất cứ thành viên nào của quý Trung Tâm, và quan trọng hơn cả là, từ sau tháng Tư 1975, tôi chưa hề bán bản quyền bất cứ tác phẩm nghệ thuật nào của tôi, kể cả những ca khúc do tôi sáng tác hoặc soạn lời cho quý vị hay bất cứ ai.

Rất tiếc, tôi không có phương tiện liên lạc riêng tư nào của nhạc sĩ, nên đành sử dụng địa chỉ email này tìm được trên Internet để gởi thư đến quý vị, đồng thời phổ biến qua mạng diễn đàn xã hội, với hy vọng lá thư này sẽ đến tay nhạc sĩ. Nhân tiện cũng để minh xác những lời đồn đãi tiêu cực qua các bản tin giả (fake news) do một vài kênh truyền thông YouTubers thiếu đứng đắn phát tán. Họ nói rằng: “Trung Tâm Asia đã bán cho Việt Cộng”, hay “Có một số nhạc sĩ vì lợi nhuận hoặc vì vô tình đã bán bản quyền cho Việt Cộng”! Tôi không biết có nhạc sĩ nào nằm trong trường hợp nói trên, nhưng xin khẳng định, người đó chắc chắn không phải là tôi.

Trân trọng kính chào, rất mong nhận được sự quan tâm và hồi âm của nhạc sĩ.

Nguyễn Nam Lộc aka Nam Lộc


Tài liệu đính kèm:

- Mùa Thu Lá Bay (ca sĩ Ngọc Lan):
https://www.youtube.com/watch?v=qQFjsAE4iFg

- Sài Gòn Ơi, Vĩnh Biệt (ca sĩ Hồ Hoàng Yến):
https://www.youtube.com/watch?v=LHGCm0LxHYI

- Văn bản của Trung Tâm Bảo Vệ Quyền Tác Giả Âm Nhạc Việt Nam (VCPMC) gởi ra:
 

Tình người - Thí Lê

Khoảng năm 1981-1982, đời sống giáo viên cực kỳ khó khăn. Tôi quyết định đi xe đạp thồ để có tiền mua sữa cho con. Chiếc xe đạp để đi dạy hàng ngày được bổ sung thêm cái giỏ phía trước và cái yên nệm mút phía sau poóc-ba-ga cho khách ngồi… êm đít!
Mỗi sáng cứ 5h là tôi ra đứng trước kiệt 7 Hoàng Diệu (Đà Nẵng) để chờ khách. Khi trời bắt đầu sáng thì bỏ đường Hoàng Diệu – nơi gần trường đang dạy, rất dễ gặp học trò – chạy xuống đường Lý Tự Trọng hoặc Trần Cao Vân đứng đón khách. Có khách hay không thì 10h30 phải quay về nấu cơm ăn để chiều… lên lớp.
Một buổi sáng đang bon bon trên đường Trần Cao Vân trước chợ Lầu Đèn, chạy về nhà chuẩn bị đi dạy, thì có một bà cụ dáng rất nhà quê đón xe. Vừa mừng vừa lo. Mừng vì được một cuốc xe có thêm tiền. Lo vì sợ khách đi xa không về ăn cơm kịp để 12h30 vào dạy tiết 1. Tôi phanh xe và hỏi:– Cụ đi mô.
Bà cụ nói:– Đây xuống bến xe Vĩnh Trung mi lấy mấy?
Thấy tuyến đường trùng với lộ trình về nhà của mình nên tôi nói:
– Đúng giá là một đồng rưỡi. Còn chừ cụ cho mấy cũng được, cụ không có tiền thì con chở giúp cụ một đoạn, con đang trên đường về.
Bà cụ cười giơ hàm răng toàn… lợi và nói:– Thằng ni đi thồ mà nói nghe vui hỉ!
Nói xong bà cụ cúi xuống cầm đôi dép lào đã mòn lín. Hai cái gót đã thủng hai lỗ lớn bằng đồng bạc cào lưng. Cụ bỏ đôi dép vào giỏ xe của tôi và nói:
– Xuống bến xe mi nhớ nhắc tau lấy đôi dép ni chớ không phải mi đợi tau quên rồi lấy luôn nghe chưa!
Tôi cười bảo:– Cụ yên tâm. Con không mang dép bằng tay nên không lấy đôi dép ni mô!
Lên xe chuyện qua chuyện lại mới biết bà ở Thanh Quýt (Điện Bàn) ra thăm, mang cho con trai đang làm công nhân ở cảng một ang gạo vì nghe nói gạo mua tiêu chuẩn ăn không đủ, bữa nào cũng chỉ lưng bụng mà đi làm. Còn bà thì biết tôi là thầy giáo cấp 3 đi xe thồ thêm ngoài giờ để mua sữa cho con. Nghe hoàn cảnh của nhau, cả hai bà cháu đều im lặng. Một chặp tôi nghe bà ngồi sau chép miệng rồi nói:
– Răng ai cũng khổ hết trơn ri hè!
Đến bến xe Vĩnh Trung, tôi quay lại dặn:– Cụ ngồi im, đừng lo, để con tìm xe Vĩnh Điện cho cụ đi. Bến xe đông sợ cụ tìm không ra.
Tìm được xe đi Vĩnh Điện, tôi phanh xe đạp và nói với cụ:– Cụ nhớ lấy đôi dép. Con chở hộ cụ một đoạn thôi không lấy tiền.
Bà trả lời: – Thằng ni nói nghe được. Tau không trả tiền xe nhưng chờ tau một xí.
Vừa nói cụ vừa lật lớp áo ngoài rồi mở cây ghim túi áo trong và lấy ra 3 đồng, đưa cho tôi.
Tôi nói:– Con nói rồi. Con chở giùm không lấy tiền xe.
Cụ bảo:– Tau cũng không trả tiền xe. Tau cũng không cho mi. Mi có chưn có tay, có sức dài vai rộng mi làm mi ăn. Tiền ni tau gửi mi đem về mua sữa cho cháu tau. Mi không lấy tau la làng là mi móc túi của tau. Răng? Nhận đi con, cho bà vui.
Nói xong cụ nhét tiền vào túi áo của tôi rồi cắp nách đôi dép lào đã mòn gót leo lên xe.
Lần đó tôi đứng khóc một mình giữa bến xe Vĩnh Trung cho đến khi chuyến xe đò rời bến… chạy khuất!
Bà ơi. Bà đang ở cõi nào?
Nay con có thể viết những bài báo nhận nhuận bút. Đứa cháu nhỏ thời đó nay đã là tiến sĩ làm giảng viên của một trường đại học danh tiếng. Nhưng có lẽ, cho đến lúc chia tay cuộc đời này con vẫn còn nợ bà… một hộp sữa!/-
Thí Lê

Tuesday, July 20, 2021

TIẾNG CHỔI TRE...CỦA MẸ....! - Tiểu Mẫn -

Mặc cho mẹ quỳ lạy, van xin bố ở lại với mẹ con tôi. Bố cầm tay mẹ giật mạnh, mẹ ngã ngửa ra đằng sau. Bố quay lại liếc nhìn tôi một cái rồi xách vali đi một mạch ra ngõ...!

Cuối cùng mọi cố gắng của hai mẹ con đều vô vọng, bố vẫn quyết định đi theo người đàn bà mà bố đã qua lại mấy tháng qua...!

Mấy tháng sau mẹ nhận được giấy gọi của tòa án đến giải quyết việc ly hôn do bố gửi đơn. Trời mùa đông lạnh giá, trước hôm mẹ và bố ra tòa mẹ cả đêm không ngủ. Dù đã biết trước sẽ không níu giữ được bố vậy mà mẹ vẫn khóc rất nhiều. Nằm bên cạnh giả vờ nhắm mắt nghe tiếng nấc nghẹn ngào của mẹ lòng tôi đau như thắt. Lúc đó tôi rất muốn vùng dậy tìm đến người đàn ông mà tôi gọi bằng bố để níu kéo về với mẹ nhưng tôi lại không thể làm vậy vì mẹ. Mẹ đã dặn bố đã không còn yêu mẹ thì có sống với mẹ bố mẹ cũng sẽ không hạnh phúc, mẹ đã dặn dù bố có như thế nào thì cũng là người sinh ra con... Đèo tôi đến tòa án trên con đường đá gập ghềnh, ngược gió trong cái rét đầu đông. Mẹ gật đầu khi tòa hỏi mẹ lần cuối có đồng ý để bố mẹ ly hôn, mẹ không cần khoản trợ cấp nào của bố dành cho tôi, không nhận một tài sản chung nào của bố mẹ mà mấy năm qua mẹ vun đắp. Bước ra khỏi cánh cửa kia bố và mẹ sẽ là hai người xa lạ không còn ràng buộc nhau. Nhớ lại lúc bước qua tôi trong tòa án. Tôi đã nắm lấy tay bố kéo lại, bố quay lại nhìn tôi một lúc, rút tay ra và đi thẳng theo hướng người đàn bà đang chờ bên ngoài...

 

Mẹ về xin một mảnh đất nhỏ của ông bà ngoại dựng tạm mái nhà tranh để ở.... Tôi dần lớn lên cần bao khoản chi phí cho học hành. Một mình mẹ làm công nhân lương không đủ cho tôi ăn học. Mẹ xin làm thêm buổi tối việc quét dọn đường phố. Hàng ngày sáng dậy sớm lo cho tôi ăn, chở tôi đi học rồi đến công ty đi làm. Tối về mẹ lo cơm nước dặn dò tôi ở nhà cẩn thận rồi lại vội vàng trên chiếc xe đạp cũ kỹ đi đến để kịp giao ca công việc lao công. Nhìn người mẹ càng ngày càng héo hắt lòng tôi như ngàn vạn lưỡi dao đâm. Tôi xin mẹ cho đi phụ mẹ vào cuối tuần được nghỉ học, ban đầu mẹ không đồng ý nhưng tôi cứ nì nèo nên mẹ đồng ý cho đôi đẩy xe phụ mẹ vào thứ 7 hàng tuần.


Đẩy xe rác đi đằng sau mẹ tôi mới ngộ ra nhiều điều đằng sau công việc của mẹ mà tôi chưa biết...


Mọi người đi đường có vẻ khinh thường những người quét rác như mẹ. Khi đang lúi húi mấy anh thanh niên rú còi trêu mẹ làm mẹ giật thốt mình, có khi chỗ mẹ vừa dọn xong mấy người ngồi trong nhà quăng vù bịch rác ra. Nhiều lúc những người trên xe ô tô cầm những túi bẩn ném vào người mẹ... Mẹ vẫn bỏ qua tất cả để cố gắng kiếm tiền vì tôi...!


Chiếc xe dần nặng bánh như chính gánh nặng cuộc đời mẹ con tôi đang chầm chầm trôi qua mỗi ngày. Cứ cuối tuần tôi lại được nhìn hình bóng mẹ trong đêm với tiếng chổi nghe nặng nề trên đường phố. Ánh đèn điện hắt xuống khiến mẹ càng hiện rõ trong đêm. Cái rét mùa đông hay cái nắng nóng mùa hè cũng không làm mẹ nản chí. Cuộc sống hai mẹ con đỡ cơ cực hơn, nhưng bù lại mẹ nhìn gầy gò, xanh xao hơn trước.


Đợt này được nghỉ hè nên ngày nào tôi cũng được đẩy xe cùng mẹ. Đi qua công viên chợt thấy mẹ đứng khựng lại nhìn gì đó từ phía bên kia đường. Chạy lại gần mẹ tôi thấy bố cùng người đàn bà ấy đang cầm tay cho bé trai tập đi. Nhìn thấy nước mắt mẹ rơi còn sống mũi tôi cay cay. Không hiểu tại sao lúc đó tôi đã chạy sang bên đường, đứng trước mặt bố. Hai bố con tôi nhìn nhau như người xa lạ. Cuối xuống nhìn bé trai đang cầm tay bố lôi đi. Nhìn nó rồi nhìn tôi như hai người ở hai thế giới khác nhau. Nó được ăn mặc đẹp còn tôi đang khoác trên mình bộ quần áo lao động cũ kỹ, bẩn thỉu. Tôi chợt nhận ra vì sao bố bỏ mẹ con tôi đi theo người phụ nữ đó. Không nói câu nào tôi lùi dần, lùi dần và chạy sang nơi mẹ đang đợi. Mẹ ôm lấy tôi vuốt mái tóc dài rối bù của tôi trong bóng tối. Mẹ tiếp tục quét còn tôi quay lại đẩy chiếc xe đi. Tôi không biết bên kia đường bố có nhìn thấy mẹ con tôi không nhưng tôi nhận ta tiếng chổi của mẹ nghe không còn nhanh nhẹn như ban đầu mà nằng nặng. Nhận ra nỗi đau mà mẹ đang kìm nén để ngăn không cho dòng nước mắt chảy ra.


Hôm sau bố tìm đến mẹ con tôi...                  

Bố đưa cho mẹ một chiếc phong bì không biết đựng bao nhiêu tiền trong đó nhưng tôi nghe bố nói với mẹ "cầm lấy mà lo cho con bé, đừng đi làm việc quét dọn nữa người khác nhìn thấy sẽ không hay...". Mẹ nói lại: "Làm sao mà không hay, công việc đó có gì bất chính à. Hay anh xấu hổ khi biết mẹ con tôi làm nghề này...!"


Bố hung dữ ném phong bì xuống bàn định đi. Tôi chạy lại cầm chiếc phong bì chạy theo bố "ông cầm lấy đi, mấy năm qua không có ông mẹ con tôi vẫn sống tốt. Nếu ông cảm thấy xấu hổ vì có đứa con quét rác như tôi thì không cần nhận tôi là con. Từ bây giờ tôi cũng không nhận ông là bố là được rồi đúng không?". Bố tát tôi một cái rất mạnh cùng câu nói "con mất nết". Mẹ chạy ra ôm tôi vào lòng và đuổi bố về. Tay tôi vẫn nắm chặt chiếc phong bì tiền của bố, nước mắt tôi chảy dài và lòng tôi tan nát...!


Dần dần cuộc sống của hai mẹ con ổn định hơn. Từ ngày đó mẹ không còn nhắc về bố trước mặt tôi. Tôi chỉ biết cố gắng học thật giỏi để làm mẹ vui, cũng từ ngày có cái tát đó bố không còn quay lại tìm mẹ con tôi. Mười năm sau tôi đậu đại học. Mẹ vẫn cùng chiếc chổi tre mỗi đêm cho tôi ăn học. Chọn một trường trong tỉnh để được gần mẹ. Mỗi lần ai hỏi tôi về mẹ tôi rất tự hào trả lời mẹ làm công nhân và lao công quét rác. Trên các con đường hình bóng mẹ con tôi vẫn in hằn trong đêm tối. Mẹ bây giờ không còn như trước. Khuôn mặt mẹ đã có nhiều nếp nhăn, làn da đen sạm, mái tóc đã điểm hoa râm. Nhưng với tôi mẹ vẫn là cả một tài sản quý báu mà tôi không thể đánh đổi lại bất kỳ tài sản quý giá nào?

Đã lâu vậy mà đôi khi thức giấc vẫn nghe tiếng nấc của mẹ trong đêm. Tôi đã rất hận bố vì đã phụ bạc lại tình yêu chung thủy mẹ dành cho bố. Hận bố chạy theo giàu sang mà bỏ rơi mẹ con tôi, hận bố vì trong suốt mười mấy năm qua bố không một lần đến thăm mẹ. Cuộc sống đã lâu tôi không còn quan niệm rằng mình có bố, tôi chỉ cần bàn tay mẹ nắm chặt tôi mỗi lúc ốm đau, mỗi kỳ thi khó khăn mà tôi gặp phải. Hôm nay tôi nhận học bổng toàn phần, mẹ mừng mà xin nghỉ hẳn một ngày dành cho tôi. Tôi chọn mua cho hai mẹ con bồ đồ thật đẹp, cầm tay mẹ đi qua những con đường dài mà công việc lao công của mẹ con tôi mỗi tối vẫn đi qua. Mẹ nắm chặt tay tôi như tôi vẫn còn non trẻ. Mẹ bảo mẹ hạnh phúc vì có tôi, mẹ tự hào về tôi, mẹ chỉ cần tôi bên cạnh là đủ. Ôm mẹ vào lòng tôi nhận ra thân hình của mẹ ngày càng nhỏ bé, da thịt mẹ đã vì tôi mà hao tổn quá nhiều. Đã nhiều lần tôi bảo mẹ nghỉ công việc lao công nhưng mẹ không đồng ý. Mẹ bảo cần tiền lo cho tương lai của tôi, rồi lúc tôi lấy chồng, lúc mẹ già nua không còn làm được gì nữa. Những lúc như vậy tôi chỉ biết ôm lấy mẹ mà khóc. Mẹ bảo bây giờ mẹ mà thiếu tiếng chổi tre mẹ sẽ rất buồn. Nó đã trở thành người bạn thân quen của mẹ...


Ngày tôi ra trường mẹ cầm bó hoa đến tận trường tặng tôi. Bạn bè ai cũng lại hỏi thăm mẹ, họ cảm phục mẹ cả đời con gái của mẹ đã hy sinh cho tôi. Đã có nhiều người đến với mẹ nhưng mẹ đều từ chối, mẹ bảo mẹ chỉ cần tôi là đủ. Xin vào một doanh nghiệp nước ngoài công việc cũng ổn định. Đã đến lúc mẹ cần nghỉ ngơi nhưng tính mẹ lo xa nên vẫn hàng đêm với chiếc chổi tre. Hôm đó là một ngày rét mướt mẹ bảo tôi ở nhà mẹ làm nốt hôm nay rồi nghỉ nên tôi không cần phụ mẹ. Tiếng điện thoại reo giọng một người đàn ông lạ nói mẹ bị tai nạn phải nhập viện. Không còn nghe thấy gì tôi lao như bay đến bệnh viện, trên người mẹ máu đỏ thấm ướt bộ quần áo lao công. Bác sĩ thấy tôi lắc đầu bảo tôi vào nói lời cuối với mẹ. Trời đất như sụp đổ. Tôi lao đến ôm mẹ mà khóc thảm thiết. Mẹ nặng nề lấy trong túi áo chùm chìa khóa tủ mẹ luôn mang bên mình. Giọng mẹ thì thào "Con hãy giữ lấy phòng thân, giao lại cái phong bì cho bố con và nói với ông ấy mẹ chưa bao giờ hận ông ấy cả...". Tiếng la của tôi dù có đến tận trời xanh thì mẹ vẫn rời xa tôi vĩnh viễn...!


Đã một tuần mẹ bỏ tôi ra đi. Căn nhà nhỏ bây giờ mình tôi lẻ loi với cuộc sống. Mở chiếc hộp gỗ của mẹ đựng trong chiếc va li bằng sắt đã cũ. Phong bì cách đây gần mười lăm năm bố đưa cho mẹ con tôi chưa có vết bóc cùng chiếc sổ tiết kiệm của mẹ để lại cho tôi. Ôm những thứ đó vào lòng tôi như người chết lặng giữa dòng đời. Thì ra mẹ không hề sử dụng số tiền bố đưa cho hai mẹ con tôi. Mẹ đã cố gắng dùng tiền bằng mồ hôi xương máu của mẹ để nuôi lớn tôi ăn học thành người. Nước mắt thay nhau rơi xuống, chạy đến trước bàn thờ mẹ, tôi quỵ xuống chỉ biết khóc mà gọi hai tiếng "mẹ ơi...". Đêm khuya tĩnh lặng chỉ mình tôi với bóng tối, đêm nào tôi cũng mơ thấy hình bóng mẹ về bên cạnh. Mơ thấy mẹ hát đưa đôi vào giấc ngủ...


Hôm đó tròn một trăm ngày cho mẹ. Bố tôi đến thắp hương. Cũng đã gần mười lăm năm tôi chưa gặp bố. Tôi thấy bố đứng nhìn ảnh thờ mẹ hồi lâu rồi quay sang tôi "Con định thế nào? Con định sống một mình như thế này sao?". Tôi chỉ im lặng nhìn bố như một kẻ thù, tôi hận bố đã đẩy mẹ con tôi đến tình cảnh ngày hôm nay. Tôi im lặng trước bố. Cả buổi chiều đó bố ở lại cùng tôi nhưng một lời tôi cũng không thể nói ra với bố. Lúc bố ra về tôi đã gọi lại "khoan đã mẹ nhờ tôi gửi lại cái này cho ông. Mười lăm năm qua mẹ chưa hề bóc nó. Lúc đó mẹ cầm vì chỉ sợ có lúc mẹ cần đến để lo cho tôi, nhưng rất may tôi vẫn khỏe mạnh đến bây giờ. Số tiền này xin gửi lại cho ông...". Lúc đó tôi thấy bàn tay run run từ bố đưa ra nhận phong bì từ tôi. Bố muốn nói gì đó nhưng không thể nói nên lời. Bố quay đi. "Mẹ còn dặn tôi nói lại với ông rằng mẹ chưa bao giờ hận ông. Mẹ thật ngốc ngếch. Mẹ không hận ông, mẹ rất yêu ông. Tôi vẫn thường nghe thấy tiếng mẹ khóc nghẹn trong đêm vì ông. Còn tôi, tôi hận ông đến tận xương tủy. Tôi không thể tha thứ cho ông. Nhưng dù sao cũng cảm ơn ông vì đã đẩy mẹ con tôi vào tình cảnh này. Đẩy tôi thành đứa con gái không cha, không mẹ. Cảm ơn ông đã cho mẹ con tôi nghị lực sống đến ngày hôm nay..." Chẳng hiểu sao lúc đó tôi hét lên với bố dù rất muốn được chạy lại ôm bố làm điểm tựa cho nỗi đau lớn tôi vừa trải qua. Bố không quay lại, bố cúi đầu im lặng và bước đi loạng choạng trong bóng chiều tà.


Hôm nay là sinh nhật tôi. Mọi năm mẹ đều nghỉ một ngày làm dành cho tôi nhân ngày sinh nhật. Dù không có quà nhưng những bữa ăn ngon trong ngày tôi sinh ra làm tôi ấm áp. Một mình lang thang dọc con đường tôi nghe thấy tiếng chổi đêm của cô lao công đang dọn dẹp đường phố trước mặt. Hình ảnh mẹ cùng tiếng chổi tre vang vọng trong đêm hiện về trong tôi, nước mắt không thể kiềm chế mà rơi dọc con đường. Từ ngày mẹ mất đêm nào tôi cũng đi dọc những con phố để tìm lại hình bóng mẹ. Nỗi đau quá lớn làm tôi mất đi phương hướng trong cuộc sống. Bạn bè, đồng nghiệp động viên tôi nên kìm nén lại để lo cho tương lai phía trước. Nhưng tôi hàng đêm vẫn theo đuổi tiếng chổi đêm để được tìm lại hình dáng người mẹ mà cả đời tôi yêu mến, cảm phục...

 

Năm năm sau tôi có gia đình riêng với chồng và con gái gần một tuổi. Người chồng yêu thương hết mực và con gái ngoan hiền có lẽ chính là món quà mẹ ban tặng cho tôi. Hàng năm vào ngày sinh nhật tôi. Tôi không cần bánh sinh nhật, không cần thổi nến mà chỉ cần cùng nắm tay chồng và con đi dạo trên những con phố nơi tuổi thơ tôi từng gắn bó với tiếng chổi của mẹ....!