Wednesday, July 31, 2013

Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh Kỳ 7 / San Jose California July 28th

Vụ Án Kỳ Thị Màu Da

...Obama chưa hiểu rõ vấn đề đã mau mắn lên tiếng ca tụng anh da đen...
 Một đêm tháng Hai năm 2012, một thanh niên da đen đi về nhà người quen anh đang tạm trú, bị một thanh niên da trắng gốc Nam Mỹ là nhân viên an ninh khu vực nghi ngờ, theo dõi. Mấy phút sau, hai anh đánh nhau, anh da trắng rút súng ra bắn chết anh da đen tại chỗ. Hơn một năm sau, vụ án ra tòa và anh nhân viên an ninh được tuyên bố trắng án.

Vụ án gây sôi nổi dư luận Mỹ. Dĩ nhiên khối dân da đen phản đối cho đây là bằng chứng công lý Mỹ vẫn kỳ thị da đen, da trắng giết da đen không có tội. Họ cũng tố cáo anh Zimmerman kỳ thị vì thấy anh Martin là da đen nên nghi ngờ là kẻ gian và theo dõi, chứ nếu anh Martin là da trắng, thì anh Zimmerman đã không theo dõi. Khối dân da trắng hoan hô công lý đã được thi hành vì anh nhân viên an ninh chỉ tự bảo vệ.

 Một cách tổng quát mặc dù lằn ranh không rõ ràng lắm, phe Dân Chủ cấp tiến ủng hộ khối da đen, phe bảo thủ da trắng ủng hộ anh gốc Nam Mỹ. Vấn đề thật ra không giản dị như vậy. Không giản dị ở điểm có rất nhiều khúc mắc trong nội tình câu chuyện, và không giản dị vì bối cảnh xã hội và chính trị Mỹ.
 Trước hết, ta thử nhìn vào câu chuyện. Tại thành phố Sanford, gần Orlando, miền trung tiểu bang Florida, một thanh niên da đen tên là Trayvon Martin, 17 tuổi, đi chơi về khuya, anh mặc áo lạnh có mũ chụp lên đầu, che kín đầu cổ, gọi là hooded sweatshirt. Loại áo thanh niên da đen ưa chuộng. Một thanh niên da trắng gốc Peru tên là George Zimmerman, 29 tuổi, là nhân viên tình nguyện giữ an ninh cho khu phố, có giấy phép mang súng, đi tuần bằng xe hơi.

Anh Zimmerman nghi ngờ anh Martin là thành phần bất hảo, gọi điện về tổng đài cảnh sát, tổng đài khuyên anh nên theo dõi, nhưng ngồi trong xe thôi. Anh Zimmerman theo dõi một lúc, sốt ruột, xuống xe đi theo anh Martin. Một lát sau, hai bên đụng độ, đánh nhau. Dân trong khu phố nghe có tiếng la cầu cứu, rồi súng nổ. Cảnh sát được gọi, đến nơi thấy anh Martin đã bị bắn chết, and Zimmerman thì chẩy máu mũi và có nhiều vết thương sau đầu, chảy máu và xưng to. Zimmerman khai khi đang theo dõi thì bị anh Martin quay lại hỏi tại sao theo dõi. Lời qua tiếng lại, anh Martin xông đánh anh Zimmerman, vật xuống đường đấm liên tục vào mũi và đập đầu xuống lề đường. Zimmerman kêu cứu nhưng không ai đến cứu, bất đắc dĩ rút súng ra tự vệ, bắn một phát vào ngực anh Martin chết tại chỗ. Cảnh sát lấy cung, không bắt anh Zimmerman, vì nhận định đây là trường hợp tự vệ chính đáng, cho về và tiếp tục điều tra.

 Dư luận báo chí làm to chuyện, tố cáo cảnh sát kỳ thị, các chính khách cấp tiến, Dân Chủ và da đen tiếp tay khua chiêng gõ trống làm rùm beng. Trước áp lực của dư luận, cảnh sát trưởng Sanford bị cất chức và anh cảnh sát điều tra câu chuyện bị thuyên chuyển. Tân cảnh sát trưởng mau mắn ra lệnh bắt giam anh Zimmerman và truy tố ra tòa. Anh Trayvon Martin được truyền thông ca tụng, gọi là sinh viên gương mẫu. TT Obama dù chưa biết chuyện gì xẩy ra, cũng nhẩy vào cuộc, ca tụng anh Martin và tuyên bố nếu tôi có con trai, tôi muốn nó sẽ như anh Martin.

 Sự thật, anh Martin, là dân cư ngụ ở Miami, đi theo ông bố lên Sanford thăm bà hôn thê mới của ông bố. Ở Miami, đã bị đuổi học ba lần, anh đi Sanford chơi với bố vì lúc đó đã bị đuổi, không đi học. Mấy lần bị cảnh sát bắt, có lần khám trong người thấy có vật dụng mà cảnh sát cho là đồ nghề để đi ăn trộm, có dụng cụ hút ma túy, và có nữ trang đắt tiền mà anh khai là do người quen tặng. Anh George Zimmerman làm nghề bán bảo hiểm trong khi theo học đại học luật, được trường coi như là sinh viên tốt, có điểm cao. Làm nhân viên an ninh buổi tối. Nhưng chuyện cá nhân cũng không phải hoàn hảo. Anh từng đánh nhau với cảnh sát, bị vợ khởi tố tội đánh vợ. Anh có bố gốc Đức, mẹ gốc người Peru da đen.

Có nghiã là anh Zimmermann có ba dòng máu, da trắng, da nâu và da đen, nhưng truyền thông mô tả là “da trắng” không nhắc đến gốc da đen và da nâu. Ra tòa, bồi thẩm đoàn gồm sáu phụ nữ, trong đó có một bà gốc Nam Mỹ, năm bà da trắng. Theo các chuyên gia về luật, công tố viện đã làm nhiều lỗi lầm, truy tố anh Zimmerman về tội cố sát (second-degree murder), mặc dù không có bằng chứng gì. Công tố viên cố gắng mô tả anh Zimmerman như một người hung hiểm, nặng thành kiến kỳ thị da đen, chủ ý muốn giết anh Martin vì cái tội là da đen. Trong khi đó lại không đưa ra được một bằng chứng cụ thể nào.

 Trong suốt phiên xử, các chuyên gia đã nhận thấy có nhiều hy vọng anh Zimmerman sẽ trắng án vì những luận cứ buộc tội quá yếu. Bà quan tòa, là người thuộc đảng Dân Chủ, có thành tích là một quan tòa thân thiện với quan điểm cấp tiến, cũng nhận thấy điểm này, nên sau khi hai bên công tố và luật sư bào chữa đã trình bày xong, trước khi bồi thẩm đoàn vào phòng kín luận tội, đã lên tiếng nhắc nhở bồi thẩm đoàn có thể cứu xét trường hợp ngộ sát (manslaughter), chứ không bị giới hạn vào việc luận tội cố sát.
 Nói cách khác, bà thấy tội cố sát không vững, nên tìm cách nhắc khéo bồi thẩm đoàn kết tội ngộ sát cũng được. Một hành động nói lên ý định muốn tìm cách kết tội anh Zimmerman. Bồi thẩm đoàn trực diện với yếu tố mới, đã phải yêu cầu bà quan tòa định nghiã rõ ràng thế nào là ngộ sát. Bồi thẩm đoàn sau 16 tiếng đồng hồ thảo luận, đã kết luận anh Zimmerman vô tội, không cố sát mà cũng không ngộ sát.

Theo luật Mỹ, chỉ có tội khi nào có chứng cớ rõ rệt, không còn một chút nghi ngờ nào nữa (beyond any reasonable doubt). Một bà trong bồi thẩm đoàn sau đó đã lên truyền hình tiết lộ một số dữ kiện. Theo bà, thì tất cả các bằng chứng hai bên trình bày đã đưa bồi thẩm đoàn đến kết luận anh Zimmerman đã sai lầm khi xuống xe, đi bộ theo anh Martin, nhưng anh Martin là người đã gây sự đầu tiên, đã đánh anh Zimmerman, đã đập đầu anh này xuống lề đường, đe dọa tính mạng của anh này, và anh Zimmerman là người đã lớn tiếng kêu cứu mà không có ai đáp ứng hết. Theo định nghiã của luật, trường hợp anh Zimmerman là tự vệ chính đáng, mặc dù anh có súng trong khi anh Martin tay không.

Theo lý luận của bồi thẩm đoàn, bị đập đầu xuống lề đường có thể đe dọa tính mạng, bị chết, do đó anh Zimmerman có quyền tự vệ bằng mọi phương tiện để tránh bị đánh đến chết, không phải là ngộ sát hay cố sát. Một chuyên gia cũng xác nhận vết đạn bị bắn từ cách khoảng vài phân, đi xuyên ngực từ dưới lên trên, chứng tỏ anh Zimmerman rút súng bắn từ dưới lên trên khi anh đang bị anh Martin đè dưới đường.
Câu chuyện đến đây coi như chấm dứt trên phương diện luật pháp, nhưng dư âm xã hội chính trị còn cực kỳ nặng nề, chưa kể đến tính mạng anh Zimmerman. Trước toà, luật sư của anh Zimmerman đã khẳng định bất kể phán quyết như thế nào thì số phận anh Zimmerman cũng không khá hơn. Hoặc là đi tù, hoặc là tính mạng sẽ bị đe dọa suốt đời, hay ít nhất cũng cả chục năm nữa.

Ngay sau khi tòa có quyết định, anh Zimmerman và cả gia đình đã phải đi trốn biệt tăm, không ai biết đang ở đâu, trừ luật sư và cảnh sát có trách nhiệm bảo vệ gia đình. Dân da đen bất mãn ra mặt, xách động bởi hàng loạt chính khách da đen như các mục sư Jesse Jackson và Al Sharpton, nổi lên biểu tình trên một số thành phố lớn, phần lớn trong ôn hoà, nhưng cũng vài nơi có bạo động.
Phản ứng này không có gì đáng ngạc nhiên, vì đã xẩy ra rất nhiều lần ở Mỹ trong quá khứ. Mỗi lần da trắng da đen đụng độ với nhau là luôn luôn có bạo động, nếu nạn nhân là dân da đen trong khi thủ phạm là dân da trắng và được tòa không kết tội. Để xoa dịu dư luận, bộ Tư Pháp xác nhận sẽ điều tra xem toà án và anh Zimmerman có “vi phạm nhân quyền” của anh Martin hay không. Ở đây, vấn đề kỳ thị trắng đen đã được chứng minh vẫn còn là một cái gai to lớn trong xã hội Mỹ.

 Khi TT Obama tranh cử lần đầu, chính ông, với sự phụ họa của truyền thông cấp tiến, trong sự kỳ vọng của tất cả dân Mỹ, trắng cũng như đen, đã khẳng định việc bầu cho ông sẽ mang nước Mỹ vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của “hậu kỳ thị” tức là không còn kỳ thị nữa. Ngay từ hồi đó, kẻ viết này đã khẳng định đây chỉ là suy nghĩ trong hy vọng hão huyền, một suy nghĩ đến từ sự ước mơ chứ không phải đến từ nhận định thực tế, mà người Mỹ gọi là wishful thinking, nếu không phải là tuyên truyền để được đắc cử.

Trái lại, việc TT Obama đắc cử sẽ chỉ làm trầm trọng hơn vấn đề kỳ thị màu da. Làm sao vấn đề kỳ thị màu da giảm bớt được nếu tiêu chuẩn bầu cử quan trọng nhất chính là màu da. Vấn đề tự nó đã là một mâu thuẫn vĩ đại. Ngay cả TT Obama, từ sau ngày bầu cử, đã mau chóng biến thành tổng thống tạo mâu thuẫn nhiều nhất lịch sử cận đại Mỹ. Trong vấn đề kỳ thị màu da, ông không những đã chẳng làm gì để xoá bỏ lằn ranh trắng đen, mà trái lại đã cố tình đứng hẳn về phiá dân da đen, tự cho mình là dân da đen trong khi thực tế ông là người có hai dòng máu. Chính sách xã hội của ông là một chính sách nâng đỡ dân nghèo, nới rộng tiêu chuẩn an sinh xã hội để hàng triệu người được hưởng đủ mọi quyền lợi như phiếu thực phẩm, trợ cấp medicaid, trợ cấp thất nghiệp, ...

Con số người lãnh phiếu thực phẩm và tiền thất nghiệp đã lên đến những kỷ lục chưa từng thấy trong lịch sử, trong khi dân nhà giàu và trung lưu với lợi tức từ $200.000 trở lên, suốt ngày bị hăm dọa tăng thuế, và bị tô vẽ như những kẻ thù của nhân loại, là thành phần chỉ biết bóc lột dân nghèo. Vô hình chung, cuộc đấu tranh giai cấp tân thời mà TT Obama đã khơi mào cũng mang nặng âm hưởng màu da khi đại đa số dân nghèo được giúp đỡ là dân da màu trong khi đại đa số dân trung lưu và thượng lưu bị TT Obama đe dọa lại là dân da trắng.

 Tạo ra cảm tưởng TT Obama áp dụng một chính sách kỳ thị ngược, cũng như đưa đến tình trạng bất mãn lớn trong khối da trắng, đã là một trong những lý do khai sinh ra các phong trào Tea Party. Không những chẳng hoá giải gì vấn đề kỳ thị trắng đen, tệ hơn vậy, trong vụ Trayvon Martin này, TT Obama chưa hiểu rõ vấn đề đã mau mắn lên tiếng ca tụng anh da đen. Làm người ta nhớ lại vụ trước đây có ông giáo sư da đen, Henry Gates, bỏ quên chià khoá nhà, phải cậy cửa vào nhà mình.
 Bị hàng xóm báo, cảnh sát da trắng chạy đến, hỏi giấy tờ chứng minh ông giáo sư là chủ nhà, thì ông này kháng cự, còn hống hách hỏi anh cảnh sát có biết ông ta là bạn quen lớn với TT Obama không. Ông giáo sư bị cảnh sát còng tay bắt về bót.
 Khi vừa nghe qua câu chuyện, chưa biết trắng đen ra sao, TT Obama đã mau mắn sỉ vả cảnh sát Mỹ trắng là “ngu xuẩn” ngay. Sau đó thấy mình hố nặng, bèn tổ chức mời ông giáo sư và anh cảnh sát đến Tòa Bạch Ốc uống bia làm lành, khoả lấp lời nói hớ chưa kịp tính toán của mình.

 Sau khi anh Zimmerman được tuyên bố trắng án, TT Obama lại lên tiếng bênh vực anh Martin và nói anh Martin “có thể là tôi 35 năm trước”. Trong cả hai trường hợp, ông tổng thống của đại đoàn kết toàn dân đã rõ ràng là đổ dầu vào lửa. Tệ hại hơn nữa, trong cả hai trường hợp, tổng thống đều đứng sai vị trí, bênh vực phe có lỗi. Ông giáo sư cậy cửa vào nhà, không chịu xuất trình giấy tờ còn mang sự quen biết với tổng thống ra dọa rõ ràng là bên có lỗi. Còn trong vụ anh Martin thì việc toà phán quyết anh Zimmerman không làm gì vi phạm luật, chỉ tự vệ chống những đòn tấn công của anh Martin, rõ ràng anh da đen Trayvon Martin không hoàn toàn oan ức.

 Chính sách xã hội và hai sự kiện trên chứng tỏ dường như chính TT Obama là người vẫn có thành kiến rất lớn trong vấn đề kỳ thị trắng đen, gọi là kỳ thị ngược, tổng thống da đen kỳ thị dân da trắng. Vụ án này cũng đặt TT Obama trong một thế kẹt: cả hai khối dân da đen và dân gốc Nam Mỹ đều là hai khối cử tri then chốt của ông và đảng Dân Chủ. Bênh bên này sẽ tạo khó với bên kia. Hiển nhiên ông đã chọn đứng về phiá dân cùng màu da với ông. Trong vụ anh Zimmerman này, truyền thông một lần nữa đã để lộ nguyên hình thành kiến của mình.

Ngay khi câu chuyện xẩy ra, nhiều báo lớn và đài truyền hình đã nhanh nhảu chạy tin “and da trắng bắn chết anh da đen”. Khi biết được anh Zimmerman không phải da trắng mà là dân gốc Nam Mỹ có máu đen từ mẹ, truyền thông sửa lại chút đỉnh, gọi anh Zimmerman là “white Hispanic”, vẫn giữ chữ “white” mà không đề cập đến phần đen trong máu anh này. Đài NBC, là đài truyền hình cấp tiến và thân chính quyền Obama nhất, đã cắt xén câu nói của anh Zimmerman, để chụp cái mũ kỳ thị, có thành kiến với dân da đen lên đầu anh này.

 Đài này trích câu nói của anh Zimmerman trên điện thoại gọi cảnh sát khi mô tả anh Martin là “anh này coi bộ đáng nghi ngờ, anh ta là đen”. Làm như thể theo anh Zimmerman, đen là đáng nghi ngờ. Sự thật, đây là hai câu chắp làm một. Anh Zimmerman mô tả anh Martin là đáng nghi ngờ. Sau đó được cảnh sát hỏi anh đó là người gì, “trắng, đen, hay gốc Nam Mỹ?”, thì anh Zimmerman thành thật khai “dường như đen”. Hai câu trả lời nhập làm một đã mang ý nghĩa khác hẳn những lời nói của anh Zimmerman.

Đài NBC sau đó đã xin lỗi, nhưng các luật sư của anh Zimmerman đã đệ đơn thưa NBC. Đài ABC thì loan tin anh Zimmerman không có thương tích gì hết. Sau đó, cũng lại phải xin lỗi vì những hình ảnh máu me của anh Zimmerman được phổ biến rộng rãi, không chối cãi được. CNN loan tin anh Zimmerman gọi anh Martin là “coon”, là một danh từ có tính sỉ nhục để chỉ dân da đen. Rồi CNN cũng phải xin lỗi đã loan tin sai vì không có bằng chứng gì về chuyện này. Nói tóm lại, truyền thông cấp tiến đã công khai đứng về phe anh da đen cho “phải đạo chính trị”, loan tin thất thiệt lung tung có lợi cho anh này. Sau đó, dù cải chính hay xin lỗi thì cũng đã tạo thành kiến trong dư luận quần chúng rồi. Nói chung, nếu theo dõi báo và truyền hình, thì anh nhân viên an ninh da trắng đã bắn chết một sinh viên da đen chỉ vì lý do ghét da đen, vậy mà lại được trắng án. Bảo sao dân da đen không bất mãn được?

 Vụ án Zimmerman / Martin chỉ xác nhận một điều: việc bầu một người da đen làm tổng thống đã không mang nước Mỹ vào kỷ nguyên “hậu kỳ thị”, trái lại, kỳ thị da màu từ cả hai phiá vẫn còn là một vấn nạn lớn của Mỹ. (21-07-13)

Vũ Linh

Tuesday, July 30, 2013

Tri Ân TPB/QLVNCH 29 tháng 7 năm 2013

Danh Xưng Phật Giáo

CÁCH XƯNG HÔ TRONG PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Thích Chân Tuệ

Trong khóa nghiên tu an cư mùa hạ năm 2005, tại Tổ đình Từ Quang Montréal, Canada, các thắc mắc sau đây được nêu lên trong phần tham luận:
1) Khi nào gọi các vị xuất gia bằng Thầy, khi nào gọi bằng Đại Đức, Thượng Tọa hay Hòa Thượng?
2) Khi nào gọi các vị nữ xuất gia bằng Ni cô, Sư cô, Ni sư hay Sư Bà? Có bao giờ gọi là Đại Đức Ni, Thượng Tọa Ni hay Hòa Thượng Ni chăng?
3) Khi ông bà cha mẹ gọi một vị sư là Thầy (hay Sư phụ), người con hay cháu phải gọi là Sư ông, hay cũng gọi là Thầy?  Như vậy con cháu bất kính, coi như ngang hàng với bậc bề trên trong gia đình chăng?
4) Một vị xuất gia còn ít tuổi đời (dưới 30 chẳng hạn) có thể nào gọi một vị tại gia nhiều tuổi (trên 70 chẳng hạn) bằng “con” được chăng, dù rằng vị tại gia cao niên đó xưng là “con” với vị xuất gia? 
5) Sau khi xuất gia, một vị tăng hay ni xưng hô như thế nào với người thân trong gia đình?

 

Trước khi đi vào phần giải đáp các thắc mắc trên, chúng ta cần thông qua các điểm sau đây:
1) Chư Tổ có dạy: “Phật pháp tại thế gian”.  Nghĩa là: việc đạo không thể tách rời việc đời.  Nói một cách khác, đạo ở tại đời, người nào cũng đi từ đời vào đạo, nương đời để ngộ đạo, tu tập để độ người, hành đạo để giúp đời.  Chư Tổ cũng có dạy: “Hằng thuận chúng sanh”.  Nghĩa là: nếu phát tâm tu theo Phật, dù tại gia hay xuất gia, đều nên luôn luôn thuận theo việc dùng tứ nhiếp pháp (bố thí, ái ngữ, lợi hành và đồng sự) để đem an lạc cho chúng sanh, tức là cho mọi người trong đời, bao gồm những người đang tu trong đạo.
2) Từ đó, chúng ta chia cách xưng hô trong đạo Phật ra hai trường hợp: Một là, cách xưng hô chung trước đại chúng nhiều người, có tính cách chính thức, trong các buổi lễ, cũng như trên các văn thư, giấy tờ hành chánh.  Hai là, cách xưng hô riêng giữa hai người, tại gia hay xuất gia, mà thôi.  Người chưa rõ cách xưng hô trong đạo không nhứt thiết là người chưa hiểu đạo, chớ nên kết luận như vậy.  Cho nên, việc tìm hiểu và giải thích là bổn phận của mọi người, dù tại gia hay xuất gia.
3) Có hai loại tuổi được đề cập đến, đó là: tuổi đời và tuổi đạo.  Tuổi đời là tuổi tính theo đời, kể từ năm sinh ra.  Tuổi đạo là tuổi thường được nhiều người tính từ ngày xuất gia tu đạo. Nhưng đúng ra, tuổi đạo phải được tính từ năm thụ cụ túc giới và hằng năm phải tùng hạ tu học theo chúng và đạt tiêu chuẩn, mỗi năm như vậy được tính một tuổi hạ. Nghĩa là tuổi đạo còn được gọi là tuổi hạ (hay hạ lạp).  Trong nhà đạo, tất cả mọi việc, kể cả cách xưng hô, chỉ tính tuổi đạo, bất luận tuổi đời.  Ở đây không bàn đến việc những vị chạy ra chạy vào, quá trình tu tập trong đạo không liên tục.
Bây giờ, chúng ta bắt đầu từ việc một người tuổi đời dưới 20 phát tâm xuất gia, hay do gia đình đem gửi gắm vào cửa chùa, thường được gọi là chú tiểu, hay điệu. Đó là các vị đồng chơn nhập đạo.  Tùy theo số tuổi, vị này được giao việc làm trong chùa và học tập kinh kệ, nghi lễ.  Thời gian sau, vị này được thụ 10 giới, gọi là Sa di (nam) hay Sa di ni (nữ), hoặc Chú (nam) hay Ni cô (nữ). Khi tuổi đời dưới 14, vị này được giao việc đuổi các con quạ quấy rầy khu vực tu thiền định của các vị tu sĩ lớn tuổi hơn, cho nên gọi là “khu ô sa di” (sa di đuổi quạ).
Đến năm được ít nhất là 20 tuổi đời, và chứng tỏ khả năng tu học, đủ điều kiện về tu tánh cũng như tu tướng, vị này được thụ giới cụ túc, tức là 250 giới tỳ kheo (nam) hay 348 giới tỳ kheo ni (nữ) và được gọi là Thầy (nam) hay Sư cô (nữ).  Trên giấy tờ thì ghi là Tỳ Kheo (nam) hay Tỳ Kheo Ni (nữ) trước pháp danh của vị xuất gia.  Ở đây xin nhắc thêm, trước khi thụ giới tỳ kheo ni, vị sa di ni (hoặc thiếu nữ 18 tuổi đời xuất gia và chưa thụ giới sa di ni) được thụ 6 chúng học giới trong thời gian 2 năm, được gọi là Thức xoa ma na ni. Cấp này chỉ có bên ni, bên tăng không có.  Tuy nhiên trong tạng luật, có đến 100 chúng học giới chung cho cả tăng và ni.  Cũng cần nói thêm, danh từ tỳ kheo có nơi còn gọi là tỷ kheo, hay tỳ khưu, tỷ khưu. Bên nam tông, tỷ kheo có 227 giới, tỷ kheo ni có 311 giới.  
Giới cụ túc (tỳ kheo hay tỳ kheo ni) là giới đầy đủ, viên mãn, cao nhất trong đạo Phật để từng vị xuất gia tu tập cho đến lúc mãn đời (thường gọi là viên tịch), không phải thụ giới nào cao hơn.  Việc thụ bồ tát giới (tại gia hay xuất gia) là do sự phát tâm riêng của từng vị theo bắc tông, nam tông không có giới này.  Ở đây, xin nói thêm rằng: Bắc tông (hay bắc truyền) là danh từ chỉ các tông phái tu theo sự truyền thừa về phương bắc của xứ Ấn Độ, qua các xứ Tây Tạng, Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật bổn và Việt Nam. Nam tông (hay nam truyền, nguyên thủy) là danh từ chỉ các tông phái tu theo sự truyền thừa về phương nam của xứ Ấn Độ, qua các xứ Tích Lan, Thái Lan, Miến Điện, Lào, Cao Miên và Việt Nam.
Trong lúc hành đạo, tức là làm việc đạo trong đời, đem đạo độ đời, nói chung sự sinh hoạt của Phật giáo cần phải thiết lập tôn ti trật tự (cấp bậc) có danh xưng như sau theo hiến chương của giáo hội Phật giáo:
1) Năm 20 tuổi đời, vị xuất gia thụ giới tỳ kheo được gọi là Đại Đức.
2) Năm 40 tuổi đời, vị tỳ kheo được 20 tuổi đạo, được gọi là Thượng Tọa.
3) Năm 60 tuổi đời, vị tỳ kheo được 40 tuổi đạo, được gọi là Hòa Thượng.
Còn đối với bên nữ (ni bộ):
4) Năm 20 tuổi đời, vị nữ xuất gia thụ giới tỳ kheo ni được gọi là Sư cô (hiện nay ở Canada, có giáo hội gọi các vị tỳ kheo ni này là Đại Đức).
5) Năm 40 tuổi đời, vị tỳ kheo ni được 20 tuổi đạo, được gọi là Ni sư.
6) Năm 60 tuổi đời, vị tỳ kheo ni được 40 tuổi đạo, được gọi là Sư bà (bây giờ gọi là Ni trưởng).
Đó là các danh xưng chính thức theo tuổi đời và tuổi đạo (hạ lạp), được dùng trong việc điều hành Phật sự, trong hệ thống tổ chức của giáo hội Phật giáo, không được lạm dụng tự xưng, tự phong, tự thăng cấp, mà phải được xét duyệt và chấp thuận bởi một hội đồng giáo phẩm có thẩm quyền, và được cấp giáo chỉ tấn phong, nhân dịp đại lễ hay đại hội Phật giáo, trong các giới đàn, hay trong mùa an cư kết hạ hằng năm. 
Như trên, chúng ta có thể hiểu rằng: Sư cô nghĩa là Đại đức bên ni bộ.  Ni sư nghĩa là Thượng tọa bên ni bộ.  Sư bà (hay Ni trưởng) nghĩa là Hòa thượng bên ni bộ.  Bởi vậy cho nên, các buổi lễ hay văn thư chính thức, thường nêu lên là: “Kính bạch chư tôn Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức, Tăng Ni”, chính là nghĩa đó vậy.  Tuy vậy, trên thực tế, chưa thấy có nơi nào chính thức dùng các danh xưng: Đại đức ni, Thượng tọa ni, hay Hòa thượng ni.  Nếu có nơi nào đã dùng, chỉ là cục bộ, chưa chính thức phổ biến, nghe không quen tai nhưng không phải là sai.
Đối với các bậc Hòa Thượng mang trọng trách điều hành các cơ sở giáo hội Phật giáo trung ương cũng như địa phương, hay các Đại tùng lâm, Phật học viện, Tu viện, thường là các vị trên 80 tuổi đời, được tôn xưng là Đại Lão Hòa Thượng hay Trưởng Lão Hòa Thượng.  Các vị thuộc hàng giáo phẩm này thường được cung thỉnh vào các hội đồng trưởng lão, hoặc hội đồng chứng minh tối cao của các giáo hội Phật giáo.  Tuy nhiên, khi ký các thông bạch, văn thư chính thức, chư tôn đức vẫn xưng đơn giản là Tỳ kheo, hay Sa môn (có nghĩa là: thầy tu).


Đến đây, chúng ta nói về cách xưng hô giữa các vị xuất gia với nhau và giữa các vị cư sĩ Phật tử tại gia và tu sĩ xuất gia trong đạo Phật.
1) Giữa các vị xuất gia, thường xưng con (hay xưng pháp danh, pháp hiệu) và gọi vị kia là Thầy (hoặc gọi cấp bậc hay chức vụ vị đó đảm trách).  Bên tăng cũng như bên ni, đều gọi sư phụ bằng Thầy, (hay Sư phụ, Tôn sư, Ân sư).  Các vị xuất gia cùng tông môn, cùng sư phụ, thường gọi nhau là Sư huynh, Sư đệ, Sư tỷ, Sư muội, và gọi các vị ngang vai vế với Sư phụ là Sư thúc, Sư bá.  Có nơi dịch ra tiếng Việt, gọi nhau bằng Sư anh, Sư chị, Sư em.  Ngoài đời có các danh xưng: bạn hữu, hiền hữu, hội hữu, chiến hữu. Trong đạo Phật có các danh xưng: đạo hữu (bạn cùng theo đạo), pháp hữu (bạn cùng tu theo giáo pháp).  Các danh xưng: tín hữu (bạn cùng tín ngưỡng, cùng đức tin), tâm hữu (bạn cùng tâm, đồng lòng) không thấy được dùng trong đạo Phật.
2) Khi tiếp xúc với chư tăng ni, quí vị cư sĩ Phật tử tại gia (kể cả thân quyến của chư tăng ni) thường đơn giản gọi bằng Thầy, hay Cô, (nếu như không biết rõ hay không muốn gọi phẩm trật của vị tăng ni có tính cách xã giao), và thường xưng là con (trong tinh thần Phật pháp, người thụ ít giới bổn tôn kính người thụ nhiều giới bổn hơn, chứ không phải tính tuổi tác người con theo nghĩa thế gian) để tỏ lòng khiêm cung, kính Phật trọng tăng, cố gắng tu tập, dẹp bỏ bản ngã, dẹp bỏ tự ái, cống cao ngã mạn, mong đạt trạng thái: niết bàn vô ngã, theo lời Phật dạy.  Có những vị cao tuổi xưng tôi hay chúng tôi với vị tăng ni trẻ để tránh ngại ngùng cho cả hai bên. Khi qui y Tam bảo thụ ngũ giới (tam qui ngũ giới), mỗi vị cư sĩ Phật Tử tại gia có một vị Thầy (Tăng bảo) truyền giới cho mình.  Vị ấy được gọi là Thầy Bổn sư.  Cả gia đình có thể cùng chung một vị Thầy Bổn sư, tất cả các thế hệ cùng gọi vị ấy bằng Thầy.  Theo giáo phái khất sĩ, nam tu sĩ được gọi chung là Sư và nữ tu sĩ được gọi chung là Ni.  Còn nam tông chỉ có Sư, không có hay chưa có Ni.  Việc tâng bốc, xưng hô không đúng phẩm vị của tăng ni,  xưng hô khác biệt trước mặt và sau lưng, tất cả đều nên tránh, bởi vì không ích lợi cho việc tu tâm dưỡng tánh. 
3) Khi tiếp xúc với quí vị cư sĩ Phật tử tại gia, kể cả người thân trong gia quyến, chư tăng ni thường xưng là tôi hay chúng tôi (hay xưng pháp danh, pháp hiệu, hoặc bần tăng, bần ni), cũng có khi chư tăng ni xưng là Thầy, hay Cô, và gọi quí vị là đạo hữu, hay quí đạo hữu.  Cũng có khi chư tăng ni gọi quí vị tại gia bằng pháp danh, có kèm theo (hay không kèm theo) tiếng xưng hô của thế gian.  Cũng có khi chư tăng ni gọi quí vị tại gia là “quí Phật tử”.  Chỗ này không sai, nhưng có chút không ổn, bởi vì xuất gia hay tại gia đều cùng là Phật tử, chứ không riêng tại gia là Phật tử mà thôi.  Việc một Phật tử xuất gia (tăng ni) ít tuổi gọi một Phật tử tại gia nhiều tuổi bằng “con” thực là không thích đáng, không nên.  Không nên gọi như vậy, tránh sự tổn đức.  Không nên bất bình, khi nghe như vậy, tránh bị  loạn tâm.  Biết rằng mọi chuyện trên đời: ngôi thứ, cấp bậc, đều có thể thay đổi, nhưng giá trị tuổi đời không đổi, cứ theo thời gian tăng lên.  Theo truyền thống đông phương, tuổi tác (tuổi đời) rất được kính trọng trong xã hội, dù tại gia hay xuất gia.
4) Trong các trường hợp tiếp xúc riêng, tùy thuận theo đời, không có tính cách chính thức, không có tính cách thuyết giảng, chư tăng ni có thể gọi các vị cư sĩ Phật tử tại gia, kể cả người thân trong gia quyến, một cách trân trọng, tùy theo tuổi tác, quan hệ, như cách xưng hô xã giao người đời thường dùng hằng ngày.  Danh xưng Cư sĩ hay Nữ Cư sĩ thường dùng cho quí Phật tử tại gia, qui y Tam bảo, thụ 5 giới, phát tâm tu tập và góp phần hoằng pháp.  Còn được gọi là Ưu bà tắc (Thiện nam, Cận sự nam) hay Ưu bà di  (Tín nữ, Cận sự nữ).
5) Chúng ta thử bàn qua một chút về ý nghĩa của tiếng xưng “con” trong đạo Phật qua hình ảnh của ngài La Hầu La.  Ngài là con của đức Phật theo cả hai nghĩa: đời và đạo.  Ngài sớm được tu tập trong giới pháp, công phu và thiền định khi tuổi đời hãy còn thơ.  Ngài không ngừng tu tập, cuối cùng đạt được mục đích tối thượng.  Ngài thực sự thừa hưởng gia tài siêu thế của đức Phật, nhờ diễm phúc được làm “con” của bậc đã chứng ngộ chân lý. Ngài là tấm gương sáng cho các thế hệ Phật tử tại gia (đời) cũng như xuất gia (đạo), bất luận tuổi tác, tự biết mình có phước báo nhiều kiếp, hoan hỷ được xưng “con” trong giáo pháp của đức Phật. 
6) Đối với các vị bán thế xuất gia, nghĩa là đã lập gia đình trước khi vào đạo, vẫn phải trải qua các thời gian tu tập và thụ giới như trên, cho nên cách xưng hô cũng không khác.  Tuy nhiên để tránh việc gọi một người đứng tuổi xuất gia (trên 40, 50) là chú tiểu, giống như gọi các vị trẻ tuổi, có nơi gọi các vị bán thế xuất gia này là Sư chú, hay Sư bác. Hai từ ngữ này có nơi mang ý nghĩa khác. Việc truyền giới cụ túc, hay tấn phong, có khi không đợi đủ thời gian như trên đây, vì nhu cầu Phật sự của giáo hội, hay nhu cầu hoằng pháp của địa phương, nhất là đối với các vị bán thế xuất gia có khả năng hoằng pháp, đảm nhận trọng trách, nghiên cứu tu tập trước khi vào đạo.
7) Vài xưng hô khác trong đạo như: Sư ông, Sư cụ thường dành gọi vị sư phụ của sư phụ mình, hoặc gọi chư tôn đức có hạ lạp cao, thu nhận nhiều thế hệ đệ tử tại gia và xuất gia. Một danh xưng nữa là Pháp sư, dành cho các vị xuất gia tăng hay ni (sư) có khả năng và hạnh nguyện thuyết pháp (pháp) độ sanh. Ngoại đạo lạm dụng danh xưng này chỉ các ông bà thầy pháp, thầy cúng. 
8) Danh xưng Sư tổ được dành cho chư tôn đức lãnh đạo các tông phái còn tại thế, và danh xưng Tổ sư được dành cho chư tôn đức đã viên tịch, được hậu thế truy phong vì có công lao trọng đại đối với nền đạo.  Đối với các bậc cao tăng thạc đức thường trụ ở một tự viện, người trong đạo thường dùng tên của ngôi già lam đó để gọi quí ngài, tránh gọi bằng pháp danh hay pháp hiệu của quí ngài, để tỏ lòng tôn kính.
9) Ngày xưa khi đức Phật còn tại thế, các vị tỳ kheo thường dùng tiếng Ðại Ðức (bậc thầy đức độ lớn lao, phúc tuệ lưỡng toàn) để xưng tán Ngài, mỗi khi có việc cần thưa thỉnh.  Các vị đệ tử lớn của đức Phật cũng được gọi là Ðại Ðức.  Trong các giới đàn ngày nay, các giới tử cũng xưng tán vị giới sư là Đại Đức.  
10) Nói chung, cách xưng hô trong đạo Phật nên thể hiện lòng tôn kính lẫn nhau, noi theo Thường bất khinh Bồ tát, bất tùy phân biệt, bất luận tuổi tác, dù tại gia hay xuất gia, nhằm ngăn ngừa tư tưởng luyến ái của thế tục, nhắm thẳng hướng giác ngộ chân lý, giải thoát sinh tử khổ đau, vượt khỏi vòng luân hồi loanh quanh luẩn quẩn.  Nhất giả lễ kính chư Phật. Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh.  Cho nên đơn giản nhất là “xưng con gọi Thầy”. Theo các bộ luật bắc tông và nam tông còn có nhiều chi tiết hơn.


Tóm lại, ngôn ngữ, danh từ chỉ là phương tiện tạm dùng giữa con người với nhau, trong đạo cũng như ngoài đời, có thể thay đổi theo thời gian và không gian, cho nên cách xưng hô trong đạo Phật tùy duyên, không có nguyên tắc cố định, tùy theo thời đại, hoàn cảnh, địa phương, tông phái, hay tùy theo quan hệ giữa hai bên. Đó là phần tu tướng. 
Các vị phát tâm xuất gia tu hành, các vị phát tâm tu tập tại gia, đã coi thường mọi thứ danh lợi, địa vị của thế gian thì quan trọng gì chuyện xưng hô, tranh hơn thua chi lời nói, quan tâm chi chuyện ăn trên ngồi trước, đi trước đứng sau, tranh chấp danh tiếng, tranh cãi lợi dưỡng, tranh giành địa vị, đòi hỏi chức vụ, nếu có, trong nhà đạo.  Đồng quan điểm hay không, được cung kính hay không, xưng hô đúng phẩm vị hay không, chẳng đáng quan tâm, tránh sự tranh cãi.  Nơi đây không bàn đến cách xưng hô của những người không thực sự phát tâm tu tập, hý ngôn hý luận, náo loạn thiền môn, dù tại gia cũng như xuất gia.  Nhất niệm sân tâm khởi, bách vạn chướng môn khai. Nhất niệm sân tâm khởi, thiêu vạn công đức lâm, chính là nghĩa như vậy.  
Cách xưng hô nên làm cho mọi người, trong đạo cũng như ngoài đời, cảm thấy an lạc, thoải mái, hợp với tâm mình, không trái lòng người, không quá câu nệ chấp nhứt, thế thôi! Đó là phần tu tâm.
Trong đạo Phật, cách xưng hô có thể biến đổi nhưng có một điều quan trọng bất biến, không biến đổi, đó là phẩm hạnh, phẩm chất, đức độ, sự nổ lực, cố gắng  tu tâm dưỡng tánh không ngừng, cho đến ngày đạt mục đích cứu cánh: giác ngộ và giải thoát, đối với Phật tử tại gia cũng như xuất gia.  
Đó chính là một phần ý nghĩa của “tùy duyên bất biến” trong đạo Phật vậy. ■

Thích Chân Tuệ
Cơ sở Phật học Tịnh Quang Canada

Sunday, July 28, 2013

Lời Tuyên Bố của OBAMA và trình độ hiểu biết về Lịch Sữ / Phản Bội 58 ngàn Quân Nhân Hoa Kỳ đã nằm xuống trong Chiến Tranh Việt Nam





“...we discussed the fact that Ho Chi Minh was actually inspired by the U.S. Declaration of Independence and Constitution, and the words of Thomas Jefferson.”
-- President Obama talking to reporters alongside Vietnamese President Truong Tan Sang.
It may come as some unwelcome news to the families of the nearly 60,000 Americans who died in the Vietnam War that the whole thing was just a misunderstanding.
That was the impression President Obama gave on Thursday when he spoke to the press after his meeting with Vietnamese President Truong Tan Sang. Sang brought Obama a copy of a letter sent to President Harry Truman from Ho Chi Minh in which the communist dictator spoke hopefully of cooperation with the United States.
Obama, striking a wistful tone, observed that it may have taken 67 years, but the United States and Vietnam were finally enjoying the relationship that Ho once wrote of. After all, Obama said, Ho had been “inspired by the words of Thomas Jefferson.”
The message here was that if only we might have bridged our differences then – if only Ho and Truman could have done what Obama and Sang did this week, so much unpleasantness might have been avoided.
While Jefferson did get pretty fired up about “the blood of tyrants,” it’s hard to see how the Sage of Monticello inspired the murderous career of the Vietnamese dictator. Ho famously slaughtered his opponents, including the infamous butchery of peasant farmers who resisted his brutal taxation in the early days of Ho’s regime. Not particularly Jeffersonian.
Estimates run as high as half-a-million killed in Ho’s effort to consolidate power after his communist forces drove the French out of Indochina. The killing of landlords and bourgeois-class merchants was famous even in its day and since then has been documented in even more horrifying detail.

In Obama’s credulous citing of the Constitution as an inspiration, there is particular historical dissonance.
And those who carried his banner forward following his death in 1969 – he remains “Uncle Ho” even to this day – built upon his brutal regime. Following the final U.S. retreat from Vietnam untold thousands of Vietnamese, deemed collaborators by the regime, were put to death. He and his Leninist regime used V.I. Lenin’s tactics: murder, terror and “reeducation” to obtain, maintain and expand power.
Ho, whose preserved corpse lies in a glass tomb modeled after Lenin’s in Hanoi, was a seriously bad actor. Whether the United States should have sought to oust him or not or whether the war was rightly fought, Ho was not any heir to Jefferson and the Founding Fathers.
In Obama’s credulous citing of the Constitution as an inspiration, there is particular historical dissonance. One of the great murders of the 20th century could not have been truly inspired by the most significant advancement of the rights of the individual in human history.
Obama may have just been trying to flatter his guest who was obviously eager to show that Ho was not the monster history shows him to be. But his connection between the American founders and Ho shows either a massive lack of historical knowledge on the part of the president or a remarkable degree of moral flexibility.
While the president and his team will no doubt dismiss any mention of this as “phony,” this, which as either a gaffe or facile flattery, will not be so easily waved off. The memories and frustrations of America’s Vietnam veterans remain strong forces even today.
And Now, A Word From Charles
“[President Obama’s] lower deficit now is higher than the highest ever in the Bush years.  It isn't exactly a record I think he ought to be running on…”
-- Charles Krauthammer on “Special Report with Bret Baier.”
Chris Stirewalt is digital politics editor for Fox News, and his POWER PLAY column appears Monday-Friday on FoxNews.com. Catch Chris Live online daily at 11:30amET  at

Read more: http://www.foxnews.com/politics/2013/07/26/uh-ho-obama-says-vietnamese-dictator-inspired-by-founding-fathers/#ixzz2aP8DPbem

Friday, July 26, 2013

Trương Tấn Sang và Obama / Hát Cho Việt Nam



BBC News chọn đăng bài TTX Văn nô dịch là có VC tay trong. Vì thế , xin quý vị đọc bài tiếng Việt của TTX Văn Nô với sự dè dăt thường lệ :
"Đừng nghe những gì cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm"
Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu

 
 Cũng nên nhắc lại rằng tháng 4-1975, BBC News đuổi dân và QLVNCH chạy thụt mạng vì có nhiều nơi VC chưa đến mà BBC News loan tin đã mất.
Vì vậy tôi chép bản chinh bằng Anh ngữ của WH Press Release để quý vị tham khảo thêm các đoạn quan trọng , nhất là về "NHÂN QUYỀN " và "ĐỐI TÁC QUÂN SỰ , AN NINH, "QUỐC PHÒNG"-- hay VC's ĐẢNG PHÒNG? )
[ END of REMARK]
 

Tuyên bố chung Việt-Mỹ

Cập nhật: 03:28 GMT - thứ sáu, 26 tháng 7, 2013
Sau cuộc gặp giữa Tổng thống Barack Obama và Chủ tịch Trương Tấn Sang, Hoa Kỳ và Việt Nam ra tuyên bố chung về quan hệ "đối tác toàn diện" (comprehensive partnership).
Tuyên bố chung, được đăng trên trang web Nhà Trắng, nói ông Obama và Trương Tấn Sang "quyết định xác lập quan hệ Đối tác toàn diện Việt Nam - Hoa Kỳ để đem lại khuôn khổ tổng thể cho việc thúc đẩy quan hệ".
Dưới đây là toàn văn bản tuyên bố chung đăng tải trên trang web của Nhà Trắng, bản dịch của Thông tấn xã Việt Nam.
Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama chào mừng Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang tới Nhà Trắng ngày 25-7. Tại cuộc gặp, hai nhà Lãnh đạo khẳng định cam kết mở ra một giai đoạn mới cho quan hệ song phương giữa Việt Nam và Hoa Kỳ dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau và những lợi ích chung.
Chuyến thăm của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang diễn ra vào một thời điểm quan trọng đối với cả hai nước, phản ánh mong muốn chung cùng xây dựng mối quan hệ hướng tới tương lai giữa hai nước.
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Tổng thống Obama quyết định xác lập quan hệ Đối tác toàn diện Việt Nam - Hoa Kỳ nhằm xây dựng một khuôn khổ tổng thể để thúc đẩy quan hệ. Hai nhà Lãnh đạo nhấn mạnh các nguyên tắc trong quan hệ Đối tác Toàn diện Việt Nam - Hoa Kỳ, trong đó có tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế, tôn trọng thể chế chính trị, độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau.
Hai nhà Lãnh đạo tuyên bố quan hệ Đối tác toàn diện nhằm góp phần vào hòa bình, ổn định, hợp tác và thịnh vượng của mỗi nước, trong khu vực và trên toàn thế giới. Quan hệ Đối tác Toàn diện mới sẽ tạo ra các cơ chế hợp tác trên nhiều lĩnh vực, trong đó có quan hệ chính trị và ngoại giao, quan hệ thương mại và kinh tế, khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, môi trường và y tế, giải quyết hậu quả chiến tranh, quốc phòng và an ninh, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, văn hóa, thể thao và du lịch.

Hợp tác chính trị và ngoại giao


Hai bên nhất trí tăng cường hợp tác tại các diễn đàn khu vực và quốc tế
Trong khuôn khổ quan hệ Đối tác Toàn diện Việt Nam - Hoa Kỳ, hai bên nhất trí tăng cường trao đổi cấp cao, tiếp xúc ở tất cả các cấp và ủng hộ việc tăng cường các cơ chế đối thoại và hợp tác. Tổng thống Obama khẳng định Hoa Kỳ ủng hộ độc lập, chủ quyền, thịnh vượng và hội nhập quốc tế của Việt Nam. Chủ tịch Trương Tấn Sang hoan nghênh Hoa Kỳ tăng cường hợp tác tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương, đóng góp vào hòa bình, ổn định và thịnh vượng ở khu vực.
Hai nhà Lãnh đạo hoan nghênh việc thiết lập cơ chế đối thoại thường kỳ giữa hai Bộ trưởng Ngoại giao, và khuyến khích các cuộc đối thoại và trao đổi giữa các cơ quan đảng của hai nước.
Chủ tịch Trương Tấn Sang và Tổng thống Obama nhất trí tăng cường hợp tác tại các diễn đàn khu vực và quốc tế, trong đó có Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị thượng đỉnh Đông Á (EAS), và Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+) nhằm thúc đẩy hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Hai nhà Lãnh đạo tái khẳng định ủng hộ giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có những quy định của Công ước Luật Biển của Liên hợp quốc (UNCLOS).
Chủ tịch Trương Tấn Sang và Tổng thống Obama đồng thời tái khẳng định ủng hộ nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực để giải quyết tranh chấp trên biển và tranh chấp lãnh thổ. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Tổng thống Obama nhấn mạnh giá trị của việc tuân thủ đầy đủ Tuyên bố về ứng xử của các bên tại Biển Đông (DOC), và tầm quan trọng của việc khởi động đàm phán để hoàn tất một bộ Quy tắc ứng xử (COC) có hiệu quả.
Chủ tịch Trương Tấn Sang đánh giá cao Sáng kiến Hạ nguồn sông Mê Công (LMI). Hai nhà Lãnh đạo nhất trí hai bên nỗ lực cùng với các nước thành viên LMI khác và Nhóm Những người bạn của khu vực hạ nguồn sông Mê Công, tăng cường hơn nữa hợp tác khu vực nhằm thúc đẩy sự thịnh vượng và phát triển bền vững, thu hẹp khoảng cách phát triển, tăng cường kết nối và ứng phó với các thách thức xuyên quốc gia trong khu vực.
Chủ tịch Trương Tấn Sang và Tổng thống Obama chỉ đạo các cơ quan liên quan hoàn thành trong thời gian sớm nhất có thể thỏa thuận song phương về việc xây dựng các sứ quán và cơ quan đại diện của hai nước. Hai nhà Lãnh đạo khẳng định các cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam và Hoa Kỳ tại thủ đô mỗi nước cần phản ánh sự phát triển của quan hệ song phương.

Quan hệ kinh tế và thương mại

Nhắc lại các cuộc thảo luận tại Campuchia vào tháng 11-2012, Chủ tịch Trương Tấn Sang và Tổng thống Obama tái khẳng định cam kết hoàn tất đàm phán về Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) toàn diện và tiêu chuẩn cao vào thời điểm sớm nhất có thể trong năm nay. Hiệp định TPP của thế kỷ 21 sẽ tăng cường hội nhập kinh tế khu vực, thúc đẩy các mục tiêu phát triển và giúp tạo việc làm ở Việt Nam, Hoa Kỳ và các nước thành viên TPP khác, trong khi tính đến sự đa dạng về trình độ phát triển của các thành viên trong khuôn khổ một thỏa thuận cân bằng và toàn diện.
Hai nhà Lãnh đạo hoan nghênh những nỗ lực không ngừng nhằm thúc đẩy hơn nữa quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư song phương và Tổng thống Obama ghi nhận những nỗ lực cải cách của Việt Nam với tư cách một nền kinh tế đang phát triển. Hai nhà Lãnh đạo nhấn mạnh giá trị then chốt của các nỗ lực này đối với quan hệ song phương và tầm quan trọng của hợp tác kinh tế như một nền tảng và động lực của Đối tác Toàn diện mới Việt Nam - Hoa Kỳ.
Hai nhà Lãnh đạo nhất trí tăng cường hợp tác trong khuôn khổ Hội đồng Hiệp định khung về Thương mại và Đầu tư (TIFA), cũng như theo sáng kiến Gắn kết Kinh tế Mở rộng ASEAN và trong APEC nhằm tăng cường liên kết kinh tế và thương mại phù hợp với Đối tác Toàn diện song phương và các mục tiêu chung trong Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), APEC và các diễn đàn của ASEAN.
Tổng thống Obama hoan nghênh những tiến bộ của Việt Nam trong cải cách kinh tế. Tổng thống Obama ghi nhận quan tâm của Việt Nam trong việc đạt được quy chế kinh tế thị trường và cam kết tăng cường hợp tác mang tính xây dựng với Việt Nam về cải cách kinh tế. Hai nhà Lãnh đạo ghi nhận việc Việt Nam dự định tham gia Công ước Cape Town về lợi ích quốc tế đối với thiết bị di dộng (CTC).
Hai nhà Lãnh đạo ghi nhận tầm quan trọng của quan hệ thương mại ngày càng tăng giữa hai nền kinh tế và đặc biệt nhắc tới: Bản ghi nhớ giữa Tập đoàn Dầu khí Việt Nam và Ngân hàng Xuất Nhập khẩu Hoa Kỳ về hỗ trợ thương mại và đầu tư trong lĩnh vực dầu khí và năng lượng ở Việt Nam, Thỏa thuận khung triển khai dự án phát triển mỏ Cá Voi Xanh ngoài khơi Việt Nam giữa Tập đoàn Dầu khí Việt Nam và Công ty Exxon Mobil, Thỏa thuận hợp tác giữa Tổng Công ty thăm dò, khai thác dầu khí (PVEP) và Công ty dầu khí Murphy, Bản ghi nhớ giữa Công ty bảo hiểm Metropolitan Life (Metlife) và Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, chấp thuận của Bộ Tài chính Việt Nam về chủ trương thành lập công ty quản lý quỹ của Công ty bảo hiểm ACE.
Chủ tịch Trương Tấn Sang và Tổng thống Obama hoan nghênh sự hỗ trợ của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ đối với các chương trình xây dựng năng lực và đào tạo nhằm giúp Việt Nam tiếp nhận và áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến, mang lại lợi ích cho nông dân, các công ty nông nghiệp và người tiêu dùng Việt Nam. Hai nhà Lãnh đạo thừa nhận tầm quan trọng của việc bảo vệ thành phần dân cư dễ bị tổn thương trong khi phát triển kinh tế, trong đó có việc cùng nhau đấu tranh chống lao động trẻ em và lao động cưỡng bức.

Hợp tác khoa học và công nghệ


Chủ tịch Trương Tấn Sang và Tổng thống Obama tái khẳng định tiếp tục thúc đẩy hợp tác khoa học, trong đó có lĩnh vực năng lượng hạt nhân dân sự, công nghệ không gian và nghiên cứu biển.
Chủ tịch Trương Tấn Sang và Tổng thống Obama trao đổi về tầm quan trọng của hợp tác khoa học và công nghệ. Hai nhà Lãnh đạo hoan nghênh cuộc họp lần thứ 8 của Ủy ban hỗn hợp về hợp tác khoa học và công nghệ sẽ được tổ chức vào mùa thu năm nay, nhấn mạnh các nỗ lực nhằm xây dựng quan hệ giữa các cộng đồng khoa học tại Việt Nam và Hoa Kỳ để tăng cường hợp tác song phương, ứng phó với biến đổi khí hậu và các thách thức toàn cầu khác, và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dựa trên sự sáng tạo.
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Tổng thống Obama nhấn mạnh việc hai bên kết thúc thành công chương trình chuyển đổi thanh nhiên liệu có độ giàu uranium cao ra khỏi Việt Nam. Hai nhà Lãnh đạo nhất trí tiếp tục hợp tác để hỗ trợ chương trình năng lượng hạt nhân hòa bình của Việt Nam với các tiêu chuẩn cao nhất về bảo đảm an toàn, an ninh.

Hợp tác giáo dục

Hai nhà Lãnh đạo nhất trí về sự cần thiết tăng cường hợp tác giáo dục, văn hóa và giao lưu nhân dân giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Hai nhà Lãnh đạo nhấn mạnh sự gia tăng nhanh chóng số lượng sinh viên Việt Nam theo học tại các trường đại học và cao đẳng tại Hoa Kỳ và bày tỏ hy vọng ngày càng nhiều sinh viên Hoa Kỳ tìm kiếm cơ hội du học tại Việt Nam. Hai nhà Lãnh đạo nhất trí rằng hợp tác chặt chẽ về giáo dục, đào tạo là nhân tố quan trọng trong giai đoạn tới của quan hệ giữa hai nước. Hai nhà Lãnh đạo ghi nhận việc thúc đẩy đào tạo tiếng Anh sẽ giúp Việt Nam cạnh tranh trong nền kinh tế toàn cầu thế kỷ 21.
Chủ tịch Trương Tấn Sang và Tổng thống Obama ghi nhận sự thành công của các sáng kiến giáo dục, trao đổi song phương, đặc biệt là chương trình Fulbright và Chương trình Liên minh Giáo dục Đại học ngành kỹ thuật (HEEAP). Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Tổng thống Obama ghi nhận thành công của Chương trình giảng dạy kinh tế Fullbright và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang hoan nghênh sáng kiến thành lập trường Đại học Fullbright ở Việt Nam.

Môi trường và Y tế

Chủ tịch Trương Tấn Sang và Tổng thống Obama hoan nghênh hợp tác song phương ngày càng tăng nhằm giảm khí thải nhà kính tại Việt Nam bằng việc gia tăng năng lượng sạch, hiệu suất năng lượng và lâm nghiệp bền vững và tăng cường khả năng của Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng và thảm họa thiên nhiên, trong đó có Chương trình Năng lượng sạch và Chương trình Rừng và Đồng bằng của Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID). Tổng thống Obama tái khẳng định Hoa Kỳ cam kết tăng hỗ trợ về chăm sóc y tế và các hình thức chăm sóc, trợ giúp khác cho người khuyết tật vì bất cứ nguyên nhân nào ở Việt Nam.
Hai nhà lãnh đạo đồng thời nhất trí hợp tác với các nước đối tác LMI thúc đẩy nghiên cứu khoa học, xây dựng năng lực và đối thoại để bảo đảm sức sống lâu dài và bền vững của đồng bằng sông Mê Công và lưu vực hạ nguồn sông. Tổng thống Obama đánh giá cao vai trò lãnh đạo của Việt Nam trên cương vị đồng chủ tịch Trụ cột Môi trường và Nước trong khuôn khổ LMI, trong đó có hai đề xuất nghiên cứu chung của Việt Nam về quản lý nguồn nước lưu vực sông.
Hai nhà lãnh đạo bày tỏ hài lòng về việc ký kết Hiệp định Hợp tác Y tế và Khoa học Y học gần đây và mong muốn thúc đẩy hợp tác y tế công nhằm tăng cường an ninh y tế toàn cầu. Chủ tịch Trương Tấn Sang đánh giá cao việc Chính phủ Hoa Kỳ, thông qua Kế hoạch cứu trợ khẩn cấp về phòng chống AIDS của Tổng thống Hoa Kỳ (PEPFAR), tiếp tục hỗ trợ những nỗ lực của Việt Nam nhằm xây dựng hệ thống phòng ngừa, điều trị và chăm sóc HIV/AIDS bền vững.

Các vấn đề hậu quả chiến tranh

Tổng thống Obama đánh giá cao việc Việt Nam tiếp tục hợp tác tìm kiếm đầy đủ quân nhân Hoa Kỳ mất tích trong chiến tranh. Tổng thống Obama tái khẳng định cam kết của Hoa Kỳ hỗ trợ những nỗ lực của Việt Nam trong việc tìm kiếm bộ đội mất tích. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang ghi nhận những đóng góp của Chính phủ Hoa Kỳ đối với các nỗ lực của Việt Nam trong việc rà phá các vật liệu nổ còn sót lại (UXO), hỗ trợ những nạn nhân bị thương do các vật liệu nổ còn sót lại, và ngăn chặn thương vong trong tương lai.
Chủ tịch Trương Tấn Sang và Tổng thống Obama bày tỏ sự hài lòng đối với những tiến triển của dự án tẩy độc đioxin tại sân bay Đà Nẵng giữa Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID) và Bộ Quốc phòng Việt Nam. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang hoan nghênh các kế hoạch của Chính phủ Hoa Kỳ về việc tiến hành đánh giá về mức độ nhiễm độc đioxin đối với môi trường tại sân bay Biên Hòa.

Quốc phòng và An ninh


Chủ tịch Trương Tấn Sang và Tổng thống Obama nhất trí rằng việc tăng cường hợp tác giải quyết hậu quả chiến tranh làm sâu sắc sự tin cậy lẫn nhau, cho phép hai nước phát triển mối quan hệ hướng tới tương lai.
Hai nhà Lãnh đạo nhất trí Việt Nam và Hoa Kỳ sẽ tiếp tục hợp tác về quốc phòng và an ninh. Hai nhà Lãnh đạo bày tỏ sự hài lòng đối với Bản ghi nhớ về thúc đẩy hợp tác quốc phòng song phương ký năm 2011 và tái khẳng định cam kết triển khai đầy đủ Bản ghi nhớ. Chủ tịch Trương Tấn Sang và Tổng thống Obama nhất trí tiếp tục Đối thoại chính sách quốc phòng Việt Nam - Hoa Kỳ và Đối thoại Chính trị - An ninh - Quốc phòng song phương nhằm đánh giá quan hệ quốc phòng và an ninh và thảo luận về hợp tác trong tương lai.
Chủ tịch Trương Tấn Sang và Tổng thống Obama nhất trí mở rộng hợp tác cùng có lợi nhằm tăng cường năng lực trong lĩnh vực tìm kiếm cứu nạn và ứng phó thiên tai. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Tổng thống Obama cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thúc đẩy hợp tác trong các vấn đề an ninh phi truyền thống và nhất trí hợp tác chặt chẽ hơn nữa trong lĩnh vực chống khủng bố; tăng cường hợp tác thực thi pháp luật trên biển; đấu tranh chống tội phạm xuyên quốc gia, trong đó có chống cướp biển, buôn lậu ma túy, buôn bán người, buôn bán động vật hoang dã; ứng phó với tội phạm công nghệ cao và vấn đề an ninh mạng.
Tổng thống Obama hoan nghênh quyết định của Việt Nam tham gia Hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc và nhấn mạnh Hoa Kỳ mong muốn hỗ trợ đào tạo và các hình thức hỗ trợ khác cho hoạt động này thông qua Sáng kiến hoạt động hòa bình toàn cầu (GPOI).

Bảo vệ và thúc đẩy quyền con người

Chủ tịch Trương Tấn Sang và Tổng thống Obama ghi nhận lợi ích của việc đối thoại thẳng thắn và cởi mở nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thu hẹp khác biệt về quyền con người. Hai nhà Lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Chủ tịch Trương Tấn Sang thông báo với Tổng thống Obama những nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong việc thúc đẩy quyền con người, nhà nước pháp quyền và bảo vệ quyền của các tín đồ tôn giáo.
Chủ tịch Trương Tấn Sang cũng khẳng định Việt Nam sẵn sàng ký Công ước chống tra tấn của Liên hợp quốc vào cuối năm nay và tuyên bố Việt Nam sẽ mời Báo cáo viên Đặc biệt về Tự do tôn giáo và tín ngưỡng vào năm 2014. Hai bên tái khẳng định cam kết ủng hộ Hiến chương Liên hợp quốc và Tuyên ngôn thế giới về quyền con người.

Văn hóa, du lịch và thể thao

Chủ tịch Trương Tấn Sang và Tổng thống Obama nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thúc đẩy hợp tác văn hóa, thể thao và du lịch nhằm tăng cường giao lưu nhân dân và hiểu biết lẫn nhau. Hai nhà Lãnh đạo ghi nhận những thành công của người Mỹ gốc Việt và khuyến khích cộng đồng tiếp tục đóng góp vào sự phát triển của quan hệ song phương. Chủ tịch Trương Tấn Sang và Tổng thống Obama khuyến khích giao lưu nhân dân thông qua các hoạt động biểu diễn nghệ thuật, hòa nhạc, triển lãm và các sự kiện văn hóa và thể thao khác giữa hai nước.
 ===================================================
Joint Statement by President Barack Obama of the United States of America and President Truong Tan Sang of the Socialist Republic of Vietnam

The White House  |Office of the Press Secretary For Immediate Release  | July 25, 2013

President Barack Obama welcomed President Truong Tan Sang of the Socialist Republic of Vietnam to the White House on July 25, 2013.  During their meeting, the two Presidents affirmed their commitment to opening a new phase of bilateral relations between Vietnam and the United States based on mutual respect and common interests.  President Truong Tan Sang’s visit comes at an important time for both nations, reflecting a shared desire to build a forward-looking relationship between the two countries.
President Obama and President Truong Tan Sang decided to form a U.S.-Vietnam Comprehensive Partnership to provide an overarching framework for advancing the relationship.  They underlined the principles of the U.S.-Vietnam Comprehensive Partnership, including respect for the United Nations Charter, international law, and each other’s political systems, independence, sovereignty, and territorial integrity.  They stated that the Comprehensive Partnership is intended to contribute to peace, stability, cooperation, and prosperity in each country, in the region, and in the world.  The new Comprehensive Partnership will create mechanisms for cooperation in areas including political and diplomatic relations, trade and economic ties, science and technology, education and training, environment and health, war legacy issues, defense and security, protection and promotion of human rights, and culture, sports, and tourism. 
Political and Diplomatic Cooperation
As part of the U.S.-Vietnam Comprehensive Partnership, the two sides agreed to increase high level exchanges as well as contacts at all levels, and to intensify dialogue and cooperation mechanisms.  President Obama affirmed the United States’ support for Vietnam’s independence, sovereignty, prosperity, and integration into the international community.  President Truong Tan Sang welcomed the United States’ enhanced cooperation in the Asia-Pacific, which contributes to the peace, stability, and prosperity of the region.
The Presidents welcomed the establishment of a regular dialogue between their two foreign ministers, and encouraged dialogues and exchanges between entities associated with political parties in both countries. 
President Obama and President Truong Tan Sang agreed to enhance cooperation at regional and international forums including The Asia Pacific Economic Cooperation (APEC), the Association of Southeast Asian Nations (ASEAN), the ASEAN Regional Forum (ARF), the East Asia Summit (EAS), and the ASEAN Defense Ministerial Meeting Plus (ADMM+) to support peace, stability, cooperation, and development in the Asia-Pacific region.  The two Leaders reaffirmed their support for the settlement of disputes by peaceful means in accordance with international law, including as reflected in the United Nations Convention on the Law of the Sea .  The Presidents also reaffirmed their support for the principle of non-use of force or threat-of-force in resolving territorial and maritime disputes.  The Presidents underscored the value of full observance of the Declaration of Conduct of Parties in the South China Sea (DOC) and the importance of launching negotiations to conclude an effective Code of Conduct (COC).
President Truong Tan Sang expressed his appreciation for the Lower Mekong Initiative (LMI).  The two Presidents agreed that the two sides would work together with other member countries and the Friends of the Lower Mekong to further strengthen regional cooperation to promote prosperity and sustainable development, narrow the development gap, enhance connectivity, and respond to transnational challenges in the region.
The two Presidents instructed relevant agencies to conclude as soon as possible a bilateral agreement on the construction of new embassies and missions.  The Leaders affirmed that the United States’ and Vietnam’s diplomatic presence in their respective capitals should reflect the development of their bilateral ties.
Trade and Economic Ties
Recalling their discussions in Cambodia in November 2012, President Obama and President Truong Tan Sang reaffirmed their commitment to conclude a comprehensive, high-standard Trans-Pacific Partnership (TPP) agreement as soon as possible this year.  A 21st-century TPP agreement will advance regional economic integration, further development objectives, and lead to the creation of jobs in the United States, Vietnam, and all TPP countries, while taking into account the diversity of the participants’ levels of development in the context of a comprehensive and balanced package.
The Presidents welcomed continued efforts to further bilateral economic, commercial, and investment ties, and President Obama noted Vietnam’s reform efforts as a developing economy.  They underlined the critical value of these efforts to advancing the bilateral relationship, and the importance of economic cooperation as a foundation and engine for the new U.S.-Vietnam Comprehensive Partnership.  The Presidents agreed to enhance cooperation under the U.S.-Vietnam Trade and Investment Framework Agreement (TIFA) Council as well as under the ASEAN Enhanced Economic Engagement initiative and in APEC to increase economic and trade engagement in line with the bilateral Comprehensive Partnership and shared objectives in the World Trade Organization (WTO), APEC, and ASEAN fora.  President Obama applauded Vietnam’s progress in economic reform President Obama noted Vietnam’s interest in pursuing market economy country status and is committed to intensifying the United States’ constructive engagement with Vietnam on its economic reforms.  The Presidents acknowledged Vietnam’s intention to accede to the Cape Town Convention on International Interests in Mobile Equipment (CTC).
Both Presidents noted the importance of growing commercial ties between the two economies, and made special mention of: the MOU signed between PetroVietnam and U.S. Export-Import Bank to support trade and investment in the petroleum and energy sectors in Vietnam; the Framework Heads Agreement on the Ca Voi Xanh offshore Vietnam development project between Exxon Mobil Corporation and PetroVietnam; the Cooperation Agreement between Murphy Oil Corporation and PetroVietnam Exploration Production Corporation (PVEP); an MOU between Metropolitan Life Insurance Company (MetLife) and Bank for Investment and Development of Vietnam (BIDV);  and the Vietnam Ministry of Finance's approval in principle for establishment of a fund management company by ACE Insurance.  The Presidents welcomed U.S. Department of Agriculture support for capacity building and training programs designed to help Vietnam adopt and apply sound science and technology to the benefit of Vietnamese farmers, agricultural companies, and consumers.  The two leaders recognized the importance of protecting the most vulnerable populations while pursuing economic development, including working together to combat child and forced labor.
Science and Technology Cooperation
President Obama and President Truong Tan Sang discussed the importance of scientific and technological cooperation.  They welcomed the 8th meeting of the Joint Committee for Scientific and Technological Cooperation to be held this autumn, and highlighted efforts to build ties between the scientific communities in the United States and Vietnam to strengthen bilateral relations, respond to climate change and other global challenges, and foster innovation-driven economic growth.  President Obama and President Truong Tan Sang reiterated their intention to continue scientific cooperation, including in the areas of civil nuclear energy, space technology, and maritime research.  The Presidents highlighted the successful conclusion of a joint effort to remove all highly enriched uranium from Vietnam.  The two leaders agreed to continue cooperation to support Vietnam’s aspirations for a peaceful nuclear energy program with the highest standards of safety, safeguards, and security.
Education Cooperation
The Presidents agreed on the need to enhance educational, cultural, and people-to-people ties between the United States and Vietnam.  They remarked on the rapid growth of Vietnamese students studying at U.S. universities and colleges, and expressed hope that more U.S. students will pursue study abroad opportunities in Vietnam.  They agreed that close cooperation on education and training are critical elements to the next phase of the relationship.  They also noted that robust English language instruction will help Vietnam compete in the 21st century global economy.  President Obama and President Truong Tan Sang noted the success of bilateral education and exchange initiatives, especially the Fulbright program and the Higher Engineering Education Alliance Program (HEEAP).  The two Presidents noted the success of the Fulbright Economics Teaching Program and President Truong Tan Sang welcomed the initiative establishing a Fulbright University in Vietnam. 
Environment and Health
President Obama and President Truong Tan Sang welcomed increasing bilateral cooperation to reduce greenhouse gas emissions in Vietnam through promotion of clean energy, energy efficiency, and sustainable forestry, and to strengthen Vietnam’s resilience to climate change, rising sea level and natural disasters, including through the United States Agency for International Development’s (USAID) Clean Energy Program and Forests and Deltas Program.  President Obama reaffirmed the United States’ commitment to providing further medical and other care and assistance for persons with disabilities, regardless of cause.
The two leaders also agreed to work together, along with their LMI partners, to promote scientific research, capacity-building, and dialogue to ensure the long-term health and sustainability of the Mekong Delta and the Lower Mekong River Basin.  President Obama expressed appreciation for Vietnam’s leadership as the co-chair of the LMI Environment and Water Pillar, which has included two joint research proposals from Vietnam on water resources management in the basin.  The two leaders expressed satisfaction with the recent conclusion of the Agreement on Healthcare and Medical Sciences Cooperation and looked forward to enhanced public health cooperation to promote global health security.  President Truong Tan Sang expressed his appreciation for the U.S. government’s continued support through the President's Emergency Plan for AIDS Relief (PEPFAR) for Vietnam’s efforts to build sustainable systems for HIV/AIDS prevention, treatment, and care.
War Legacy Issues
The two Presidents agreed that extensive cooperation in addressing war legacy issues to deepen mutual trust has allowed both countries to develop a relationship that looks to the future.  President Obama expressed his appreciation for Vietnam’s continued cooperation in providing for the fullest possible accounting for U.S. personnel missing in action (MIA).  President Obama reaffirmed the U.S. commitment to assist Vietnam in its MIA accounting efforts.  President Truong Tan Sang noted the U.S. Government’s contributions to Vietnam’s efforts to clean up unexploded ordnance (UXO), assist those injured by UXO, and prevent future casualties.  The Presidents expressed satisfaction with progress on USAID and the Vietnamese Ministry of National Defense’s project to clean up dioxin contamination at Danang International Airport.  President Truong Tan Sang welcomed plans by the U.S. Government to conduct an environmental assessment of dioxin contamination at Bien Hoa Air Base. 
Defense and Security
The two leaders agreed that the United States and Vietnam would continue to cooperate on defense and security.  They expressed satisfaction with the Memorandum of Understanding on Advancing Bilateral Defense Cooperation of 2011 and reaffirmed their commitment to its full implementation.  The Presidents agreed to continue the U.S.-Vietnam Defense Policy Dialogue and the bilateral Political, Security, and Defense dialogue as opportunities to review the defense and security relationship and discuss future cooperation.  The two Presidents agreed to expand mutually beneficial cooperation to enhance capabilities such as search and rescue and disaster response.  The Presidents also underscored the importance of enhanced cooperation in non-traditional security matters and agreed to work more closely to counter terrorism; enhance maritime law enforcement cooperation; combat transnational crime including piracy, and narcotics, human, and wildlife trafficking; and address high-tech crime and cyber security.  President Obama welcomed Vietnam’s decision to participate in United Nations peacekeeping operations and emphasized the United States’ desire to assist with training and other support for this effort through the Global Peace Operations Initiative (GPOI).
Promotion and Protection of Human Rights
The Presidents took note of the benefits of a candid and open dialogue to enhance mutual understanding and narrow differences on human rights.  They emphasized the importance of protection and promotion of human rights.  President Truong Tan Sang informed President Obama of Vietnam’s efforts and achievements in promoting human rights and rule of law and in protecting the rights of religious believers.  President Truong Tan Sang also affirmed that Vietnam was prepared to sign the United Nations Convention Against Torture by the end of the year and stated that Vietnam would invite the Special Rapporteur on Freedom of Religion or Belief in 2014.  Both sides reaffirmed their commitment to uphold the United Nations Charter and the Universal Declaration of Human Rights.
Culture, Tourism and Sports
President Truong Tan Sang and President Obama highlighted the importance of enhanced cooperation on culture, sports and tourism to strengthening people-to-people exchange and mutual understanding.  They took note of the success of the Vietnamese-American community in the United States and their important contributions to the growth of bilateral ties.  The two Presidents encouraged more people-to-people exchange through art performances, concerts, exhibitions and other cultural and sports events between the two countries.


Thursday, July 25, 2013

Biểu Tình Chống Trương Tấn Sang Pictures va Video


Chị Lê Văn Hậu 723 và Cháu Nội từ Buffalo, NY

Anh Đòan Hữu Định



 Cháu Lê Trung Quân từ Buffalo New York


Nguyên Khang



Anh Chị Đòan Hữu Định



Thế Hệ 3 Nha Kỹ Thuật

Video Phong Van tren TV cua Le Trung Quan