Saturday, March 18, 2017

HỌP BÁO NGÀY 17 THÁNG 3, 2017 VỀ VIỆC TÌM CÔNG LÝ CHO CÁC NHÀ BÁO BỊ SÁT HẠI




1. Thời gian: Từ 09h sáng đến 12h trưa
2. Địa điểm: Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu
14550 Magnolia St., Room #204
Westminster, CA 92683

3. Diễn giả:
Nguyễn Thanh Tú, con trai của cố ký giả Nguyễn Đạm Phong
Tom Weston, cựu nhân viên FBI
Doug Zwemke, cựu sĩ quan cảnh sát điều tra va federal officer

4. Đối tượng tham dự:
Đại diện các cơ quan thông tấn, giới truyền thông báo chí quan tâm về sự kiện

5. Mục tiêu buổi họp báo:
Nguyễn Thanh Tú, con trai của cố ký giả Nguyễn Đạm Phong, sẽ trình bày về những công việc anh đã và đang thực hiện, với phần đóng góp của một số chuyên viên điều tra.

Ghi Chú: Xin vui lòng xác nhận sự tham gia của quý vị trước ngày 3/16/2017.
Mọi chi tiết xin liên lạc: damphong@hotmail.com, nguyentut@hotmail.com

Con nhà báo Đạm Phong họp báo: Cha tôi làm việc cho CIA

Đỗ Dzũng/Người Việt




Ông Nguyễn Thanh Tú tại cuộc họp báo. (Hình: Đỗ Dzũng/Người Việt)
WESTMINSTER, California (NV) – “Cha tôi làm việc cho CIA.”
Đó là tiết lộ mới nhất của ông Nguyễn Thanh Tú, con trai cố nhà báo Đạm Phong, từng bị sát hại trước cửa nhà ở Houston, Texas, năm 1982, cho biết trong cuộc họp báo do Diễn Đàn Nhịp Cầu Dân Chủ tổ chức tại Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu, Westminster, sáng Thứ Sáu, 17 Tháng Ba.

Ông kể tiếp: “Tôi nhớ, lần đầu tiên khi nhà báo AC Thompson, người làm cuốn phim ‘Terror in Little Saigon’ hỏi có biết cha tôi là CIA không, tôi không trả lời. Cho tới khi Thompson nói Bộ Quốc Phòng biết việc này, lúc đó tôi mới thừa nhận. Đây là lần đầu tiên tôi xác nhận cha tôi làm việc cho CIA.”
“Trong nhà tôi, có lẽ chỉ có người anh cả và tôi biết chuyện này. Tôi nhớ cha tôi kể, có lần ông nói với cựu Đại Tá Phạm Văn Liễu là đừng nói lý lịch của cha tôi cho ai biết. Sau này, tôi có liên lạc với CIA, họ xác nhận, và chia buồn cùng gia đình tôi,” ông Tú kể tiếp.
Hồi thập niên 1980 và thập niên 1990, có ít nhất năm nhà báo gốc Việt bị sát hại một cách bí ẩn ở Hoa Kỳ. Đó là Dương Trọng Lâm (báo Cái Đình Làng, San Francisco), Đạm Phong (sáng lập báo Tự Do, Houston), Đỗ Trọng Nhân (nhân viên báo Văn Nghệ Tiền Phong, Virginia), Lê Triết (bỉnh bút báo Văn Nghệ Tiền Phong), và Phạm Văn Tập, tức Hoài Điệp Tử (chủ biên tạp chí Mai, Orange County).
Mặc dù FBI đã điều tra, nhưng cho tới nay, họ không tìm được manh mối về thủ phạm, và hồ sơ đã đóng.
Về việc này, ông Tú giải thích: “CIA cho tôi biết, họ biết người giết cha tôi đến lúc nào, đi xe màu gì… và chuyển hồ sơ qua cho FBI điều tra, nhưng FBI không làm tới. Ngoài ra, FBI lúc đó không có người biết tiếng Việt, và có lẽ họ chưa hiểu cộng đồng Việt Nam, nên họ không điều tra tiếp.”
“Sau này, FBI có yêu cầu tôi ký hồ sơ để họ mới có quyền lật lại sự việc trong hồ sơ lưu trữ của Bộ Tư Pháp, nhưng tôi không chịu vì tôi không còn tin họ nữa. Và từ khi phim ‘Terror in Little Saigon’ được chiếu, tôi tự đi tìm công lý cho cha tôi. Bây giờ, tôi đã có nhiều bằng chứng rồi, nên hôm nay tôi mới họp báo để cho cộng đồng biết,” ông Tú nói tiếp.
Ông Tú cũng cho biết, hiện ông đang làm việc với Bộ Tư Pháp, cơ quan chống tội phạm của Sở Thuế IRS, và một số cơ quan khác để tiếp tục truy tìm thủ phạm.
Ông cũng nhờ ba thượng nghị sĩ và hai dân biểu ở Quốc Hội giúp đỡ.
Có mặt tại buổi họp báo, cựu Thiếu Tá Đặng Văn Âu cho biết: “Tôi hoàn toàn ủng hộ việc làm của Nguyễn Thanh Tú, phải nói là một người con có hiếu.”
“Chúng ta đang sống trong đất nước tự do, không nên im lặng. Tại sao người Việt Nam chống cộng lại có thể im lặng trước cái chết của nhà báo Đạm Phong. Im lặng là đồng lõa!”
Tại buổi họp báo, ông Tú cũng đề cập tới một số cá nhân, tổ chức, và cơ quan truyền thông, mà ông cho rằng, đã vô tình hay cố ý tiếp tay cho kẻ giết người, mà nạn nhân chính là cha ông, và trả lời một số câu hỏi của giới truyền thông có mặt tại chỗ.
Ông khẳng định: “Tôi đã bắt đầu thấy ánh mặt trời, và tôi họp báo hôm nay là vì có nhiều thắc mắc trong cộng đồng. Ngoài ra, khi sự việc xảy ra, nhiều cơ quan truyền thông Việt Ngữ không làm tin và phóng sự điều tra đầy đủ về cái chết của cha tôi. Tôi nghĩ, chuyện tìm ra thủ phạm sắp sửa kết thúc.”


Liên lạc tác giả: dodzung@nguoi-viet.com

 

Wednesday, February 1, 2017

Bà Quả Phụ Lê Văn Hưng

Hình gia đình Tướng Lê Văn Hưng

 Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng hình chụp lúc mang cấp bậc Đại Tá 

 Đám cưới con gái Tướng Lê Văn Hưng

 Đám Cưới Tướng Lê Văn Hưng

 Con gái Tướng Lê Văn Hưng


 Đồng Hương Nauy giúp Bà Quả Phụ Lê Văn Hưng


 Đồng Hương Nauy giúp bà Lê Văn Hưng


Saturday, December 3, 2016

Thảm kịch mùa Lễ tạ ơn / Luke Smith killed by police in Santa Cruz

Đêm thứ sáu vừa qua, trước mùa lễ Tạ ơn 2016 một thiếu niên tên Luke Smith 15 tuổi cùng đứa bạn đã làm một liều ma túy LSD. (Lysergic Acid Diethylamide). Một thứ ma túy cao cấp mà bọn nhỏ có thể mua được ngoài đường phố. Ảnh hưởng  từ 12 giờ đến cả ngày. Có thể bọn chúng chơi thuốc quá độ, Luke phát điên vác dao về nhà chém cả bố và ông cậu. Lúc đó khoảng gần 3 giờ sáng thứ bẩy. Khi thằng con vị thành niên đi chơi khuya về nhà say thuốc thì bị phụ huynh la rầy, chuyện rất thường. Nhưng ông bố Smith không biết rằng thằng con lúc đó không còn bình thường. LSD đã biến đứa con thông minh ngoan hiền của ông thành một tên điên. Chém cả bố và ông cậu bị thương. Gọi 911. Lập tức xe cảnh sát, cứu thương và xe cứu hỏa chạy đến. 11 ông cảnh sát quận Santa Cruz từ 3 cơ quan cùng với những con chó nghiệp vụ vây quanh thằng bé. Thằng Luke, Mỹ lai Việt thân thể cường tráng, tóc để dài như tài tử trong phim hải tặc Hoa Kỳ. Khuôn mặt sáng sủa nhưng đang say thuốc rất nặng. Nó phóng lên nóc xe cứu hỏa, tay giơ con dao bấm nhỏ có 4 inch. Cảnh sát hô. Mày muốn gì. Bỏ dao xuống. Luke bỏ chạy. Từ nhà ông bố ở Amesti Rd. nó chạy qua 300 block đường và ngừng lại tại Pioneer Rd. Đoàn cảnh sát rần rần đuổi theo. Vừa chạy xe vừa chạy bộ cùng những con chó.  Rồi cảnh sát vây quanh rất gần thằng bé.. Hình ảnh quay lại toàn cảnh qua máy đeo trên người các ông cảnh sát. Vẫn những tiếng hô. Bỏ dao xuống. Mày muốn gì...Tuy thằng nhỏ chỉ có con dao pocket Knife nhưng 11 ông cảnh sát rất to lớn được huấn luyện và võ trang cùng những baton điện, không ông nào xông vào khuất phục một thằng bé điên. Sau 13 phút thuyết phục đứa bé điên vẫn say thuốc nên không bỏ dao, cảnh sát bèn bắn súng Tasers. Loại súng điện có khả năng chỉ làm đối tượng tê liệt nhưng không sát hại. Một phát trúng tay phải Luke cầm dao, nhưng không kết quả. Luke vẫn giữ chặt con dao. Bèn cho chó đặc vụ K9 vào tấn công. K9 xông vào tấn công tay phải đang cầm dao của Luke. Cảnh người và chó chiến đấu với một vòng tròn cảnh sát đứng bên ngoài thu được trên phim thực là hết sức dã man phi lý . Nhưng đó là chuyện đã xảy ra. Sau cùng, không biết ai là chỉ huy vụ này có ra lệnh hay không. Có tay cảnh sát Chris Vigil với 9 năm công vụ và hàng trăm giờ được huấn luyện về việc giải quyết mọi trường hợp. Lần này Vigil giải quyết bằng cây súng trận nổi danh của Hoa Kỳ. Ông đã bắn một loạt đạn AR 15 tàn khốc vào ngực thằng bé. Luke ngã xuống, tay còn giơ con dao nhỏ bé và chết tức khắc. Vụ thảm sát chấm dứt lúc 3:15 am thứ bẩy ngày 19       tháng 11 năm 2016 tại miền duyên hải Santa Cruz, bên bờ Thái Bình Dương. Đây là vụ súng giết người lần thứ sáu trong năm qua tại vùng đất du lịch thơ mộng ven biển CA và là vụ cảnh sát bắn người lần thứ hai trong hơn 30 ngày vừa qua. Ông Hart, cảnh sát trưởng cho biết việc làm của cảnh sát Vigil là biện phát cuối cùng. Ông nói: Vigil did not do anything wrong. Ông nói về loạt đạn AR 15 không có gì sai trái cả.

Câu chuyện không có gì sai trái cả, hiện đang là đề tài làm cho những ngày Thanksgiving của phụ huynh Aptos High trở thành u ám. Gia đình của cậu bé Luke đau thương đã đành, nhưng tất cả bạn học và những người biết Luke Smith đều đồng loạt lên tiếng khen ngợi thằng bé thông minh, tử tế, học toàn điểm A. Được cảm tình với hầu hết mọi người. Lẽ đi nhiên không ai phủ nhận chuyện chơi ma túy là vô cùng tai hại. Nhưng đem đến cái chết bất thường là điều không ai chờ đợi. Những cô bé mắt xanh tóc vàng bạn học với Luke khóc đẫm lệ nói về người bạn chết thảm thương khi được báo chí phỏng vấn. Hiệu trưởng Margaret Pughe bày tỏ sự thương cảm như dè dặt nói rằng còn quá sớm để đi đến kết luận về trách nhiệm vụ thảm sát nầy. Nhưng người đứng đầu tổ chức thanh thiếu niên tại Watsonville mà Luke là thành viên đã có ý kiến trực tiếp. Joar Opheim nói rằng thảm kịch này phải chấm dứt. Không thể chấp nhận được việc hạ sát một thiếu niên không có súng trong khi hiện trường đầy những cảnh sát và chó. Chúng ta phải làm mọi thứ cần thiết để có được công lý.

Chuyện nhà.
Chúng tôi có đọc San Jose Mercury mỗi ngày nhưng vô tình lại bỏ qua bản tin kể trên. Cô Carina Hoàng, con của trung tá Hoàng Tích Hữu Ái vừa bay từ Úc về đã liên lạc với tôi. Cháu cho biết đứa con trai của cô chị chính là người vừa bị cảnh sát Santa Cruz bắn chết. Chị cháu cũng vượt biên qua Mỹ lúc còn trẻ mấy chục năm trước. Lập gia đình với ông chồng Smith. Sinh được một gái một trai. Dường như sau đó hai người đã chia tay. Đứa con trai đầy hy vọng của người mẹ gốc tỵ nạn Việt Nam mà báo có nói đến chính là thằng nhỏ Luke mới bị bắn chết. Gia đình Carina có mấy anh chị em. Nhưng chỉ riêng Carina Hoàng cư ngụ từ Úc Châu nghe tin đã bay về CA. Những người khác ở vùng Sacramento. Tất cả đều cùng về xum họp trong một lễ tạ ơn rất muộn ở Santa Cruz. Chủ nhật này là ngày thằng nhỏ Luke Smith sinh nhật 16 tuổi. Không phải chỉ có gia đình ty nạn tham dự lễ sinh nhật trong bầu không khí tưởng niệm. Sẽ có tất cả học sinh của trường Aptos High và dân chúng dễ thương của địa phương. Ở đây họ coi nhau như một gia đình . Họ gọi nhau là gia đình Mariner. Xem ra cuộc kết hợp giữa mối tình Việt Mỹ của cha mẹ Luke không phải là trăm năm hạnh phúc. Làm ăn chật vật. Bố và ông cậu của thằng Luke chỉ vẫn là nhân công cho hãng lợp mái nhà. Cả hai anh em ông Mỹ đều bị thằng Luke nổi điên chém mấy nhát nhưng đã bình phục. Mẹ Việt Nam ở riêng đi làm nuôi con. Con gái ở với mẹ. Thằng con trai ở với bố nhưng cũng thường về ở nhà mẹ. Tang lễ của cậu bé với hình ảnh giơ dao đứng trên nóc xe cứu hỏa thách thức sẽ còn ghi dấu cho cả sở cảnh sát Santa Cruz. Khi bị bắn hạ trên đường Pioneer Rd. thằng bé vẫn còn giơ cao con dao lần chót. Hình ảnh ghi lại cảnh đứa nhỏ chiến đấu với con chó trước sự chứng kiến của 11 tay cảnh sát được đưa lên youtube hết sức bất nhẫn. Gia đình của Luke không đồng ý những cảnh sát vẫn muốn đưa ra công khai. Cũng ghi nhận thêm rằng không có chỉ dấu cậu bé dùng dao tấn công cảnh sát. Luke cùng với cơn phê thuốc LSD chỉ đứng một chỗ. Chẳng biết làm gì. Trời đã khuya. Việc thuyết phục chỉ kéo dài 13 phút. Có thể đã quá khuya. Ai cũng muốn giải tán về nhà. Không hề có một nhân vật chuyên môn kiên nhẫn đối thoại như trong phim ảnh. Không ai kiên nhẫn chờ cho nạn nhân giải tỏa được cơn điên LSD. Không nghe nói sẽ kêu mẹ hay chị gái đến để thuyết phục Luke như những bài học căn bản của cảnh sát. Những tay bảo vệ luật pháp ở đây xem ra quá vội vàng. Không hề có một chút kiên nhẫn. Thằng nhỏ hết đường chạy. Không xông vào tấn công cảnh sát. Vậy mà mấy ông thả chó vào cắn thằng bé không xong nên bắn ba phát súng điện cũng không thành công, bên dùng ngay súng trận AR 15. Như vậy từ tên thủ phạm nhỏ bé chết rồi, nó biến thành nạn nhân. Tuổi 15 bước qua 16.  Straight A student. Chưa hết trung học mà đã học thêm cả chương trình College. Cả cộng động thương tiếc. Nếu nạn nhân nằm đó rồi thì bây giờ ai là thủ phạm. Phải chăng ông bố chính là thủ phạm? Bố giết con? Ông gọi 911 để 11 ông cảnh sát của 3 tổ chức đến tham dự cuộc đuổi theo thằng bé 15 tuổi say thuốc. Hay thủ phạm là 11 ông cảnh sát đứng chung quanh coi thằng bé vật lộn với con chó. Tất cả đều muốn mọi chuyện xong sớm đề về ngủ lại. Hay là anh cảnh sát 9 năm cộng vụ với 100 giờ học về việc giải quyết vấn đề giao tế nhân sự trong giờ phút nguy kịch. Anh chỉ nhớ trang cuối cùng và giơ khẩu súng trận đi luôn một loạt đạn tàn khốc. Ông cảnh sát trưởng họp báo 2 lần và tuyên bố thuộc viên của ông đã làm đúng. Không có gì sai cả. Đây là biện pháp cuối cùng. Như vậy không có ai là thủ phạm. Thủ phạm đích thực sẽ không bị bỏ tù. Thủ phạm là LSD và AR 15.
 
Chuyện ông ngoại:                                                                       Trong khi các gia đình họp mặt dự sinh nhật cậu bé đã ra đi thì ông ngoại của cháu không có mặt. Từ nhiều năm qua cựu trung tá nhảy dù nguyên cảnh sát trưởng Tây Ninh đã nằm trong Nursing Home. Ông không sống với hiện tại. Ông không nghĩ gì về tương lai. Ông chỉ sống với quá khứ. Đầu óc lãng đãng. Lâu lâu ông trốn ra khỏi nhà dưỡng lão. Lúc tìm thấy ông trở về, quầy áo bị rách, mặt mũi xây sát nhiều chỗ. Chắc là đã bị té vào bụi gai hay vườn cây quanh vùng. Ông bình tĩnh báo cáo. Tao vừa quần nhau với cộng sản một trận. Tụi nó đâu rồi? Ông trả lời, chúng chạy hết rồi. Một tay ông tưởng tượng cầm cây M16. Một tay ông tưởng tượng cầm con dao giơ lên cao. Ông không biết rằng thằng cháu ngoại thương yêu của ông cũng đã giơ cao con dao trước khi nằm xuống. Phải mà ông biết được thì chỉ có M16 mới hạ được AR 15. Nhưng ông đâu có xài LSD. Ông vẫn còn tỉnh táo. Chuyện 20 năm quân ngũ vẫn còn nhớ như tuần trước. Chuyện 10 năm tù vẫn tưởng như hôm qua. Nhưng chuyện hôm nay, ông vừa mất đi đứa cháu ngoại. Tuyệt nhiên ông không hay. Gia đình cũng không ai nói cho ông biết. Ông ngoại đã ngoài 80, ông sống bình yên với quá khứ. Mỗi tuần ông ra ngoài phục kích đám cộng sản mò về ở chân núi bà Đen. Trận nào ông cũng toàn thắng. Con dao giơ cao trên đầu, như đứa cháu ngoại đứng trên nóc xe cứu hỏa. Toàn thắng...
Chúng tôi với tay Hoàng Tích Hữu Ái vốn cùng là lính trừ bị con nuôi của trường Đà Lạt. Ngày xưa, lúc còn tỉnh táo anh về San Jose thăm tôi. Ngồi độc thoại như Hốt Tất Liệt trong kịch của Vũ Khắc Khoan. Mấy năm sau, bệnh già có lúc tay đã bắt chuồn chuồn, con gái nhờ chúng tôi chuẩn bị cho một lễ phủ cờ. Chiến hữu trên thủ đô CA cho biết moị chuyện đã sẵn sàng. Dù bây giờ ông chẳng còn nhớ anh em. Người còn đó mà đầu óc đã phiêu bồng. Chúng tôi vẫn xin chia buồn cùng ông và tang gia. Lá cờ dành phủ cho chiến hữu vẫn còn đây. Chờ mãi tưởng người đã đi xa, nhưng người vẫn quanh đây.. Ai ngờ thằng cháu con lai của ông vừa 16 tuổi đã đi trước. Chiến tranh đã qua rồi hơn 40 năm, sao cháu ông lại chết vì đạn súng nhà binh..

Giao Chỉ, San Jose

Friday, October 21, 2016

BỐN MƯƠI NĂM QUỐC HẬN Không Quên Thân Phận Người Thương Phế Binh VNCH

            Còn nhớ lại những ngày tháng tư của bốn mươi năm về trước (30-4-1975), không biết sao mà năm đó trời bổng đổ mưa thật sớm và lớn hơn bao giờ hết. Mưa làm ngập những chiếc hố tránh đạn và giao thông hào của những người lính trận, tại các chiến trường máu lệ Phước Long, Phan Rang, Phan Thiết, Long Khánh, Hậu Nghĩa, Long An, Phước Tuy, Biên Hòa và Sài Gòn.
            Trong cơn mưa nước mắt năm ấy, có máu, thây người và xác của những cánh hoa học trò, làm nhuộm hồng áo người lính và đồng bào chiến nạn, chạy theo cơn mưa, mịt mù đạn pháo.

“ Bồ Đào mỹ tửu, dạ quang bôi
dục ẩm tỳ bà, mã thượng thôi
tuý ngọa sa trường, quân mạc vấn ?
cổ lai chinh chiến, kỹ nhân hồi ”

            Bốn câu thơ cổ trong bài ‘ Lương Châu Từ ‘ của Vương Hàn (687-726) đã nói lên thân phận của người lính chiến, sống và chết không có biên giới, nên mấy ai dám nghỉ tới chuyện trở về ?  Và giọt mưa nào đây vừa lăn trên má, đã khiến cho người lính già bồi hồi nhớ lại, một thời chinh chiến củ, những căn hầm tránh pháo ngập mưa, những nấm đất đào đấp vội vàng, để vùi bạn vữa ngã gục và những thương binh rên xiết, đang chờ cấp cứu.
            Tất cả đã thành cổ tích. Giờ chỉ còn biết ngồi  đây mà nhớ lại những ngày xa cũ. Chúng ta, tất cả đều là những người VN tội nghiệp, trót đầu thai lộn trong thế kỷ này, nên đã cùng nối vai lần lượt bước lên những giàn lửa đỏ. Cuối cùng, kẻ chết thì bị dầy mồ, tan xác, còn người sống, nếu không sống kiếp mây chiều lang thang, thì cũng lết lê phận bèo trong vùng giặc chiếm, để gục đầu thương hận, mà khóc cho quê hương vì đâu máu xương chất ngất, vì đâu mà kiếp sống của con người, tới nay vẫn không bằng cây cỏ bên đường.
            Tất cả chỉ còn là kỷ niệm trong nhớ, vào những ngày đầu đời mẹ bỏ con trong gánh dầm mưa chạy loạn, giữa tiếng bom đạn, máy bay gầm thét, của Việt Minh và Pháp.   Tóm lại, chúng ta đều ra đời và trưởng thành trong tiếng súng, cùng với bom đạn làm rách vở da thịt của quê hương. Rồi cũng vì người, vì ‘ tang bồng hồ thỉ, nam nhi trái , mà giôc ngước cả tuổi trẻ, đời trai, vào cốc men đắng cay, uống cạn hạnh phúc của chính mình.
            Đất nước hai mươi năm chinh chiến, hai mươi năm dài hờn hận, đã dày vò người lính miền Nam, trong mưa bom đạn xéo não nùng. Rốt cục những người nằm xuống, những kẻ ra đi hay ở lại chịu cảnh ngục tù khổ sai của VC, ai nấy cũng đả trả xong cái nợ ‘ da ngựa bọc thây ‘, tủi nhìn từng trang lịch sử của nước nhà, bị giặc thù bôi nhọ và khép kín.
            Trưa 30-4-1975 Sài Gòn thất thủ, miền Nam VN từ bên này cầu Hiền Lương trên sông Bến Hải, chạy ngang vĩ tuyến 17 tới mũi Cà Mâu, đã chính thức thuộc về lãnh thổ Xã Hội Chủ Nghĩa đệ tam quốc tế cọng sản, có tổng đài ở tận Nga Sô. Cũng từ giơ phút đó, khi mà chiếc mặt nạ hòa bình của người cọng sản đã cởi, để lộ những khuôn mặt thật của các thây ma vô hồn, lạnh băng và hung hiểm, thì cũng là lúc, đồng bào mới sực tỉnh và thương tiếc người lính VNCH. Nhưng than ôi tất cả đã muộn rồi, họ đã ngã gục không phải tại chiến trường vì đạn pháo của VC, mà ngay trên hè phố Huế, Đà Nẳng, Phan Thiết, Sài Gòn..bởi chính những viên đạn ích kỷ, hám danh, những miệng lưỡi ngòi bút, của chính phe mình.
            Ai chẳng một lần về với đất ? khác chăng là sớm hay muộn, vinh với nhục và sống chết sao cho ý nghĩa của một kiếp người. Chỉ tội nhất là những người lính chưa chết nhưng coi như đã chết vì thương tật chiến trận và những vết thương lòng. Họ không chết mà chỉ bị thương nặng và tất cả đã gởi lại chiến trường một phần thịt da của mẹ, ở Khánh Dương, Tháp Chàm, Phan Thiết, Xuân Lộc..và ngay tại Sài Gòn, vào lúc mà cây cột đèn cũng muốn chạy, để khỏi bị VC giết chết. Họ ở lại làm vật hy sinh cản xe tăng, hứng đại pháo của giặc thù, để kiếm thêm một chút thời gian, một bầu trời an toàn, một dòng sông lặng sóng, giúp cho mọi người từ dân tới lính, bình yên di tản.
            Nay thì từ quan tới lính, ai cũng kiếm cách đi khỏi quê nhà, bỏ lại những bóng ma của quá khứ và những người thương phế binh sống sót, tủi hờn, đang lê lết phận bèo khắp đầu đường xó chợ. Thời gian có thay đổi, lịch sử cũng sang trang nhưng thân phận của người thương binh và gia đình của họ, chẳng có gì mới lạ, vẫn lấy nước mắt làm mưa rửa mặt hằng ngày. Buổi trước, khi VC tràn vào, họ bị bỏ lại ở những quân y viện, làng phế binh, không còn đại bàng, đồng đội và hậu phương. Bây giờ thì dần hồi chết đói, chết nhục trong thiên đàng xã nghĩa, trước sự xa hoa thừa mứa của VC, Việt Gian và Việt kiều muôn phương, vinh quy bái tổ, aó gấm về làng, mà trong dòng người đổi đời này, không làm sao mà đếm hết, những cấp chỉ huy và đồng đội củ.
            ‘Có làm lính mới cảm thông cho kiếp lính nghiệt ngả đoạn trường. Có làm dân thời ly loạn mới biết được thế nào là mạng sống của con người, giữa bom đạn vô tình, héo úa còn thua cây cỏ. Có là người thương phế binh sau khi xuất viện, bỏ lại một phần cơ thể, mới thật tội nghiệp cho tuổi trẻ bạc phước vô phần. Thê thiết tận cùng là đời của người lính về chiều lại còn mang thương tật. Hỡi ôi những mảnh đời cùng khốn ấy rồi sẽ đi về đâu, trong cảnh mưa gió phũ phàng của cuộc đời ?

‘ngày xưa, là lính vì đời chiến đấu
là cầu đem người sang sông
hôm nay làm ma cô đơn, gục chết bên vệ đường ..’

1-THÂN PHẬN NGƯỜI THƯƠNG PHẾ BINH VNCH:
            Đọc Congressional Record, một trong những tài liệu tuyệt mật của Tòa Bạch Ốc vừa được công bố, đa làm cho những lính già của VNCH phải cười ra nước mắt và thương xót cho những đồng đôi, đồng bào suốt hai mươi năm qua, vì chiến đấu chống sự xâm lăng của Bắc Việt, mà chết oan hay bị mang thương tật do đạn bom và bàn tay VC gây ra. Những luật lệ kỳ quái như cấm Lính Mỹ không được bắn VC, trừ phi chúng tấn công trước. Không lực Mỹ không được giội bom vào xe của VC khi chúng ở cách đường mòn Trường Sơn 200m. Phi cơ Mỹ không được tấn công phi cơ Mig nếu chúng không gây hấn, không giội bom các phi cơ VC đậu yên tại phi trường. Cuối cùng, nghiêm cấm quân Mỹ truy đuổi VC, khi chúng chạy sang Lào và Kampuchia..
            Chính phủ Hoa Thịnh Đốn, chẳng những cấm Quân Lực Mỹ, Đồng Minh, VNCH không được thẳng tay tiêu diệt kẻ thù, mà còn báo trước những bí mật quân sự, quốc phòng cho VC biết trước, qua những lần oanh tạc tại miền Bắc, trên đường mòn HCM, hành quân Lam Sơn 719.. Đó là tất cả những sự kiện lịch sử có thật, được Thứ Trưởng QP Mỹ Phil Golding thời TT.Johnson, trả lời thắc mắc của hàng ngàn gia đình tử sĩ Hoa Kỳ:’ Chúng ta đang tham gia vào một cuộc chiến giới hạn, với những mục tiêu hạn chế. Nói chung đây là một cuộc chiến vì chính trị, nên không thể tiêu diệt VC được ‘.
            Do sự phản ứng càng lúc càng đông của người Mỹ, trước cái gọi là ‘ đánh không cần thắng ‘, nên dân chúng đã xuống đường, đã đảo mà báo chí thời đó gọi là do phản chiến giựt dây. Thật sự, người Mỹ đã quá chán ngấy cái trò đem con bỏ chợ, đem trứng cho ác, dai dẳng từ thời Kennedy, Johnson, kế đó là Nixon, nên đã giận dữ đòi Hoa Thịnh Đốn ‘ Hãy cút khỏi VN ngay, hãy chấm dứt cái trò chiến tranh nướng thịt dai dẳng vô ích này .’
            Tóm lại, qua cuộc chiến VN do đầu óc con buôn,  người Mỹ đã đánh mất tất cả mọi ý thức về trách nhiệm và danh dự, làm tiêu tốn hơn 150 tỷ mỹ kim tiền đóng thuế của dân chúng, hại cho 55.000 chiến sĩ bị chết oan và hơn 300.000 quân nhân các cấp bị thương tật. Trong khi đó, người lính VNCGH, dù là một quân đội bất hạnh nhất thế giới, theo báo cáo của MACV, Command History hay Dwight Owen, một cố vấn Mỹ tại VN, thì đối với các quân nhân VNCH, CHỈ CÓ CHẾT, TÀN PHẾ HAY ĐÀO NGỦ, mới mong giải thoát được cái thân phận bọt bèo của người Lính chiến trong thời loạn lạc.
            Ngoài ra tài liệu cũng có nói tới việc lính Nam VN đào ngủ, nhưng không phải họ đầu hàng VC, mà trở về quê nhà gia nhập lực lượng DPQ+NQ, để được chiến đấu bên cạnh vợ con, gia đình. Sau rốt tính đến đầu năm 1975, QLVNCH đã có 231.508 tử sĩ và 95.371 phế binh. Thương tủi nhất, là những ngày tháng sau đó cho tới khi Nam VN sụp đổ vào ngày 30-4-1975, đã có hằng vạn dân lính vô tội gục ngã trên chiến trường và khắp các nẻo đường chạy loạn. Nhiều tử sĩ cũng như thương binh đã bỏ thây, bỏ xác tại chỗ, vì đồng đội không thể làm gì hơn giữa chốn loạn quân. Chính binh chủng Nhảy Dù từ ngày thành lập cho tới khi tan hàng, cũng đã phải nuốt lệ, bỏ lại xác đồng đội tại Mặt Trận Xuân Lộc tháng 4-1975, như Phạm Huấn  đã viết, khi được lệnh rút quân bất ngờ trong đêm mịt mù lửa đạn..
            Trước sự sụp đổ nhanh chóng và vô lý của Nam VN không phải tại chiến trường, mà ngay ở các thành phố lớn Ba Lê, Hoa Thịnh Đón, New York, Luân Đôn, La Mã, Huế-Đà Nẳng và Sài Gòn, khiến cho nhiều trí thức ngoại quốc đã phẫn nộ và bày tỏ thái độ khinh miệt, đối với một số người trong cũng như ngoài nước, một thời lợi dụng tự do, dân chủ và nghề nghiệp, để bẻ cong ngòi bút, xuyên tạc sự thật, phỉ báng đồng bào và quân đội Nam VN với mục đích đầu độc dư luận thế giới, giúp Bắc Việt cưỡng chiếm VNCH. Đề tài quen thuộc, được một số báo chí Hoa Kỳ và Tây Phương viết lách, đem lên truyền thanh truyền hình, đó là người lính VNCH hèn nhát không chịu chiến đấu nên bị mất tự do và người Mỹ khinh miệt.
            Hai câu hỏi trên cách đây vài chục năm được bịa chuyện là có, nhưng bây giờ sự thật đã xác nhận ‘ KHÔNG ‘. Hoa Kỳ khi tới chiến đấu tại Nam VN, có đủ phương tiện tinh thần cũng như vật chất, vẫn nhiều lần bị thương vong, bại nhục., vẫn không thiếu những binh sĩ đào ngủ, bỏ chạy khi trận địa hỗn loạn, vẫn có tham nhũng và chính cưu TT. Bill Clinton, vì hèn nhát nên đã trốn quân dịch pháp định. QLVNCH chỉ mới thành lập, được coi là một quân đội nghèo nhất trên thế giới, lại bị chiến đấu trong một cuộc chiến không có giới hạn chiến trường, hậu phương, bạn địch.
            Thế nhưng những người lính nghèo đó, mà lương năm cộng với tiền tử tuất, phế tật, không bằng một cuốc rượu của những ca ve, me Mỹ..vậy mà họ vẫn một đời đem máu đào xương trắng, phụng sự chính nghĩa, bảo vệ màu cờ, sắc áo và từng sinh mạng cũng như tất đất của quê hương. QLVNCH là sinh mạng của muôn người, nên khi thiếu vắng hay không còn họ, mạng người Nam VN lá rụng, đã gục ngã tại Mậu Thân Huế-Sài Gòn, trên các đại lộ kinh hoàng quốc lộ 1, Kontum, An Lộc mùa hè đổ máu và sau rốt là cùng nhau chết tập thể vào ngày 30-4-1975. Như  sử gia Edward  S.Creasy viết trong tác phẩm nổi tiếng ‘ Fifteen Decisive Battle Of The World ‘ năm 1851 ‘ Tầm quan trọng của một cuộc chiến, là những gì ta có hôm nay, đối với người thắng cũng như kẻ bai ‘. Những gì đã xảy ra tại Nam VN, sau 37 năm bị cong sản cưởng chiếm, đã đủ trả lời về tấn thảm kịch của VN, mà lần nữa Robert S.McNamara cựu bộ trưởng QP. Thời TT Kenedy, đã giải thích một chiều trong hồi ký của mình ‘ In Retrospect-The Tragedy and Lesson of VN ‘.
            Nhưng không phải tất cả người Mỹ đều mù quáng và tin tưởng vào truyền thông báo chí lúc đó. Chính những giờ phút cuối cùng, nhìn cảnh đời bi thảm của phận lính bọt bèo Nam VN trên màn ảnh, tờ The New York Times Service, đã thay thế người  nhược tiểu, giận dữ tố cáo chính quyền Mỹ là hèn nhát, bỏ đồng minh tháo chạy về nước trước sự tấn cộng của VC. Họ cũng nêu đích danh Henry Kissinger là kẻ bán đứng VNCH cho VC khi bắt ép họ ký vào bản hiệp ước giả mạo 1973, sau đó tàn nhẫn cúp viện trợ, phủi tay đứng nhìn miền nam sụp đổ.
            Không có gì tồn tại với thời gian trừ chân lý. Vì vậy những câu chuyện hề của Henry Winston chủ tịch đảng cọng sản Mỹ, đem diễn tại Hà Nội  vào tháng 5-1975, hay lời tuyên bố vung vít của Nguyễn Hữu Thọ, chủ tích bù nhìn của Mặt Trận Ma giải phóng, tại Mạc Tư Khoa, ngay khi Sài Gòn thất thủ: ‘ cám ơn báo chí và ký giả Tây Phương, đã góp phần lớn cho chiến thắng của Hà Nội, trong số này đáng kể là người Mỹ ‘.
            Đây là tất cả sự thật, vừa được một cựu chiến binh Không Quân Hoa Kỳ là Harry H.Noyes, thay mặt những người lính VNCH, qua tác phẩm ‘ Heroic Allies ‘ nói lên vinh quang và sự hãnh diện của một quân lực, từ lâu đã bị bọn trí thức vô liêm sỉ, tước đoạt một cách hèn hạ, bất nhơn và vô nhân đạo. Sự tuyên truyền lố lăng và cuồng ngạo của Hà Nôi cùng những mặt mo bưng bợ, làm cho thiên hạ năm châu chán ghét, sau khi cái thây ma VNCH chỉ còn trơ lại bộ xương gầy đét, không còn gì để cho Huỳnh Liên, Ngô Bá Thành, Huỳnh Tấn Mẫm, Chân Tín và một số quạ đen, diều hâu, bu tới rỉa rói như lúc chợ còn đông khứa.
             Trong tài liệu đặc biệt ‘ How Media Bias Distorts Our View of the World ‘ của ký giả Allan Brownnfiels, nói rằng vì hầu hết giới truyền thông Tây Phương, quá mù quáng, ca tụng một chiều về Mao Trạch Đông và Fidel Castro, trong lúc thẳng tay sỉ nhục bôi lọ Tưởng Giới Thạch và chính phủ CuBa lúc đó, tuy vô tình nhưng đã làm cho cọng sản tại hai nước này chiến thắng mau lẹ. Bài học của lịch sử sau đó lại tái diễn ở Nam VN. Lần này do chính những thành phần được ưu tiên trạng trọng trong xã hội  lúc đó, là những công tử tiểu thu đài cát của giới địa chủ, địa hào, thương gia, chủ vựa nước mắm, nhờ cha mẹ tổ tiên theo thực dân Pháp bốc lột đồng bào, nên có tiền, có thế, cho con trai, con gái qua Pháp, Mỹ du học thành luật sư, bác sỷ, giáo sư, những thành phần mà Hồ Chí Minh và đảng VC ở miền Bắc, chém giết và khinh bỉ tận tuyệt, sau khi được làm chủ nửa miền đất nước vào năm 1954.
            Nhờ cái mặt nạ trí thức và sự tự do quá trớn của Nam VN, những thành phần ăn chén đá bát này, luôn bẻ cong ngòi bút, làm cho thế giới tự do lầm lạc, nghĩ  rằng giặc Cộng tại Nam VN là những người bình thường, yêu nước, nên nỗi dậy chống lại sự độc tài tham nhũng của chế độ. Tóm lại nhờ những trí thức này, mà VC nằm vùng sau ngày tập kết 1954, VC chính thống từ Miền Bắc xâm nhập, kể cả Tàu Cộng, Liên Xô, Cu Ba, Đông Âu..trong bộ đội Hà Nội đang chiến đấu tại Nam VN, đều không có dính líu tới Hồ và cọng sản đệ tam quốc tế. Sự độc ác trên, nhờ tuyên truyền ngay ở miền Nam và các mạng lưới quốc tế, khiến cho cuộc chiến chống xâm lăng cọng sản, của người Việt quốc gia Nam VN, mất đi cái ý nghĩa chính thống, làm cho Hoa Kỳ cũng gặp nhiều khó khăn khi sang chiến đấu bảo vệ tiền đồn chống cộng ở Đông Nam Á. Rốt cục, cả Mỹ lẫn Việt đều đại bại trước mặt trận thông tin ca ngợi VC, của báo chí, truyền thông ngoại quốc và ngay trong nước.
            Từ năm 1965, Hoa Kỳ bắt đầu đổ quân dồn dập vào Nam VN, cũng là thời kỳ lửa máu  ở hậu phương . Đây cũng là dịp ăn nên làm ra của những thông tín viên, ký giả ngoại quốc, qua những bài tường thuật có kèm hình ảnh, không phải để phổ biến những sự thật, mà chỉ để tuyên truyền một chiều, nhằm bôi lọ những quân đội đang trực diện với cọng sản Bắc Việt, trên chiến trường Nam VN. Có thể nói bài phóng sự chiến trường đầu tiên, của thông tín viên đài CBS tên Morley Safer, viết về cuộc hành quân của một đơn vị TQLC Mỹ tại  một làng xôi đậu, đã trở thành những mẫu thông tin ‘ ăn khách’, theo đơn đặt hàng của thị trường Mỹ và Tây Phương lúc đó. Cũng nhờ báo chí  phản tuyên truyền, Tết Mậu Thân 1968 VC chết thảm khắp nơi, đã thành chiến thắng chiếm được ngay cả Tòa Đại Sứ Mỹ ở Sài Gòn. Tàn nhẫn và đáng khinh tởm nhất, là báo chí Tây Phương, trong suốt cuộc chiến Nam VN, đã không hề một chữ tường thuật những hành vi khủng bố, giết người tàn bảo của VC trong trận Mậu Thân 1968 tại Huế, năm 1972 và những ngày di tản máu lửa hận hờn
             Người lính VNCH vừa đánh giặc phương Bắc, vừa chống đỡ búa rìu truyền thông báo chí trong nước cũng như phong trào phản chiến tại Mỹ và tây phương, được liên kết bởi trí thức, sách báo và tuyên truyền. Đó cũng là lý do đưa đến sự sụp đổ tất yếu của một dân tộc hiền hòa, lễ nghĩa nhưng bất hạnh vì mang thân phận nhược tiểu

2 - THƯƠNG QUÁ NGƯỜI PHÊ BINH VN:
            Tất cả hình như chỉ còn có kỹ niệm sau cuộc đổi đời. Là định mệnh mà chúng ta, những kiếp trai thời loạn phải gánh chịu, theo vòng đời nổi trôi của dòng sông lịch sử, dù vô lý, dù hờn căm, dù bất công thương hận.
            Mất nước nhà tan, nguời lính sống sót sau cuộc chiến, rã ngũ tan hàng đầu sông cuối bể, tha phương thì dần chết trong men đời cay đắng, còn tù ngục chịu cảnh nhục hờn. Nhưng tất cả giờ cũng đả đi hết rồi, chỉ còn ở đây là những thương phế binh xa cũ, những hồn ma cô quạnh, sống với quá khứ liệt oanh, qua những vết thương đời không hề hối hận:

Di tản khó, sâu dòi lúc nhúc
trong vết thương người bạn nín rên
người chết mấy ngày không lấy xác
thây sình mặt nát, lạch mương tanh..’
( Tô Thuỳ Yên)

            Ta thán phục, ta hãnh diện biết bao, khi đọc được những trang sử cũ. Sẽ vui cười hớn hở cùng với tiền nhân qua những lần bình Chiêm, phá Bắc, đuổi giặc Mông trên sông Bạch Đằng, đốt tàu Pháp tại Vàm Nhật Tảo. Không biết những trang quân vương dũng tướng thời xưa, hành sử thế nào mà muôn người như một, khiến cho người trong nước, gia trẻ lớn bé, đều nguyện một lòng giết giặc cứu nước tại Hội  Nghi Diên Hồng. Sau này mới vở lẽ, thì ra đó là tinh thần trách nhiệm, cũng như bổn phân của kẽ sỉ thời tao loạn. Hay đúng hơn, đó là đức tính cao quí của thanh niên-sĩ phu, dù họ chỉ là những người bình dân ít học.

Tôi không là tôi nửa,
từ khi được xuất ngủ
có quạ đen đậu trên đấu
có bao nhiêu đợi chờ đau khổ..’

            Thanh niên VN thời nào cũng vậy, tất cả đều đặt trách nhiệm làm trai trên hết, nên chúng ta ngày nay mới còn có đất nước, để mà vui sướng, đau khổ. Hỡi ơi, có làm lính mới hiểu phận bèo của lính, có là thương phế binh sau khi được xuât ngủ, mới thấm thía được nỗi buồn của một kẻ tàn tật, mất tất cả, ngoài người mẹ già từ quê xa, đang đợi con trở về. Thê thiết quá cũng như đau đớn tột cùng, kiếp lính chiều tàn là thế. Sự thật là vậy, có khi còn đau đớn trăm chiều. Ai đã tùng thấy chưa,  cảnh vợ lính hay người yêu, chỉ một lần vào thăm người thân nơi quân y viện, rồi chẳng bao giờ quay lại, ngoài những giọt lệ cá sấu, vô tình còn vương vãi đó đây. Ai có một lần ngược xuôi trên các nẻo đường thiên lý, tình cờ hội ngộ những chàng trai tàn tật còn rất trẻ, những người mù, què, mặt mày in đầy thương-sẹo bởi đạn bom, đang lần mò ngửa tay chờ bố thí của mọi người. Họ là lính chiến của một thời oanh liệt, là thương phế binh QLVNCH đó, họ đau khổ mang thương tật không phải do bẩm sinh, mà vì đời, vì người gánh chịu:
            Theo sử liệu, ta biết Nha Cựu Chiến Binh và Nạn Nhân Chiến Cuộc, trược thuộc Bộ Quốc Phòng. Đầu tiên Nha này là một Bộ, được thành lập vào tháng 8-1952, có một An Dưỡng Đường dành cho Thương Phế Binh. Sau đó, bộ này bị hủy bỏ, tất cả các vấn đề liên hệ tới cưu chiến binh, đều giao cho Bộ Y Tế, với một Nha riêng gọi là Nha Tổng Thư Ký, Cưu Chiến Sĩ và Phế Binh.
            Thời VNCH, qua một Đại Hội Cựu Chiến Sĩ toàn quốc tại Toà Đô Sảnh Sài Gòn. Ngày 29-5-1955, Nha Tổng Giám Đốc CCB và NNCC đưọc thành lập, trụ sở ở đường Đoàn Thị Điểm. Sau Tết Mậu Thân 1968, Nha được cải thành Bộ, gồm các Nha Sở Trung Ương và các Ty trực thuộc .
            Đầu năm 1969, một biến cố lớn đã xảy ra tai thị xã Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Đó là vụ Y Sĩ Đại Uý Hà Thúc Nhơn, trưởng trại 12 Tai, mắt, mũi, họng, thuộc Quân Y Viện Nguyễn Huệ. Vì dám tố cáo Chỉ Huy Trưởng QYV là Thiếu Tá Phùng Quóc Anh, với sĩ quan hành chánh Đặng Mai, toa rập tham nhũng, ăn xén tiền ẩm thực của thương bệnh binh, cũng như mờ ám trong các vụ cứu xét, phân loại trợ cấp, miễn dịch. Đại Uý Nhơn đã cầm đầu các bệnh binh nổi loạn, nên bị Tỉnh trưởng Khánh Hòa lúc đó là Đại Tá Lý bá Phẩm, nguyên Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 43 BB. Biệt Lập, ra lệnh cho DPQ bắn trọng thương và đã chết khi chở vào cấp cứu tại Cam Ranh.
            Ngày đưa tang người xấu số, cũng là thời điểm Phế Binh Khánh Hòa đứng dậy đòi quyền sống. Taị Sai Gòn, Trung Úy mù BDQ.Đổ văn Lai cùng một số phế binh nặng, đang dưỡng thương tại Trung Tâm Chỉnh Hình, đường Bà Huyện Thanh Quan, cũng biểu tình, cắm dùi khắp Đô Thành, đòi Chính Phủ phải cứu xét lại quyền lợi của họ, trước vật giá leo thang đắc đỏ, do sự hiện diện của Mỹ và Đồng Minh, vung đô la xanh đỏ qua cửa sổ như khói thuốc. Phong trào tranh đấu bùng nổ khắp nước, làm cho chính quyền trung ướng cũng như tại các tỉnh bối rối, vì không thể dùng bạo lực để chèn ép hay khóa miệng, bởi phế binh cũng là lính, nên ai nỡ xuống tay .
            Rồi Tổng Hội Thương Phế Binh ra đời tại Sài Gòn, bầu PB Nguyễn Đinh làm Hội Trưởng, PB Nguyễn Bính Thịnh, tức nhà văn An Khê, làm phó và PB Đinh Trung Thu, tổng thư ký. Ngoài ra còn có một Hôi Ái Hữu Thương Phế Binh, do cựu Thiếu Tá Nguyễn Văn Hàng thành lập.
            Thời Đệ Nhị Cộng Hòa (1967-1975) bắt đầu năm 1969 trở về sau, quyền lợi của Phế binh, cô nhi quả phụ càng ngay càng được  cải tổ, chăm sóc và dễ thở hơn trước. Nạn chèn ép, dìm sổ trợ cấp để làm tiền cũng chấm dứt. Từ năm 1972, chính phủ cho thành lập  Ty Cựu Chiến Binh tai các Tỉnh, có quyền hạn rất rộng rải, ngoại trừ sổ trợ cấp đầu tiên được ký cấp từ Bộ. Cũng từ
dó, nguời cô nhi, quả phụ và thương phế VNCH, được sống an nhàn hơn buổi trước, với các quyền lợi thiết thực, tương xứng, từ trợ cấp, xin việc làm, y tế, cho tới các kỳ thi, tất cả đều ưu tiên cho họ.
            Rồi thì hằng loại Làng Phế binh, lần lượt ra đời tại quận cũng như thị xã. Riêng những phế binh đã có nhà, không muốn vào Làng, dược trợ cấp một ngân khoản 60.000 đồng. Tất cả các làng trên, đều bị VC cướp giựt sau ngày 30-4-1975.
            Làm người bình thường, sống trong thời loạn, đã phải khốn khổ vì miếng cơm manh áo, huống chi  phận lính nghèo, lãnh đồng lương chết đói, vậy mà còn bị trí thức nguyền rủa, là lính đánh thuê cho Mỹ..

Giọt mưa trên lá, nước mắt  mặn mà
thiếu nữ mừng vì tan chiến tranh chồng về
mẹ lần mò, ra trước ao, nắm áo ngưởi  xưa, ngỡ trong giấc mơ
tiếc rằng ta, đôi mắt đã lòa vì quá đợi chờ..’
(Phạm Duy).

            Nhưng chiến tranh chứa dứt và vẫn còn khốc liệt, nhưng người xưa nay đã thành tàn phế, vô dụng, lê lết đời tan xuân héo, lần mò trở về làng xưa, với những kẻ thân yêu, mong chút tình thân đùm bọc.
            Ai có cảm thông chăng người lính mù trẻ tuổi vì đạn B40, lần mò trên chiếc xe lăn, quanh bến phà, bến xe, miệng hát tay đờn kiếm sống ? Có thương không những người lính trận, bán thân bất toại, lê lết khắp các nẻo đường phố thị, để bán vé số, sách báo, đắp đổi qua ngày. Và còn nửa, còn trăm ngàn thảm kịch của tuổi thanh niên thời loạn, chân gỗ tay nạng, mắt mũi vàng khè, khô nám, luôn đau đớn bởi những hậu chứng, sau khi giải phẫu. Nhưng họ vẫn lao động để sinh tồn, đi biển, làm nông, lết lê trên ruộng trên sóng, đội nắng tấm mưa. Kiếp sống phận bèo của người phế binh là thế đó, nên phải chiếm đất cắm dùi, cũng là chuyện bình thường
            Hai mươi năm chinh chiến, dù có gọi bằng một thứ danh từ gì chăng nửa, thì xác của nam nữ thanh niên hai miền đất nước, cũng đã chất cao như núi, máu chảy thành sông. Rốt cục  chỉ có cái vỏ độc lập, hòa bình, tự do, thống nhất. Người cả nước đói vẫn đói và đời sống càng bị tù hãm tứ phiá, bởi cổ được mang nhiều thứ gông, cả cọng sản, lẫn tư bản và đảng cầm quyền.
            Nhưng thê thiết nhất vẫn là những người phế binh VNCH. Ngày xưa lúc chế độ củ còn, được nói, được hưởng đủ thứ quyền lợi..thế nhưng họ vẫn sống bèo bọt, cực nghèo. 30-4-1975, VC vào tóm thu tất cả, thêm vào đó là chuyện trả thù. Lính sống thì đi tù, lính chết thì cầy mộ, còn lính què đui tàn phế, thì bị xua đuổi ra khỏi các quân y viện, làng phế binh và ngay cả ngôi nhà của mình.

 19-4-1975 tại Quân Y Viện Đoàn Mạnh Hoạch, Phan Thiết.
 30-4-1975 tại Tổng Y Viện Cộng Hòa-Sài Gòn.

            Thảm họa gì đã đến với các thương bệnh binh còn đang điều trị, khi giặc về ? Có ai cầm được nưóc mắt trong cảnh đoạn trường máu lệ, khi từng đoàn thương binh, nối gót đắt dìu ra cổng. Người sáng giắt kẻ mù, kẻ bị thương nhẹ cõng người trọng bệnh. Khắp lối ra vào, máu me vương vãi với nước mắt đoanh tròng của những nạn nhân bị bỏ rơi, không đại bàng, chẳng đồng đội và cũng hết hậu phương. Một số chết vì vết thương quá nặng, số khác sống trong cảnh tàn phế vĩnh viễn, vì vết thương không được tiếp tục điều trị. Đời thê thảm quá, cũng may lúc đó quanh họ, còn có những cô gái bán phấn buôn hương ở Ngã ba Chú Iá, Gò Vấp, những người xích lô ba gác, kẻ cho tiền, người giúp công, đưa hết những bệnh nhân xa xứ, tới bến xe về quê sống tiếp kiếp lính bèo.
            Cuộc đổi đời nay đã xa lắc nhưng mỗi lần nhớ cứ tưởng mới hôm qua hôm nay. Ba mươi ba năm rồi ta còn sống được, để nói chuyện văn chương chữ nghĩa trên đất người, đã là điều đại phúc. Trong lúc đó nơi quê nhà ngàn trùng xa cách, những người phế binh năm nào, không biết nay ai còn ai mất. Nhưng chắc chắn một điều, dù họ có sống hay đã chết, thì hận nhục, thương đau cũng đâu có khác gì. bóng ma trơi, những mảng đời nghèo hèn tăm tối. Đâu có ai muốn nhắc tới những thân phận hẳm hiu trong vòng đời tục lụy, kể cả những cấp chỉ huy củ, hiện đổi đời giàu sang, mồm to miệng thét ở hải ngoại.

- Xin hãy thương lấy ho, hãy cứu vớt họ đang trôi nổi trong ngục tù nghiệt ngả.
- Phế binh cũng là một phần của tập thể cựu quân nhân hải ngoại.
- Hãy rớt một chút ân thừa cho những thây người còn sống sót trong bể hận trầm luân.
- Hãy cho họ một chút tình thương trong cơn hấp hối
- Hãy dành cho họ một chút không gian nho nhỏ, trong căn nhà VN to lớn, đã được các cộng đồng tị nạn hoàn thành trên khắp nẻo đường viễn xứ, để họ an tâm chờ đợi luân hồi và một vòng hoa tặng người chiến sĩ ca khúc khải hoàn, mà chắc chắn phải có trong thời gian gần.

            Ngày xưa người chinh phụ, giữ sạch tâm hồn và băng trinh tuổi ngọc, để đợi chồng ngoài quan tái, hy vọng cuộc chiến mau tàn, để phu phụ trùng phùng, kết lại mối duyên xưa:

Xin vì chàng xếp bào cởi giáp
xin vì chàng giũ lớp phong sương
vì chàng tay chuốc chén vàng
vì chàng điểm phấn, đeo hương não nùng
liên ẩm, đối ẩm, đòi phen
cùng chàng lại kết, mối duyên đến già ..’
(Chinh Phụ Ngâm)
 
            Nhưng người chinh phụ VNCH lại không có cái diễm phúc đó, vì khi quê hương vừa ngưng tiếng súng, lập từ quan quân cho tới sĩ thứ, những người bại trận, lớp lớp vào tù. Lính chết đã rục tử thi vẫn bị dầy mồ, lính bị thương tàn phế bị xua đuổi ra khỏi cuôc sống. Thử hỏi trên thế gian này, có kiếp người nào, đáng thương hơn người lính VNCH ?

Dấu binh lửa nước non như củ,
kẻ hành nhân qua đó chạnh thương’
(Chinh Phụ Ngâm)

            Cuộc đời thanh niên thời loạn ly, rốt cục chỉ còn lại nổi buồn thiên cổ, xin hãy nâng ly rượu sầu lên môi mà nhớ . Nghiêng mình, cúi đầu cảm tạ những vị ân nhân, đã và đang hết lòng cưu mang, giúp đở tận tình ‘ Thương Phế Binh, gia đình kể cả cô nhị quả phụ VNCH ‘, hiện đang sống kiếp trầm luân rách đói, trong địa ngục VN.
        
Xóm Cồn Ha Uy Di
Mường Giang