Thursday, August 22, 2019

Thầy Thạch Trung Giả - BXC

Năm 1955, từ miền Bắc, tôi tránh họa cướp cộng sản, nên cùng gia đình bỏ lại quê hương thân yêu, nơi chôn nhau, cắt rốn để suôi Nam.
S học hành lem nhem của tôi ở xứ Bắc khiến tôi không biết mình thực sự đang có trình độ của lớp nào.
Khi tôi tới Saigon, thì các trường còn đang nghỉ hè. Tôi được phép ra Nha Trang tắm biển và nghỉ một tuần, rồi sẽ phải về Saigon học.
Tuy nhiên, Nha Trang đã chiếm được trái tim tôi. Hết một tuần được phép ở Nha Trang, tôi đã không trở lại Saigon, và ghi tên học lớp đê Tứ, tại một trường Tư thục nhỏ, là trường TƯƠNG LAI  ở số 7 đường Công Quán, Nha Trang.
Tôi xin ghi lại it dòng về một vị thày của Trường Tương Lai. Nếu quý bạn không thấy nhạt nhẽo, vô duyên, thì tuần tới, tôi lại xin viết về các thày khác thời Trung Học của tôi.
                   THẦY THẠCH TRUNG GIẢ
Thầy dạy Việt văn lớp Đệ Tứ  của tôi ở trường Tương Lai, Nha Trang,là giáo sư Thạch Trung Giả -Người Trong Đá-. Đây là biệt danh của thầy. Chỉ tới khi viết bài này, tôi mới tìm ra tên của thầy. Thầy viết sách, viết báo, dạy học, làm thơ…nhưng đều ký bút danh là Thạch Trung Giả, nên không ai biết tên thực của thầy.
Mấy ngày trước khi thầy tới dạy, ông Hiệu Trưởng Thái Văn Châu, trong lúc dạy toán, đã ngừng giảng it phút để quảng cáo về thầy Giả : “ Năm nay lớp này sẽ đậu hết ! Tôi đã mời được ông thầy lừng danh để dạy quốc văn. Rồi các anh sẽ được học với  thầy  Thạch Trung Giả , độc nhất của trường ta
Chúng tôi hồi hộp đợi ngày thầy Giả tới. Ông có vóc người tầm thước, vẻ mặt thanh tú, tóc hớt ngắn, phục sức giản dị, tiếng nói trầm ấm. Ngay buổi học đầu tiên, ông đã “hớp hồn” chúng tôi. Với phong cách của một nghệ sĩ, ông giảng bài cho học trò mà say sưa như đang diễn thuyết cho một đám thính giả vô hình nào đó. Đôi lúc ông mới “bừng tỉnh” và quay về với vai trò của một thầy giáo giảng bài trong lớp.
Những bài luận văn chúng tôi viết đều bị ông sửa be bét, từng câu, từng chữ.
Ngày nay, mỗi khi viết, dù chỉ là một câu giản dị, tôi cũng ngập ngừng suy nghĩ, vì tôi như vẫn còn thấy những trang giấy luận văn của tôi bị thầy Giả gạch xóa đầy mực đỏ. Tôi phải gắng hết sức khi làm các bài luận Việt văn,  cản thận dò từng dấu chấm, dấu phết và những từ ngữ Hán Việt. Nhờ sự cố gắng đó, ông không còn gạch xóa  bài viết của tôi nhiều như trước. Bài của tôi đôi khi được ông đọc cho cả lớp nghe.
Một hôm thình lình ông hỏi tôi có phải là người trong họ của ông Bùi Xuân Uyên không. Tôi ngạc nhiên và không biết tại sao ông hỏi như thế. Thì ra Bùi Xuân Uyên là chủ nhiệm tờ Tập san Thế Kỷ,  tờ báo ông thày thường đăng bài và thơ. Nghe tôi trả lời không biết Bùi Xuân Uyên là ai, ông có vẻ thất vọng, nhưng không nói gì.
Hồi ấy chúng tôi không  biết đang được một vị thày lừng danh dạy dỗ. Sau này rất lâu, khi đã vào Saigon, và học tới Đại học, tôi mới biết thầy tôi là một học giả uyên thâm, đã từng giảng dạy Quốc Văn và Triết học ở các trường danh tiếng, như trường Võ Tánh,Trường Bồ Đề, trường Lê Quý Đôn, và cũng là giảng sư Triết cuả Đại Học Vạn Hạnh.
Thầy cũng viết sách viết báo. Thầy viết nhiều bài cho tạp chí Thời Tập và là tác giả của cuốn  Văn Học Phân Tích Toàn Thư” dầy hơn 700 trang, một cuốn sách giáo khoa dạy đọc và viết văn, do Lá Bối xuất bản lần đầu năm 1973. Thày Giả cũng là tác giả những dịch bản nổi tiếng:  
Nhất Nguyên Thế Giới (tuyển dịch Swami Vivekananda, Thái Bình Dương xuất bản, 1971) -  
Áo Nghĩa Thư Upanishads (dịch kinh văn Shri Aurobindo với lời bình giải, An Tiêm in 1973) -  
Số Không với Vô Tận (dịch Le Zero et L'Infini của Arthur Koesler, An Tiêm 1973).
Thạch Trung Giả xuất hiện trên tạp chí Thế Kỷ ở Hà Nội từ 1950 tới 1954, bên cạnh những Bùi Xuân Uyên, Trúc Sĩ, Triều Ðẩu, Tạ Tỵ, vào Nam viết cho tạp chí Liên Hoa, Thời Tập, đặc biệt về thơ luận và triết thư. “Văn thơ ông rành rọt, khúc chiết, trải nghiệm, câu nào câu nấy như nét chạm trổ. ” (Viên Linh-  Tạp Chí Văn Học)
Trong Tạp chí Thời Tập, Chủ Nhiệm là nhà thơ Viên Linh viết về Thạch Trung Giả như sau:
Giáo sư, Học giả, Thạch Trung Giả tên thật là Trần Văn Long, không rõ ngày năm sinh, dạy Quốc văn và Triết học tại trung học Võ Tánh, Nha Trang. Thạch Trung Giả vóc người đầy đặn, trên trung bình, tóc cắt ngắn, gọn ghẽ, mang kính trắng, mặc đồ trắng, không để lại một cảm giác gì rõ rệt nơi người đối diện, ngoài cảm giác là một người chin chắn, chững chạc, ăn mặc xuề xoà xong thôi. Bài ông viết kỹ, lối viết không để ai có thể biên tập, thêm thắt… Ông thuộc lớp những nhà văn miền Bắc khi di cư vào Nam vừa có danh, nhưng chưa có tác phẩm in thành sách hoặc chỉ mới có một cuốn những năm 1952-1953. Phần lớn các nhà văn nhóm Thế Kỷ sinh khoảng 1920-1925, khi vài Nam vừa ở tuổi trên dưới 30. Tôi đoán Thạch Trung Giả sinh trong khoảng này”
Khi Ban Mê Thuột thất thủ vào tháng 3 năm 1975, Tạp chí Thời Tập của Viên Linh xuất bản số báo cuối cùng. Trong số báo này, ông Viên Linh có đặt ra hai câu hỏi cho các nhà văn. Một trong hai câu hỏi đó như sau : “ Anh/chị có phải từng tự hỏi về vai trò người cầm bút là mình, trước một tình thế đất nước biến động như trong những ngày qua hay không ?”
Giáo sư Thạch Trung Giả đã “trả lời” câu hỏi của Viên Linh bằng một bài thơ như sau:
                        Những Ai Nằm Đó?
Nhửng ai nằm đó?
Dưới khuya này thăm thẳm mấy ngàn năm
U minh hình bóng trập trùng
Miên miên Đất Tổ vua Hùng dựng nên
Bước chân chạm mấy cửu tuyền,
Mấy tầng huyết đổ lệ hoen chốn này
Những ai nằm đó?
( Thạch Trung Giả trả lời Viên Linh, Thời Tập số 23 Saigon 15-4-1975)
Tôi nghe tin giáo sư Thạch Trung Giả đã tự tử  tại một ngôi chùa nào đó, sau khi cộng sản chiếm Saigon năm 1975, nhưng không biết hư thực. Mới đây, đọc trên Net, thấy có người học trò cũ ở trường Võ Tánh viết về Thầy như sau:
Nhiều người cho biết là cứ đến mùa Hè, thầy [Thạch Trung Giả] lên chùa Vào Hạ(một khóa học của các tu sĩ) tham thiền với các vị sư. Sau năm 1975 thầy Giả thường hay lên chùa và thầy đã mất tại chùa. Vì hoàn cảnh khó khăn, chùa quá nghèo, không có tiền mua hòm, nên các vị sư chỉ còn cách quấn chiếu, và tìm ván cũ đóng hòm chôn thầy… Học sinh trường Võ Tánh cảm thương thầy quá, thầy ơi !
(Phạm Vũ Newvietstar.com)
Để tưởng nhớ một vị thày có một nhân cách cao quý và một tâm hồn kinh triết, xin mời độc gỉả đọc môt đọan thơ về biển của thầy, có lẽ được viết ra khi thầy ở Nha Trang.:
Châu Trầm Bé Nhỏ,
Mang tim người rỏ xuống đại dương kia
Biển vô cùng nhưng giọt mắt tan lià,
Mang vô tận mấy trùng kia thế giới.
Nước thăm thẳm nhưng sầu kia vời vợi
Toả vô cùng bao quát đại dương kia
Hằng ha sa góp lại cũng khôn bì
Mấy vạn lý với bao đời Kim tự tháp
Rút thiên cổ thu vào trong một hạt
Vạn sắc cờ phai nát với hư vô.
(Thạch Trung Giả, Thời Tập số 15-11-1974)
Một tâm hồn như Thạch Trung Giả, có lẽ sẽ héo hắt nếu phải sống xa quê hương đất nước, “ Đổi ngược họ tên cha mẹ đặt/Học làm con trẻ nói ngu ngơ”, song càng không thể sống với một chế độ bất nhân, vô học và man rợ do bọn Bắc cộng chụp lên đầu dân Nam sau năm 1975, cho nên Thầy đã chọn cách rời trần thế về nơi tiên cảnh, trong một ngôi chùa.   
Nhớ công ơn và cảm phục tư cách của một ông thầy, tôi ghi lại it dòng tưởng nhớ này.
BXC

Wednesday, August 21, 2019

Những rổ tép khô - Tưởng Năng Tiến - Dân Làm báo

 
"Khi trộm cướp đã trở thành phương cách sống cho một nhóm người trong xã hội, chả chóng thì chầy, họ sẽ tự tạo ra một hệ thống pháp lý và luân lý để hợp lý hoá và vinh danh đạo tặc." (Frederic Bastiat).

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến - Tôi bước vào tuổi dậy thì cùng với những sáng tác đầu tay của của Trịnh Công Sơn: Gọi nắng / Cho cơn mê chiều / Nhiều hoa trắng bay...
Trong căn nhà vắng - sau giấc ngủ trưa muộn màng - nằm lắng nghe Hạ Trắng bỗng thoáng thấy buồn, và không dưng tôi hiểu ra thế nào là nỗi buồn vô cớ. Giữa đêm (những đêm dài giới nghiêm) ngồi ôm đàn hát mỗi mình, trên sân thượng - nhìn hoả châu rơi, loé sáng ở chân trời - rồi chợt biết thèm muốn một cuộc sống bình an: 

Ta đã thấy gì trong đêm nay 
Cờ bay trăm ngọn cờ bay 
Rừng núi loan tin đến mọi miền 
Gió Hoà bình bay về muôn hướng...

Mẹ già cười xanh như lá mới trong khu vườn
Ruộng đồng Việt Nam lên những búp non đầu tiên
Một đoàn tàu đi nhả khói ấm hai bên rừng...

Chinh chiến rồi tàn. “Gió hoà bình bay về muôn hướng” nhưng người dân trên những đoàn tàu Thống Nhất, tiếc thay, không mấy ai cảm thấy hồ hởi hay phấn khởi gì. Kẻ lo bị móc túi, nếu có tí tiền. Người lo hàng hoá bị tịch thu, nếu là dân buôn bán. Và tất cả đều sợ bị đá ném vào đầu. Những hòn đá xanh, to bằng nắm tay, được trẻ con dọc hai bên đuờng thi nhau ném vun vút vào cửa sổ. 
Những con tàu rất bất an (trên đường sắt Bắc/Nam) đã không hớn hở hú còi, và cũng không hân hoan “nhả khói ấm hai bên rừng,” như dự tưởng của người nhạc sĩ tài hoa! 

Hành khách Trần Thành Nam tường thuật: 
Ở mỗi ga, khoang tàu biến thành cái chợ hay hàng ăn, tùy vào thời điểm. Ngoài sự nghèo đói, lộn xộn, mất vệ sinh và nói chung là kém văn hóa là đặc trưng của những gì xảy ra trên chuyến tàu đó hay cho cả đất nước ta thời đó, điều tôi nhớ nhất và thất vọng vô cùng là: từ Nam ra Bắc tôi hầu như không thấy một nụ cười trên gương mặt một ai cả...
Ở một ga miền Bắc Trung bộ, tôi không nhớ ở đâu, hình như ở xứ Thanh, có một cô bé khoảng 14-15 đội lên tàu bán một rổ tép khô. Do đông người đi lại bán hàng va chạm, rổ tép khô của cô bé bị rơi đổ hết xuống sàn tàu, ngay trước mắt tôi và cách chỗ tôi ngồi chừng 1-2 mét. 
Cô bé hốt hoảng lo sợ, luốn cuống quì xuống gom vội tép lại. Theo bản năng “ga lăng”, tôi lao ngay ra giúp cô bé vơ tép khô lại thành từng đống nhỏ. Cùng lúc đó, nhiều người xung quanh cũng đều xông vào, đa số cũng là những người bán hàng trên tàu như cô bé, xúm lại làm như tôi: vơ tép khô của cô bé gọn lại. Tôi cười nhìn mọi người và nghĩ: “Ồ, mọi người tốt quá! Thế mà mình đã nghĩ dân ta bây giờ không yêu quí nhau như trước nữa...” 
Chưa kịp nghĩ hết ý trên thì tôi đã đớ người ra khi nhìn thấy mọi người không bốc tép khô vào rổ cho cô bé như tôi mà cho vào những cái túi riêng của họ! Một loáng, sàn tàu đã sạch trơn không còn tí tép khô nào! Và mọi người thản nhiên bỏ đi với những túm tép khô vơ vét được của họ, như không có gì xảy ra...
Tôi chẳng thấy nét mặt ai mừng rỡ hay buồn hay ái ngại gì cả, bình thường... Còn cô bé đứng dậy co dúm thút thít khóc bên cạnh rổ tép khô nay chỉ còn một vốc. Tôi cứ đứng bên cạnh cô bé, ngơ ngác và lòng rưng rưng với nắm tép khô còn chưa kịp đưa vào rổ của cô bé, và không hiểu tại sao mọi người làm như thế! Còn những hành khách trong toa tàu, trong đó có mẹ tôi, đã chứng kiến toàn bộ chuyện đó, cũng làm ngơ, không ai phản đối gì, cho là chuyện bình thường...
Cho đến hôm nay tôi vẫn còn khinh ghét con người mình vì lúc đó đã không làm được việc mình muốn làm nhất là gào thét lên: “Mọi người! Hãy trả lại tép khô cho cô bé!” 
Cô bé bán tép - có lẽ - là một trong những “dân oan” đầu tiên của đất nước, kể từ khi Nam/Bắc hòa lời ca. Với thời gian, số lượng dân oan lên đến hằng chục triệu người (vật vạ, la lết, lang thang, vất vưởng) ở khắp mọi nơi. 
Mất tép hay mất đất, tự bản chất, chả khác chi nhiều. Rổ tép đang cầm thì vẫn còn là của mình nhưng sau khi lỡ tay, hoặc trượt chân, làm đổ thì mớ tép khô (bỗng) thuộc “quyền sở hữu của toàn dân.” Bất cứ ai đang có mặt tại chỗ cũng có quyền vơ vét, cất giữ như của riêng tư. 
Hiến pháp 1959 vẫn chưa “quốc hữu hóa đất đai” như Hiến pháp 1936 của Liên Xô mà nó được coi là một bản sao. Cho dù, từ thập niên 1960 ở miền Bắc và từ cuối thập niên 1970 ở miền Nam, ruộng đất của nông dân đã bị buộc phải đưa vào tập đoàn, hợp tác xã, đất đai chỉ chính thức thuộc về “sở hữu toàn dân” kể từ Hiến pháp 1980… 
Chiều 18-1-2011, khi điều khiển phiên họp toàn thể của Đại hội Đảng lần thứ XI biểu quyết lựa chọn giữa “chế độ công hữu về tư liệu sản xuất” và “quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp”, ông Nguyễn Phú Trọng hứa với Đại hội “thiểu số sẽ phục tùng đa số”. Nhưng, tháng 5-2012, Ban Chấp hành Trung ương mà ông Nguyễn Phú Trọng là tổng bí thư vẫn quyết định duy trì “chế độ công hữu” với đất đai, “tư liệu sản xuất” quan trọng nhất.” (Huy Đức. Bên Thắng Cuộc, tập II. OsinBook, Westminster, CA: 2013). 
Nói cho nó gọn lại là luật pháp của Nhà Nước Cách Mạng đã khiến cho tài sản ruộng đất của bao người trở thành một rổ tép khô, có thể bị hất đổ tung toé bất cứ lúc nào, tùy vào dự án của các doanh nghiệp và lòng tham của đám quan chức địa phương. Họ hành xử cũng tồi tệ chả khác gì đám hành khách có mặt trên con tầu năm nọ: Một loáng, sàn tàu đã sạch trơn không còn tí tép khô nào! Và mọi người thản nhiên bỏ đi với những túm tép khô vơ vét được của họ, như không có gì xảy ra... Còn cô bé đứng dậy co dúm thút thít khóc bên cạnh rổ tép khô nay chỉ còn một vốc. 
Có bao nhiêu người dân oan Lộc Hưng đang đứng khóc thút thít bên những căn nhà đổ nát của họ. Có bao nhiêu người dân oan Văn Giang, Dương Nội, Thủ Thiêm, Long An, Cần Thơ, Đồng Nai, Dak Nong … đang “co dúm thút thít” trên mảnh đất (còn lại) mà diện tích chỉ đủ dựng một túp lều, kỳ dư đã bị thu hồi với giá đền bù “mỗi m2 bằng giá một… cốc bia” - theo như ghi nhận của blogger Đào Tuấn
Mà nào có riêng chi ruộng đất. Dưới mắt của giới quan chức hiện nay thì quỹ bảo hiểm xã hội cũng thế, cũng có khác chi một rổ tép khô: 
Rõ ràng chả cần đến lúc rổ tép đổ, cả đám quan chức vẫn cứ (nháo) nhào vào giật tới tấp và giật tự nhiên như chốn không người. Lịch sự hơn chút xíu là cách “giật tép” của qúi vị chuyên trị “mảng” Doanh Nghiệp Quốc Doanh, vay vốn ưu đãi từ những Ngân Hàng Nhà Nước, và tìm mọi cách để kinh doanh thua lỗ: 
Tuy khó đòi nhưng trước sau gì cũng có người phải trả, và số tiền này được báo Thanh Niên số ra ngày 17 tháng 8 năm 2018 tính gọn như sau: “Bình quân mỗi người gánh hơn 35 triệu đồng nợ công năm 2018, tăng gần 4 triệu đồng mỗi người so với năm 2017.” Với thời gian, con số nợ công (tất nhiên) sẽ không dừng ở đó vì dưới mắt quan chức của chế độ hiện hành thì mọi tài sản và tài nguyên của đất nước có chả khác chi cái rổ tép khô trên tay một em bé gái quê đâu.
22.08.2019

Chúng tôi vẫn sống ... Huỳnh Kỳ Anh Tú (Danlambao)

Tôi là một bác sĩ, sinh ra và lớn lên tại Sài Gòn nhưng sau này tôi đi du học và đã định cư tại nước ngoài từ lâu. Nhân tháng 4 năm nay, tôi muốn viết một thông điệp cho gia đình, bạn bè tôi, cùng tất cả những người từng là công dân Việt Nam Cộng Hòa, con cháu của họ, nhất là những đứa trẻ cùng thế hệ 8X như tôi.
Cha tôi là một sĩ quan quân lực VNCH, cấp bậc Trung úy. Ông có may mắn hơn nhiều bạn bè, khi chỉ phải đi tù cải tạo một thời gian ngắn. Năm 1979 cha tôi ra tù và về sống ở Sài Gòn (xin lỗi vì tôi không thể viết tên của kẻ tội đồ dân tộc mình), một năm sau tôi sinh ra.
Từ khi tôi biết nhận thức thế giới xung quanh cho tới năm 18 tuổi, cha và mẹ KHÔNG BAO GIỜ nói với tôi bất cứ điều gì có liên quan đến chính trị hay nói xấu chế độ mới, cha tôi sống hiền lành, nhẫn nhục nuôi con cái, hòa đồng với tổ dân phố. Cha ghét chiến tranh và không bao giờ nhắc đến thời chiến đấu xa xưa của mình, đến mức không cho tôi chơi những món đồ chơi như súng, máy bay. Mẹ tôi thì cấm tôi nghe nhạc vàng hay những bài ca về lính, dù vậy sau này tôi vẫn lén nghe. Họ để cho tôi tự do lựa chọn con đường mình đi, ngay cả tôn giáo. Vì thế, những gì tôi viết cho các bạn xem đưới đây là do CHÍNH BẢN THÂN tôi nhận thức được từ cuộc sống xung quanh mình.
Với tính cách giang hồ lãng tử của cha tôi, trước 30-4 ông vốn đã không coi trọng tiền bạc, không nhà cửa, tiền vàng, chỉ có 2 bàn tay, chiếc xe máy cùng người vợ hiền nên sau 30-4 ông không mất gì cả về vật chất. Tuy nhiên, nỗi mất mát về tinh thần ám ảnh ông suốt đời như một vết thương không bao giờ lành được.
Nhà tôi rất nghèo, lại phải chịu bất công từ mọi phía, mẹ tôi bị ép phải nghỉ sớm do lý lịch của cha, bà phải đi buôn thuốc men, thực phẩm để nuôi tôi lớn. Lúc tôi 3-4 tuổi, cha tôi đi làm vắng nhà cả ngày, ông làm đủ thứ nghề, buôn bán hàng phế liệu, đạp xích lô, đến tối mịt mới về nhà. Ngày nghỉ, ông chở tôi lang thang trên các con đường ở Sài Gòn bằng chiếc xe đạp. Đường phố Sài Gòn thập niên 80 còn hoang vắng, tôi để ý một điều là ông luôn gọi những con đường bằng tên cũ, chỉ cho tôi những tòa nhà và tên gọi của chúng, nhiều khi tôi thấy ông dừng rất lâu ở một nơi nào đó và khóc.
Lớn lên một chút, ông luôn tìm cách hướng tôi về những điều chân thiện mỹ, thay vì phó mặc cho sự nhồi sọ của trường lớp, đội nhóm.. Tôi còn nhớ ông mua sách báo cũ thời VNCH cho tôi đọc, nhất là Thiếu Nhi tuần báo. Ngày tôi được kết nạp đội, cha tôi ôm tôi vào lòng và ông rất buồn, nhưng ông dắt tôi đi xem phim Batman và đêm đó trước khi ngủ kể cho tôi nghe ông đã phải đi bộ hơn 5 cây số để mua sữa cho tôi uống như thế nào.
Tôi nhìn ra rất sớm sự giả dối, bất công, ngay trong trường lớp của mình, những bài văn mẫu, những người thầy ép học sinh học thêm tại nhà, những bài học lịch sử dối trá.
Tôi muốn nói một điều với các bạn cùng lứa tuổi rằng thế hệ sinh ra năm 78-80 tại Sài Gòn như chúng tôi PHẢI nhận thức rõ một điều rằng: Dù thể chế Việt Nam Cộng Hòa đã chết vào ngày 30/4/1975, nhưng nó vẫn tiếp tục cưu mang, nuôi dưỡng những đứa trẻ như tôi bằng tất cả máu thịt từ còn sót lại. Bọn cộng sản KHÔNG góp một chút công ơn nào hết trong việc nuôi dưỡng, che chở và giáo dục chúng tôi, thậm chí ngược lại là khác, chính bọn chúng là nguyên nhân gây ra mọi đau khổ, bất công, rủi ro cho số phận những đứa trẻ sinh ra giai đoạn này.
Tôi ra đời trong một nhà bảo sinh của VNCH, khi tôi đau ốm, các bác sĩ và nữ hộ sinh được đào tạo từ ngành y tế VNCH đã chăm sóc cho tôi, dù họ là những người bị ngược đãi, phải sống cực khổ ăn không đủ no vì chính sách nô dịch của cộng sản, nhưng vẫn giữ trọn y đức và trách nhiệm. Từ khi cắp sách đến trường, tôi may mắn hơn những đứa trẻ miền Bắc, vì được che chở dưới những lớp học, mái trường do cha anh chúng tôi, công dân của VNCH xây nên, chúng tôi may mắn được xem phim trong những rạp ciné hiếm hoi còn sót lại ở Sài gòn của VNCH.
Trong khi đó, bọn cộng sản Bắc Việt đã làm gì cho chúng tôi? Từ tuổi sơ sinh, toàn bộ trẻ em như tôi phải chịu cảnh suy dinh dưỡng, ăn không đủ no, không có sữa để uống. Cha mẹ chúng tôi phải chạy ăn từng bữa, hy sinh những gì tốt nhất cho chúng tôi trong khi họ phải ăn độn bobo, khoai mì. Khi đau ốm bệnh tật không có đủ thuốc men chữa trị, phải đi vay mượn, đi mua kháng sinh ngoài chợ đen. Chúng tôi lớn lên, đứa thì lùn đứa thì còi xương, tội lỗi đó là do ai gây ra? Khi đi học chúng tôi bị nhồi sọ bằng những chuyện dối trá nhảm nhí, bị những cô giáo xã hội chủ nghĩa đánh đập không thương tiếc, phải đi nhặt lon, nhặt rác, dùng những cuốn sách giáo khoa cũ nát, đen thui, đêm về phải học bài dưới ánh đèn dầu tù mù, chịu nóng, muỗi đốt để mà kiếm cho được tấm giấy khen vô nghĩa. Lớn lên một chút, chúng tôi lại bị những thầy cô giáo bóc lột đến tận cùng bằng những chiêu trò dạy thêm tại nhà, ai không đến nhà thầy học thêm thì bị đì, bị đối xử bất công trên lớp. Lúc trưởng thành ra đời thì tương lai u tối vì 2 chữ lý lịch gia đình, phải hối lộ đút lót khắp mọi nơi mới kiếm được miếng ăn.
Tôi lại muốn nói điều này cho bọn cộng sản và con cháu của chúng: Việt Nam Cộng Hòa vẫn sống, và chưa bao giờ chịu khuất phục bởi bạo lực và sự đàn áp của cộng sản. Những người con của thế hệ VNCH vẫn sống, dù nhẫn nhục, nhưng không cúi đầu, không bao giờ chấp nhận đi chung đường với điều ác và dối trá.
Bọn cộng sản không bao giờ khuất phục được ý chí và tinh thần của những công dân VNCH, chúng không bao giờ hiểu được tại sao cha mẹ chúng tôi đặt tên cho con cái mình là Nguyễn Đình Bảo, Nguyễn Khoa Nam hay Phan Nhật Nam (cha tôi đặt tên cho tôi là Huỳnh Kỳ Anh Tú, và tôi tự hào vì điều đó!). Tại sao mấy chục năm nay người ta vẫn thích nghe nhạc của Lam Phương, Trần Thiện Thanh, Trúc Phương và dòng nhạc này đang hồi sinh.
Bọn cộng sản muốn trả thù hèn hạ con cháu của VNCH bằng cách xét lý lịch, thì chúng tôi, những công dân VNCH, cũng dùng lý lịch, căn cước của cha anh mình như một dấu hiệu nhận diện nhau, đùm bọc nhau. Cuộc đời tôi đã trải nghiệm không biết bao nhiêu sự ưu đãi, giúp đỡ từ bạn bè của cha tôi, hay thậm chí những người xa lạ, mỗi khi họ tình cờ biết cha tôi từng là sĩ quan quân lực VNCH, một người thầy nổi danh đã nhận tôi vào lớp luyện thi đại học và miễn học phí (hơn 2 triệu đồng) vì tôi là con của lính VNCH, nhiều bác sĩ đã chữa bệnh cho tôi hồi nhỏ không nhận thù lao khi biết cha tôi từng đi lính, một linh mục tại nhà thờ Dòng chúa cứu thế dạy kèm tiếng anh và tiếng Pháp cho tôi suốt 3 năm mà không lấy tiền.
Bọn cộng sản cũng không bao giờ hiểu được tại sao bên cạnh chúng không bao giờ có mặt những người trí thức, nhân tài hậu duệ của VNCH, vì những cá nhân này không bao giờ chấp nhận vào đoàn thanh niên cộng sản, không bao giờ đi làm cho nhà nước, và một khi ra nước ngoài du học không bao giờ quay trở lại để phục vụ cho chúng, chúng có kêu gào 1000 năm nữa và dụ dỗ bằng tiền tài hay danh lợi, những người này cũng sẽ không bao giờ trở về cộng tác với chúng. Chúng chỉ tìm thấy những kẻ cơ hội, bợ đỡ, bất tài và ngu ngốc chấp nhận làm nô lệ cho chúng mà thôi.
Đối với một số người, ngày 30-4 có thể là ngày đau buồn, họ cho đó là quốc hận, một số những kẻ ăn trên ngồi trước thì hoan hỉ ăn mừng, mừng cho việc họ đã giết, cướp chính anh, chị em một nhà của mình, nhưng tôi nhận rõ một điều là Việt Nam cộng hòa vẫn chưa chết, Sài gòn có thể bị chiếm đóng, chúng ta có thể bị đô hộ, nhưng công dân và hậu duệ của VNCH vẫn sống, vẫn vươn lên, vẫn đang giúp đỡ nhau, chúng tôi miễn dịch với mọi sự dối trá và độc ác của cộng sản, nhiều người vẫn đang đi tìm tự do, và sẽ có ngày chân lý sẽ chiến thắng.
Huỳnh Kỳ Anh Tú

Sunday, August 18, 2019

THƯ KHÔNG BÌ KHÔNG TEM KÍNH GỬI BÁC TỶ PHÚ HOÀNG KIỀU

Kính thưa Bác,
Mục đích con viết thư nầy cho Bác không ngoài mục đích góp ý xây dựng vì con lấy làm tiếc cho trường hợp của Bác nên “thà thắp một ngọn nến nhỏ còn hơn là ngồi mà nguyền rủa bóng tối.”
Trước hết, con xin phép tự giới thiệu đôi dòng về mình: Con qua Mỹ năm 1990 theo diện HO vì bố con là lính Sĩ quan VNCH đi tù cải tạo trên 5 năm. Con qua Mỹ đã trên 20 tuổi, đi học lại và đang hành nghề bác sĩ. Vì trong thời đi học con đã từng là chủ tịch hội Sinh Viên VN ở trường con nên con hiểu được sự phức tạp và tế nhị trong quan hệ cộng đồng và xã hội Việt Nam tại xứ người.
Thưa bác Hoàng Kiều,
Vì quê hương con cũng là Hải Lăng, Quảng Trị, nên con có niềm tự hào và hãnh diện khi có những nhân vật xuất thân từ Quảng Trị thành công, thành danh trong nước cũng như ngoài nước. Câu nói đầu tiên con học về chí lập thân ở Mỹ là: “The first million is the hardest” (Kiếm được triệu đầu tiên là khó nhất). Thế mà con đọc trên báo chí biết được bác Hoàng Kiều là một tỷ phú trong số 500 tỷ phú Mỹ và hơn 2000 tỷ phú trên thế giới. Con càng khâm phục và nể nang bác hơn nữa khi đọc về tiểu sử của Bác từ một người tỵ nạn 1975, làm việc kiếm 1 đôla 25 xu mỗi giờ đến khi trở thành một thành viên xuất sắc của hãng Abbott và một nhà kinh doanh trong ngành Huyết Thanh Liệu Pháp, bản lĩnh đứng ra mở công ty Rare Antibody Antigen Supply. Con cũng rất khâm phục khi bác tự nguyện hiến tặng 20% thu nhập cho quỹ từ thiện và năm 2006 xây dựng 5000 căn nhà giúp người Việt Nam nghèo khó.
Nhưng thưa Bác, ở đời có những khúc quanh không ngờ trước được khi đã được lợi thì đến hồi mua danh. Nhưng “mua danh ba vạn bán danh ba đồng” cũng là lời báo động của những bậc cao nhân trong lịch sử con người. Trường hợp “bán danh” của Bác thì xảy ra càng ngày càng đáng tiếc vì nó xảy ra càng lúc càng tệ hại và trầm trọng bởi vì Bác đã có một sự nhầm lẫn quá lớn giữa những giá trị không có chung mẫu số. Cụ thể như phương pháp sản xuất, tiếp thị, cân đo đong đếm... trong thương mãi không thể áp dụng trong nghệ thuật. Hay những giá trị nghệ thuật không thể đem ra làm phương tiện cho sinh hoạt tâm lý và xã hội.
Con bắt đầu ngỡ ngàng về Bác khi ở vào lứa tuổi “thất thập cổ lai hy” thì bác “mua danh” từ tiền qua gái. Những hình ảnh chân dài Trương Tử Lâm chân dài, nữ hoàng đồ lót Ngọc Trinh... đã giúp Bác “bán danh” còn rẻ mạt hơn “3 đồng”. Không biết các anh chị con cái của Bác có lời khuyên can nào và có thất vọng điếng người như hàng tuổi trẻ Việt Nam chúng con từ thất vọng đến xem thường và bên lề khinh miệt nhân cách xuống cấp của Bác như chúng con không?
Vì vẫn nể nang một “self-made billionaire” như Bác, nên con vẫn chống chế đứng về phía Bác về cái gọi là “Nghề chơi cũng lắm công phu” trong sinh hoạt tình ái của Bác. Chỉ một điều hơi lạ là trong khi những người nổi tiếng như Bill Clinton, Donald Trump... cố dấu chuyện trăng hoa để còn tìm đường thăng tiến thì Bác Hoàng Kiếu ta lại dùng cái trăng hoa xuống cấp của mình như một “bước thang danh vọng” để bước lên sau váy áo của các cô gái đẹp nhưng tai tiếng như dịch tả rồi! Chẳng lẽ nào trong thương trường Bác bản lĩnh chừng nào thì trong sinh hoạt văn hoá xã hội Bác lại khờ khạo vụng về chừng ấy vậy sao?!
Nếu Bác tinh ý một chút sẽ nghe đâu đó đồng bào và đồng hương của Bác nói một cách hãnh diện “Tỷ phú Hoàng Kiều” lúc đầu, rồi từ từ gọi là “trọc phú Hoàng Kiều” và lời xưng danh thậm tệ gần đây nhất là “thằng vô học”, “tên bán máu Hoàng Kiều”! Làm việc ở xa hoàn toàn trong mội trường người Mỹ, con đã có một phản ứng tâm lý bất mãn với công luận của cộng đồng người dân Việt mình đã quá khắt khe đối với Bác nên cố gắng xin Vacation về California tìm hiểu thực hư thế nào.
Và lần đầu, con được trực tiếp gặp Bác Hoàng Kiều tại đại nhạc hội “Tạ Tình 6: Tình Hồng Cho Em”, tổ chức tại miền Nam California. Đây quả nhiên là một chương trình “nghệ thuật” được tổ chức rất công phu và sang trọng. Nội dung thì xưa nay ít thấy: Phần đầu là... chửi và phần sau là trình diễn văn nghệ.
Thưa bác Hoàng Kiều,
Thật tình cháu muốn “xâm xoàng” luôn khi trực tiếp chứng kiến Bác xuất hiện trên sân kháu và phát biểu. Dù cố ăn mặc kiểu cách kỳ dị và trang sức tạp pí lù thiếu designer chuyên nghiệp, Bác vẫn không che dấu được hình tường, phong thái và bản chất của một tay nông dân lên phố quê mùa và kệch cỡm. Sao Bác có tiền rừng bạc bể mà lại chọn người làm đẹp cho Bác tệ thế nhỉ?!
Phần phát biểu “chửi” của Bác thì con xin nói thật, Bác đừng buồn nhé, Bác đã tự hạ thấp Bác xuống ngang tầm với phường “đá cá lăn dưa”. Phương ngôn Tây có câu: “Người có trí tuệ muốn chinh phục quần chúng thì trong một cuộc tranh luận đừng để mình đứng yên mà hạ thấp đối thủ xuống; nhưng để đối thủ đứng yên mà năng mình lên.” Bác ơi! Đây Bác đã làm ngược lại. Ngôn ngữ tùy hứng của Bác đã làm cho quần chúng quay lưng với Bác. Những kêu gọi và kích động rẻ tiền như: “Hay đúng thì vỗ tay lên, vỗ to nữa lên!” Hoặc là những tiếng dẫn nối quá thiếu văn hóa ứng xử như: “Hiểu chưa? Biết chưa?...” Thưa Bác Hoàng Kiều, Bác xem 3000 người khán giả trước mặt Bác trong sân khấu là ai? Có người là Thầy của Bác, có người là bạn Bác, có người là đối thủ của Bác nhưng Bác đã xem tất cả ba nghìn khán giả như hàng con cái, kẻ ăn người ở trong nhà của Bác nên Bác đã nói với đại chúng bằng một tuồng ngôn ngữ tùy tiện và thô thiển. Tất nhiên, phản ứng tâm lý của khán giả đối với Bác là “ngưu đối ngưu, mã đối mã” với Bác mà thôi. Thật tình con không dám lập lại những tiếng phản ứng và chửi thề đáp trả quá xúc phạm và còn tệ hơn cách nói của Bác nữa. Nhưng Bác phải hiểu là quần chúng Việt Nam đã trải qua bao nhiêu đau khổ và kinh nghiệm xương máu về chính trị, kinh tế, xã hội từ thời 1975 đến hôm nay nên họ không còn là khối người thụ động, vô danh như trong cái đánh giá phiến diện và non kém của Bác đâu Bác Hoàng Kiều ạ. Con và một số bạn bè đã bỏ ra về ngay sau khi Bác phát biểu mà lòng buồn rười rượi và thất vọng quá chừng. Bác đã làm nhiễm độc phần trình diễn văn nghệ. “Thương nhau như thế bằng mười phụ nhau” đấy bác ạ. Nếu vong hồn của Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ cùng về dự với Bác chắc ông cũng bỏ rạp hát ra quán cà phê ngồi với tụi con thôi.
Về phương diện chính trị, Bác đã đem cái nghệ thuật cò kè mua bán (The art of dealing) trong kinh tế để thuyết phục chính trị nên hoàn toàn phản tác dụng. Kẻ thù Bác không phục Bác đã đành nhưng quần chúng đứng giữa hay người có cảm tình với Bác (như con đây) cũng muốn xa lánh Bác vì Bác “đấu tranh chính trị” mà xuống chiêu như đánh Golf hay thọc Bida: Hấp tấp, nông cạn, ưa chi nói nấy như con nít chơi ném đá ngoài đường.
Nếu Bác có nhu cầu xây dựng một “Brand name” trong sinh hoạt cộng đồng với hằng triệu người Việt Nam thì Bác nên bỏ ngay “cái Tôi” ngớ ngẩn của Bác đi thôi. Dẫu là đùa hay thật thì kiểu nói “thành phố Hoàng Kiều’ cũng đã đủ lố bịch và nhận sự xỉa xói của thiên hạ rồi. Bác coi có cả 400 nhà sản xuất rượu vang (Winery) ở Napa và hơn 600 cơ sở sản xuất Winery ở Sonoma County hơn cả trăm năm nay, đã có nhà sản xuất nào để hình của chủ nhân lên nhãn hiệu chai rượu chưa, nay bỗng dung Bác vào mở cái “Kieu Hoang Winery” là bác lên hình trên chai rồi. Như thế có quá trẻ con không thưa Bác?
Thưa Bác Hoàng Kiều, câu chuyện dài ngớ ngẩn của Bác cháu mình sẽ chẳng đến đâu nếu người nói và ngươi nghe không cùng tần số và năng lượng (energy). Tuy nhiên khi con viết cho Bác và đại chúng những dòng nầy thì con cũng chỉ có một hy vọng nhỏ rằng: Tiền bạc tỷ của bác thì bác giữ, con cũng như hàng triệu người Việt tha hương không ai cần vì thiếu mà cũng chẳng ai muốn vì sẽ nương tựa một xu trong nguồn tiền bạc tỷ của Bác cả. Bác chỉ có thể đem tiền nói với kẻ tay chân của Bác mà thôi. Nên mọi sự đối thoại trong Cộng Đồng người Việt cần công bằng và tôn trọng lẫn nhau.
Với tuổi 77, Bác cũng như thế hệ bố con là chỉ dám nghĩ đến những gì trong giới hạn thời gian tính trên đầu ngón tay thôi. Bởi vậy, với tinh thần đồng hương Quảng Trị và hy vọng chưa tắt hẳn về thanh danh của một nhân vật giàu nhất Quảng Trị trong mọi thời đại như bác Hoàng Kiều, con xin góp ý với Bác rằng, tuy Bác không còn đủ thời gian để bắt đầu một cuộc đời mới khác nhưng hy vọng là còn đủ thời gian để xây dựng một tỷ phú Hoàng Kiều có thanh danh trong lòng người và sử sách, “hùm chết để da, người ta chết để tiếng”. Nếu không làm được nhà cự phú, phú ông, đại phú gia Hoàng Kiều cho tuổi trẻ chúng con thơm lây thì cũng đừng để tên tuổi và sự nghiệp rơi xuống hàng trọc phú.  
Kính chúc Bác Hoàng Kiều sức khỏe, trường thọ và an vui.
Kính thư,
Dr. Chris Lữ

Saturday, August 17, 2019

30 Tháng Tư: Truyện Một Cây Cầu Tác giả: Lê Nguyên Hằng & Nguyễn Thạch Hãn


Đã 40 năm sau trận Đại Hồng Thủy, những người bỏ nước ra đi tỵ nạn vẫn không quên bản thân mình đã chịu đựng bao nhiêu khổ đau mất mát. Đại nạn đó to hơn cả “sóng thần”, tàn phá hơn cả một trận động đất, ghê gớm hơn một bệnh dịch lây lan giết người hàng loạt một cách nhanh chóng, tàn bạo hơn nạn thổ phỉ cướp của giết người đốt phá nhà cửa làng mạc. Bởi vì những thiên tai chỉ xảy ra một lần trong một thời gian ngắn ngủi, rồi qua đi nhanh chóng, những mất mát chỉ là sinh mạng và vật chất. Cuộc xâm chiếm của người miền Bắc không những làm tan nát bao nhiêu sinh mạng, gia đình, tài sản mà luôn cả luân lý, đạo đức, văn hóa, nghệ thuật và phong cách của người miền Nam.
Khi chúng ta leo lên con thuyền vượt biển là đã chấp nhận lấy tính mạng để thách đố với định mệnh. Dù gặp bất cứ tình huống nào ở cuối con đường vẫn tốt hơn là ở lại với Cộng Sản. Ra đi là mất tất cả, những gì còn lại chỉ là một ý chí quyết làm lại từ đầu. Chúng ta những người định cư trên đất Mỹ được hít thở không khí tự do, được thấy mình vẫn còn là một con người với đầy đủ bổn phận và quyền lợi chính đáng. Với hai bàn tay cần cù và khối óc nhẫn nại, chịu khó, chẳng bao lâu cuộc sống trở nên ổn định. Nhưng vật chất là cái gì dễ kiếm lại được, còn mất mát tinh thần, gia đình người thân, cha mẹ, vợ con, anh em, bạn bè, người tình thì làm sao đây? Chúng tôi muốn kể hầu quý vị chuyện tình của một người lính tha hương về tìm lại cố nhân.

*
Tôi đứng ngay tại Ngã Ba Hàm Rồng nhìn dáo dác chung quanh. Buổi trưa nắng chang chang. Thỉnh thoảng một cơn gió nổi lên cuốn theo những đám bụi đỏ mù trời. Tôi dụi mắt mấy lần cố tìm những gì thân quen của một quá khứ yêu dấu xa xưa. Người tài xế của hãng du lịch chạy đến bên tôi thắc mắc:
- Anh kiếm cái gì thế ? Con đường trước mặt đi về hướng Phú Nhơn đến tận Ban Mê Thuột, bên trái là ngõ về quận lỵ Phú Thiện và tỉnh Phú Bổn, còn đằng sau là con đường mình mới từ Pleiku ra đây. Anh muốn đi đâu thì cứ cho tôi biết, tôi sẽ đưa anh đến nơi đến chốn.
Không lưu tâm gì đến anh tài xế, tôi vẫn đứng yên đó thầm nghĩ:
- Dù đã lâu lắm rồi nhưng làm sao quên được. Mình đã để lại một đoạn đời hoa bướm, một mối tình đầu tha thiết nơi rừng núi này. Quang cảnh chung quanh vẫn vậy, nhưng con đường trải nhựa có thêm nhiều ổ gà, vắng người qua lại và hàng quán xơ xác tiêu điều hơn xưa.
Rồi tôi trả lời bâng quơ:
- Tôi đang chụp hình.
- Tôi đâu thấy anh mang máy hình?
- Ồ, chụp hình trong đầu ấy mà.
Nguời tài xế há hốc mồm ra ngạc nhiên, anh ta nói lẩm bẩm trong miệng nhưng đủ cho tôi nghe rõ:
- Mấy ông nội Việt Kiều thật là lẩm cẩm.
Tôi leo lên xe và hối người tài xế chạy về phía quận Phú Nhơn. Chiếc xe mướn của hãng du lịch tương đối còn mới, lồng lộn lao về phía trước, lúc nghiêng qua trái, lúc lách qua phải để tránh những ổ gà và khúc đường bể chưa được sửa chữa. Mà có lẽ sẽ chẳng bao giờ được sửa chữa nữa. Hàng trăm thứ chuyện quan trọng hơn người ta còn chẳng thèm để ý tới, xá gì một con đường nhỏ ở một thành phố xa xôi hẻo lánh này. Để mặc tài xế đánh vật với chiếc xe và con đường, tôi thả hồn chìm về dĩ vãng...
Ngày ấy đã xa lắm rồi…
*
Tôi, một Thiếu Úy trẻ măng vừa đổi về đơn vị mới thành lập. Tiểu Đoàn tân lập, từ sĩ quan đến binh lính, hầu hết là những thành phần khó xài từ các đơn vị khác bị tống về đây. Dĩ nhiên tôi cũng ở trong đám người bất hảo đó. Từ miền biển bị đưa lên miền núi và chỉ huy một đám quân hỗn tạp gồm đủ mọi tầng lớp. Tôi còn đang tập những bước đi chập chững của nghề chỉ huy thì bị quăng ra chiến trường. Ngày ấy, cũng trên con lộ này, tôi dẫn hai con Gà Cồ Đại Pháo 105 ly để yểm trợ cuộc hành quân trực thăng vận tái chiếm quận lỵ Phú Nhơn mà Bắc Quân vừa mới tràn ngập đêm hôm trước.
Ngã ba này bình thường chỉ có vài quán cóc lèo tèo để bán đồ ăn thức uống cho khách của xe đò chạy đường Pleiku - Phú Bổn hay Pleiku – Ban Mê Thuột. Hôm đó dân chạy loạn từ Phú Nhơn ra rất đông, từ những làng Thượng, hoặc mấy khu dinh điền và những người làm ăn buôn bán chung quanh quận lỵ. Đồng bào thấy lính đi tái chiếm quận, họ rất mừng rỡ, người hỏi thăm, người cho quà bánh. Để đáp lại tấm thạnh tình, những người lính tặng lại dân chúng thuốc lá và những đồ hộp Quân Tiếp Vụ. Họ ở quận nhỏ xa xôi cũng nghèo khổ như lính vậy thôi.
Từ sáng sớm, lo đốc thúc tải đạn, sửa soạn xe cộ, đại bác, hàng trăm thứ phải làm cho một cuộc trực thăng vận, cho nên bao tử đã cồn cào. Phi cơ câu súng đại bác phải xin từ căn cứ Mỹ ở Quy Nhơn lên, nên chờ cũng còn lâu. Tôi rủ anh chàng Chuẩn Uý Trung Đội Phó kiêm Đề Lô vào quán bên đường kiếm cái gì lót bụng. Dân quận lỵ bu lại hỏi thăm tình hình, đánh nhau có lâu không? chừng nào có thể về quận được? Toàn những câu hỏi mà chỉ có Trời mới trả lời được.
- Mấy anh ấy đi giải toả quận Phú Nhơn phải không ông chủ.
- Tôi đoán vậy, cô thử hỏi mấy ổng coi.
Tôi quay lại, người vừa hỏi là một thiếu nữ độ đôi mươi, nàng mặc chiếc áo dài trắng học trò, trông rất hiền thục, đang hỏi thăm người chủ quán, tôi hỏi lại cô gái:
- Sao cô đoán tụi này đi giải tỏa Phú Nhơn?
- Em mới từ Tuy Hòa lên Pleiku hôm qua. Sáng nay đáp xe đò vô quận, không ngờ kẹt từ sáng đến giờ.
- Cô cũng ở quận Phú Nhơn sao?
- Em dạy ở trường tiểu học Phú Nhơn, còn nhà em ở Tuy Hòa.
- Cô nên về Pleiku kiếm chỗ ngủ đỡ qua đêm nay.
- Em không có ai quen ở Pleiku cả, vả lại em nóng lòng không biết nhà cửa, trường ốc ra sao?
- Cô có lo lắng thì cũng chẳng làm gì được, tốt hơn hết là kiếm chỗ nào nghỉ đỡ qua đêm nay, chờ giải tỏa xong mới về được.
- Đám học trò của em chạy ra đây cũng đông lắm, em không thể bỏ chúng được. À này các anh đừng pháo vào trường học nghe.
Tôi vỗ vai Châu Đề Lô vừa cười vừa nói:
- Cái đó cô phải nhờ ông Châu mới được, ổng chỉ đâu là nơi đó thành bình địa.
Châu vội lên tiếng:
- Trường của cô giáo tụi này không dám đụng tới đâu.
Tôi chế diễu Châu:
- Bạn hứa một mình chứ không có tôi can dự trong đó đâu nghe. À nãy giờ mình nói chuyện mà quên giới thiệu. Tôi tên Lập, anh bạn này tên Châu. Còn quý danh cô là...
- Em tên là Quỳnh Hoa, các anh hứa là phải giữ lời đó nghe!
Tôi chọc ghẹo Quỳnh Hoa:
- Nếu thế thì Quỳnh Hoa phải đền cái gì mới được chứ?
Tôi nhìn người con gái nước da trắng hồng, mịn màng như trứng gà bóc, đôi môi đỏ như cánh hoa đào, cặp mắt to đen láy trông thật thông minh lanh lẹ, mái tóc thề phủ xõa ngang lưng, nụ cười tươi với hàm răng đều đặn như những hạt bắp vừa đủ lớn. Nhìn Quỳnh Hoa đứng giữa đám học trò nhà quê lem luốc bẩn thỉu, tôi có cảm tưởng nàng là bà tiên giáng trần, đang cầm cây đũa thần gõ trên đầu đám chúng sinh đầy đau khổ. Nàng rất bạo dạn tuy hơi lo lắng, nhưng không có cái e lệ như những cô gái kinh thành. Tôi thầm hỏi:
- Bông hoa vương giả này sao lại mọc ở chốn rừng không mông quạnh này nhỉ?
Quỳnh Hoa thấy tôi nhìn cô chăm chú, có vẻ mắc cỡ đôi má càng hồng hào thêm. Còn đang phân vân chưa biết trả lời ra sao, Châu vội đề nghị:
- Thôi bữa nào giải tỏa xong, đãi tụi này một bữa cơm dân dã được không Quỳnh Hoa?
- Em nấu ăn dở lắm, nhưng em sẽ đãi các anh một chầu bún bò Huế, được không?
Tôi làm bộ nuốt nước miếng:
- Ôi chao, chưa thấy mùi sả mà đã thèm nhỏ giãi rồi.
Có tiếng trực thăng từ xa vọng lại, chúng tôi từ giã Quỳnh Hoa rồi vội vã đốc thúc anh em binh lính để cuộc di chuyển được mau chóng. Bình, anh chàng tài xế xe jeep của tôi chạy lại hỏi:
- Mình cần về hậu cứ lấy thêm gì nữa không Ông Thầy?
- Chắc đủ rồi, vả lại cũng không còn kịp nữa.
Tôi móc túi đưa cho Bình một ít tiền lẻ và nói:
- Em vào trong quán mua vài gói mì và một hộp trà, tối nay mình ăn mừng chiến thắng.
Bình cầm tiền, nheo mắt chọc tôi:
- Cái cô hồi nãy coi bộ chịu đèn Ông Thầy lắm rồi đó nghe.
Tôi thấy thích thú trong lòng nhưng cũng giả vờ chống chế:
- Con gái đời nay đẩy đưa lắm, đừng tưởng bở.
Trời bắt đầu đổ mưa khi trực thăng vừa bốc hai khẩu đại bác. Tôi nhìn bầu trời đen nghịt mà lo lắng cho những giờ phút gian lao nguy hiểm sắp tới bởi vì tôi vừa phải chiến đấu với địch quân vừa phải yểm trợ cho quân bạn ngay từ phút đầu trong thời tiết mưa gió bão bùng này. Những cơn mưa trên miền núi thường dai dẳng và mang theo gió lạnh thấm đến tận xương tủy của những người lính pháo thủ, vừa thiếu ăn vừa phải làm việc cực nhọc. Tôi thầm hỏi liệu đêm nay trực thăng có kịp đổ quân để bảo vệ hai con gà cồ của mình không?
Hai khẩu đại bác cùng với 4 túi đạn 105 ly và chiếc xe Jeep được thả xuống một ngọn đồi trọc. Dưới cơn mưa tầm tã, đất đỏ lầy lội, đám pháo thủ thoăn thoắt làm việc, hì hục đẩy hai khẩu pháo lại gần nhau, khuân vác đạn dược, dựng cây truyền tin, nhắm hướng súng. Chỉ trong vòng nửa tiếng đồng hồ, những trái đạn đầu tiên đã được phóng đi liên tục để dọn bãi đáp cho hai tiểu đoàn bộ binh đổ bộ xuống mục tiêu.
Trận tái chiếm quận Phú Nhơn hôm đó đã thành công hoàn toàn nhưng Châu Đề Lô đã bị thương nặng, một mảnh đạn B40 của địch quân đã chọc một lỗ lủng lớn ở bụng của hắn. Toán pháo binh được di chuyển về phía sau quận hành chánh để sẵn sàng yểm trợ cho lực lượng bảo vệ quận.
Một buổi sáng, sau khi sửa sang tuyến phòng thủ tạm ổn định, tôi ghé thăm Quỳnh Hoa. Ngôi trường chỉ bị thiệt hại nhẹ. Anh em quân nhân trong quận đang giúp một tay sửa sang những chỗ bị trúng đạn. Tôi đến bên lớp học của Quỳnh Hoa, nàng đang say sưa tập hát cho các em nhỏ. Có tiếng một em bé báo động:
- Thưa cô có ông lính tới kiếm.
Nàng quay lại, gật đầu chào. Tôi ướm thử xem nàng còn nhận ra tôi không:
- Ông lính kính chào cô giáo, cô giáo còn nhớ ông lính này không?
Nàng không thể nhịn cười được lối diễu cợt của tôi, nhưng cũng chẳng chịu thua:
- Ông lính đi đâu mà lạc vô đây?
- Ông lính đi lạc vào thiên thai đó ạ. - Ông lính tỉnh lại đi, đây là chốn trần gian, làm gì có nàng tiên nào đâu.
- Chứ Quỳnh Hoa không phải là tiên sao?
Nàng nghe tôi khen không khỏi e thẹn:
- Anh Lập làm Quỳnh Hoa mắc cỡ quá hà! Người ta xấu như ma mà so sánh với tiên, anh có mơ ngủ không đấy? Anh Châu có khỏe không anh Lập?
- Châu bị thương nặng đang nằm ở quân y viện Pleiku.
- Trời ơi, có nguy hiểm lắm không anh?
Thấy mặt Quỳnh Hoa biến sắc, tôi thấy hơi ghen tỵ với bạn mình, nhưng vội trấn an:
- Chắc không đến nỗi nào, nhưng phải nằm nhà thương một thời gian.
- Hôm nào anh có đi thăm anh Châu cho em đi theo với nghe.
Tôi tự nhủ thầm sao nàng dễ xúc động như vậy nên hứa đại cho xong chuyện:
- Cuối tuần tôi phải về hậu cứ nhân tiện ghé đón Quỳnh Hoa đi thăm ông Châu luôn thể, được không?
- Gia đình ảnh đã biết tin chưa vậy anh Lập?
- Gia đình ảnh ở Pleiku đã được thông báo rồi.
Tôi hỏi thăm qua loa về tình trạng trường ốc và nơi ở của nàng rồi vội vã cáo lui, hẹn gặp lại sáng thứ bảy. Quỳnh Hoa hiện ở trọ tại nhà bà Hiệu Trưởng, một người bạn cũ của gia đình nàng. Chồng bà cũng là một cựu quân nhân giải ngũ, có tiệm tạp hóa ngoài chợ.
Sáng thứ bảy, tôi cho tập họp trung đội, giao doanh trại cho Ông Thượng Sĩ Thường Vụ rồi hối đám quân xa chuẩn bị xe cộ về hậu cứ lãnh lương thực và đạn được. Tôi gọi Bình vào văn phòng rồi dặn:
- Bình à, coi lại xe cộ, xăng dầu đầy đủ, bữa nay mình về hậu cứ đồng thời ghé thăm ông Châu luôn thể. À hôm nay có một người bạn xin quá giang nữa nghe.
- Ai vậy ông thầy?
- Cô giáo bữa mình gặp ngoài ngã ba Hàm Rồng đó nhớ không chú mày.
- Ồ, vậy em phải rửa xe cho thật sạch mới được.
- Lính tác chiến mà chú mày làm như lính kiểng ở thành phố không bằng, không sợ tụi hậu cứ nó cười sao?
- Sức mấy mà tụi nó dám cười thầy trò mình.
Tôi ghé lại nhà Quỳnh Hoa, nàng đã chờ sẵn, vẫn chiếc áo dài trắng hôm nào. Nét mặt vui vẻ, nụ cười tươi như hoa trông mới duyên dáng làm sao! Nàng bước ra cửa đón tôi:
- Chào anh, mời anh vào trong nhà uống miếng nước đã.
- Chào cô Quỳnh Hoa, cám ơn cô để khi khác, thôi chúng ta lên đường kẻo trễ.
Đến hậu cứ, tôi nhận tiếp liệu rồi hẹn tất cả tập trung lúc 2 giờ chiều để trở ra Phú Nhơn. Tôi chở Quỳnh Hoa vào bệnh viện. Châu vẫn còn thiếp trong giấc ngủ mê, khuôn mặt trắng bệch, hơi thở yếu ớt. Bà mẹ của Châu nhìn thấy chúng tôi thì không cầm nổi nước mắt. Bà bắt đầu thút thít khóc. Tôi tự hỏi trong những ngày qua người mẹ đau khổ này đã đổ bao nhiêu nước mắt cho đứa con yêu dấu của mình. Chiến tranh thật tàn nhẫn! Nó như một con quỷ luôn luôn cười cợt trên sự đau khổ của con người. Nó lấy xác chết làm chiến lợi phẩm. Quỳnh Hoa nhìn thấy Châu, bỗng hai hàng lệ tuôn trào. Tôi đưa chiếc khăn tay, nàng cầm lấy, che lên mắt và đi vội ra ngoài. Tôi không ngờ nàng quá nhạy cảm và thương tâm như vậy đối với một người bạn mới quen. Tôi an ủi bà mẹ của Châu mấy câu rồi vội vã đi tìm Quỳnh Hoa. Nhìn nàng đứng dựa chiếc cột ngoài hành lang bệnh viện, đôi vai rung lên từng hồi, có lẽ nàng đã quá xúc động. Tôi chẳng biết làm sao để an ủi nàng. Miệng lưỡi cứng đơ, chân tay thừa thãi, tôi lặng lẽ đến bên nàng, mắt tôi cũng bắt đầu nhòa lệ, tôi ôm lấy đôi vai bé bỏng của nàng. Quỳnh Hoa quay mặt lại và úp mặt vào vai tôi khóc nức nở như một đứa con nít. Có lẽ những đau khổ thầm kín lâu nay được dịp tuôn ra theo dòng nước mắt. Tôi để mặc nàng khóc cho vơi mối thương tâm. Một vài người đi ngang dòm chúng tôi với đôi mắt dò hỏi rồi bỏ đi. Chuyện khóc lóc có lẽ quá bình thường ở nhà thương. Một lúc sau nàng im lặng, chỉ còn những tiếng nấc nghẹn ngào. Tôi an ủi nàng:
- Em đừng khóc nữa, anh Châu chắc không đến nỗi nào đâu, mẹ ảnh nói bác sĩ cho hay ảnh đã qua cơn hiểm nghèo rồi chỉ chờ bình phục thôi.
Nàng thì thầm bên tai tôi:
- Em nhớ ba em hồi đó, cũng nằm ở bệnh viện này trong cơn hấp hối, nên em không cầm nổi nước mắt, xin anh tha lỗi cho em.
- Anh xin lỗi em, không ngờ cuộc thăm viếng này đã gợi cho em những đau đớn như vậy.
- Anh đừng nói vậy, anh không có lỗi gì cả, chỉ vì em tủi thân đó thôi.
Khi đã tỉnh trí, nhìn thấy một bên vai áo tôi ướt đẫm nước mắt, có lẽ thấy hơi ngượng ngùng nên Quỳnh Hoa đẩy nhẹ tôi ra và lí nhí mấy lời xin lỗi. Tôi vội dìu nàng ra xe và rủ ra ngoài phố kiếm gì ăn. Tôi dẫn Quỳnh Hoa vào quán như một đôi tình nhân gắn bó bên nhau. Những cặp mắt nhìn soi bói của đám thực khách mà quá nửa là lính tráng khiến nàng bối rối, ngượng ngùng.
Tôi nhìn nàng với đôi mắt nồng nàn, thầm cám ơn Thượng Đế đã cho tôi có dịp làm quen với người con gái dễ thương và thùy mị như vậy.
Sự hiện diện của Quỳnh Hoa trong đời sống cô đơn và đầy hiểm nguy ở nơi tiền đồn bất trắc khiến tôi thấy những gánh nặng trên vai bỗng nhẹ hẳn đi. Quỳnh Hoa là một dòng suối ngọt, một bóng mát, một hy vọng, một nơi yên tĩnh, êm đềm cho linh hồn và thể xác mệt mỏi của tôi trong cuộc chiến tàn nhẫn đầy máu và nước mắt này. Tôi vẫn chưa hiểu tường tận mối đau lòng của nàng khi thăm Châu trong bệnh viện nên muốn tìm hiểu thêm:
- Quỳnh Hoa ở Phú Nhơn lâu chưa?
- Độ gần một năm thôi, em ra trường sư phạm cấp tốc rồi xin đổi về đấy ngay.
- Sao em không xin dạy ở gần nhà có phải tiện hơn không?
- Ngày xưa, ba em làm Quận Trưởng Phú Nhơn. Người đã bỏ cả cuộc đời để xây dựng và cải tiến cái quận đèo heo hút gió này. Thời Đệ Nhất Cộng Hòa, dân chúng từ miền ven biển và từ ngoài Bắc di cư lên đây lập nghiệp rất đông, đã được chính quyền tận tình giúp đỡ. Nhưng rồi trong một cuộc đi thăm đồn điền của một xã phía tây quận lỵ, ba em đã lọt vào ổ phục kích và bị sát hại. Em lớn lên, muốn tiếp nối cái hoài bão của ba em là nâng cao dân trí để họ có thể hiểu được ý nghĩa của sự tự do, dân chủ, công bình và lẽ phải.
Tôi thầm nghĩ những mỹ từ tự do, dân chủ thật quá mơ hồ đối với những người lính tác chiến, với đám dân quê nghèo thất học ở đây. Gia đình, vợ con, miếng cơm manh áo, mạng sống có lẽ gần gũi hơn. Tôi thấy vừa kính nể vừa thương hại người con gái mới lớn mang trong lòng một hoài bão quá lý tưởng, quá to lớn.
Sau nhiều lần đi thăm Châu, chúng tôi thấy gần gũi nhau hơn. Tôi tìm thấy ở nàng một niềm vui, một ước mơ, một mái ấm gia đình cho tương lai. Vùng đất hoang vu này trở nên tươi mát đáng yêu bởi vì chỗ nào cũng thấy đoá hoa quỳnh nở rộn ràng.
Chúng tôi đã yêu nhau, có núi rừng và con sông nhỏ chảy qua quận lỵ làm chứng. Con sông thật hiền hoà và dễ thương như người tôi yêu. Bên bờ sông những hàng cây phượng vĩ nở đỏ rực mỗi mùa hè. Mùa mưa nước phù sa đỏ ửng từ trên ngàn chảy cuồn cuộn xuống ngập gần hết cây cầu sắt nhỏ bắc qua sông. Cây cầu nhỏ sơ sài có vài nhịp, bề ngang chỉ đủ cho một chiếc xe đò qua lại. Mùa nắng, nước cạn trơ những bãi cát trắng tinh. Người ta đào cát thành những vũng nước trong, gánh về để uống. Giữa lòng sông nước trong vắt chảy lững lờ, nhìn thấy cát và sỏi tận dưới đáy. Mấy chàng pháo thủ thường ra tắm sông để được chiêm ngưỡng những nàng thôn nữ cao nguyên ngực no tròn và tự nhiên một cách vô tư.
Tôi yêu núi rừng cao nguyên, mỗi buổi sáng thức dậy đứng trên đồi nhìn chung quanh chỉ thấy một màu xanh thẫm, mênh mông như biển cả. Tôi yêu con sông bé nhỏ, tôi yêu cây cầu sắt cũ kỹ đưa người qua sông, tôi yêu hàng phượng vĩ học trò, tôi yêu sân trường tiểu học Phú Nhơn, tôi yêu con đường nhựa bé bỏng chạy qua quận lỵ và băng qua núi rừng cao nguyên. Tôi yêu và yêu rất nhiều, bởi vì ở đâu cũng thấy hình bóng của nàng.
Tôi yêu vô cùng những buổi chiều hai đứa dẫn nhau ra bờ sông, lang thang dưới những hàng cây xanh um, hoặc ngồi trên thành cầu nhìn dòng nước hững hờ trôi. Nàng ngồi bên tôi, đong đưa hai bàn chân trắng muốt, cười nói vô tư như một thiên thần. Trời đất, vũ trụ, thời gian như ngừng hẳn, ôi đẹp đẽ và thanh bình đất nước tôi!
Ở đó, bấy giờ, không nghe tiếng súng nổ, không nghe tiếng gầm gừ của máy bay phản lực, không gian hoàn toàn yên tĩnh.
Chúng tôi đã dệt những giấc mộng tương lai đơn sơ và êm đềm.
- Quỳnh Hoa ơi, mai này chiến tranh chấm dứt, anh sẽ cất một căn nhà bên bờ sông này, em sẽ tiếp tục dạy học, còn anh sẽ biến vùng đất màu mỡ này thành một đồn điền trù phú, em có chịu không?
- Anh trồng cho em một vườn trái cây mít, ổi, xoài, đu đủ, mảng cầu nghe anh.
- Ừ, anh sẽ trồng bất cứ cây gì em muốn.
- Anh hứa thương em và chiều chuộng em như ngày xưa ba yêu thương và chiều chuộng em nghe.
- Anh hứa.
- Anh đừng bỏ em, như ba đã bỏ em một mình, em sợ lắm.
- Không, anh sẽ không bỏ em một mình.
- Nghe anh nói thơ mộng và sung sướng qúa, cám ơn Trời Phật đã cho em gặp anh. Có lẽ ba đã run rủi cho chúng mình gặp nhau. Lập ơi, em thương anh lắm, anh biết không?
- Sao em thương anh nhiều dữ vậy?
- Không biết nữa, có lẽ em thấy anh giống ba em. Anh chiều chuộng em, anh là người lớn, bao dung, đại lượng, biết rộng, hiểu nhiều. Anh biết không, hôm em gặp anh đi hành quân, em thấy anh oai hùng quá, giống như ba em ngày xưa. Mấy ông lính thương anh lắm phải không?
- Không, mấy ông ấy ghét anh lắm.
- Cái mặt xạo, ai mà ghét anh. Anh nhiều đào lắm phải không? nói cho em nghe đi.
- Có mình em thương anh thôi, thiệt đó.
Tôi ngồi bên nàng, uống từng giọt tình yêu ngọt ngào, nghe trái tìm mình đập từng điệu nhạc run rẩy trên lối vào thiên đường chỉ có hai đứa chúng tôi. Nàng đã dạy cho tôi biết mơ mộng, thấy đời đáng yêu hơn, những thứ đó tôi đã đánh mất từ khi mới lớn, từ khi bước chân vào quân ngũ, tôi vẫn nghĩ tuổi trẻ của tôi đang đi vào ngõ cụt với những giấc mơ hãi hùng. Đời tôi thật trống rỗng nếu không có nàng. Tôi thấy yêu thương nàng quá đỗi. Quỳnh Hoa vẫn còn vẽ những giấc mơ của nàng nhưng tôi không còn nghe gì cả, chỉ thấy cánh môi hồng mấp máy, hơi thở thơm tho mùi mía lùi phà trên mặt tôi. Bất chợt, tôi ôm và hôn nàng say đắm, người nóng bừng như có dòng điện chạy ào ạt từ tim lên đầu. Nàng đẩy nhẹ tôi ra:
- Coi kìa, người ta cười mình đó.
- Ai mà dám cười mình.
Nàng đánh trống lảng, bâng quơ hỏi tôi:
- Anh ơi, cây cầu này có tên không anh.
- Anh cũng chẳng biết nữa, hay là mình đặt cho nó một cái tên làm kỷ niệm nghe.
- Em cho anh đặt đó.
- Ừ, hay là mình gọi là Cây Cầu Biên Giới nghe em.
- Cái tên nghe cũng hay đấy, nhưng mà nghe có vẻ chia ly quá. Giống như trong bài “Chiều Mưa Biên Giới” của Nguyễn Văn Đông vậy.
Tôi phì cười:
- Mới thương nhau mà em đã nghĩ đến chuyện chia ly rồi.
- Nhưng mà em sợ lắm, thời buổi chiến tranh... Lỡ mai này, anh bỏ em ở đây một mình, em buồn lắm đó.
- Không, anh sẽ không bỏ em một mình, anh sẽ xin với mẹ để cưới em, chúng ta sẽ mãi mãi bên nhau.
Nàng reo lên sung sướng như một đứa con nít, mắt sáng ngời những tia hy vọng, rồi ôm lấy tôi. Ôi mùi thơm ngọt ngào, tôi làm bộ đẩy nhẹ nàng ra:
- Coi chừng người ta thấy, họ cười mình đó.
- Ai cười hở mười cái răng!
Thật không ngờ, nơi rừng rú hoang vu nguy hiểm này ai nghe đến cũng rợn tóc gáy. Bạn bè, người thân, lâu không gặp nhau, hỏi tôi bây giờ ở đâu, tôi trả lời ở quận Phú Nhơn tỉnh Cheo Reo, ai cũng lè lưỡi chọc tôi bộ hết đất rồi sao lên miền Thượng ở vậy, tôi chỉ cười khì. Bây giờ tôi đã có lý do để trả lời họ...bởi vì tôi mê hoa quỳnh, thế thôi.
- Anh làm gì ngồi thừ ra thế, hãy nói tiếp về tương lai của chúng mình cho em nghe đi.
- Anh đang sung sướng quá nên làm một bài thơ kỷ niệm.
- Ồ, anh biết làm thơ nữa sao? Hãy đọc em nghe đi, em sẽ thưởng cho anh.
- Ừ, anh đọc thơ con cóc, em đừng cười nghe. Em biết thơ con cóc không? Con cóc trong hang, con cóc nhảy ra.
Nàng đọc tiếp:
- Con cóc ngồi đó, con cóc nhảy đi... với anh !!! Em thích thơ con cóc lắm. Em sẽ làm con cóc như trong chuyện cổ tích gì đó, anh học trò có người vợ cóc xấu xí, đêm đêm hiện nguyên hình là một nàng tiên săn sóc cho chồng. Ban ngày là một con cóc lẽo đẽo theo chồng.
- Nếu em là một nàng Tiên cóc, anh sẽ bỏ em vào ba lô mang theo khi đi hành quân để lúc nào em cũng ở bên anh.
- Anh phải đọc thơ cóc cho em nghe. Ơ, nếu vậy mấy ông lính sẽ gọi anh là người điên đó.
- Điên vì em, thì anh cũng chịu.
Nàng bá cổ tôi nũng nịu:
- Thôi đừng đánh trống lảng, đọc thơ con cóc cho em nghe đi anh.
- Ừ, anh đọc nghe, cấm cười đó, đứa nào cười anh khóa miệng lại cho mà coi.
Chiều về thấp thoáng bên sông,
Thấy Quỳnh thơm ngát thấy lòng xôn xao.
Nàng cười rũ rượi, hai tay đánh liên hồi vào vai tôi. Một ngày như mọi ngày trôi qua, trong thung lũng tình yêu, bên cây cầu biên giới, nỗi chết đã chịu tạm rút lui, để nhường chỗ cho tình yêu hoa bướm ngọt ngào. Tôi lấy con dao găm đeo bên mình khắc câu thơ trên thành cầu sắt để đánh dấu một chặng đường yêu đương…
*
- Anh muốn vào chợ hay đến nhà ai ở quận Phú Nhơn?
Tiếng người tài xế kéo tôi về thực tại. Giấc mơ thật ngắn ngủi, như cuộc tình của chúng tôi.
- Anh cho tôi lại trường tiểu học.
Quang cảnh không thay đổi mấy, thời gian như ngừng trôi ở quận lỵ nhỏ bé này. Ngôi trường còn nguyên đó, phố chợ đìu hiu y như xưa, hàng rào kẽm gai chung quanh doanh trại nơi tôi đóng quân vẫn hiện hữu, nhưng chẳng ai biết đến một người con gái đẹp như hoa quỳnh đã từng in dấu chân nơi chốn này. Hình ảnh ngày xưa vẫn còn đủ chỉ thiếu một người. Tôi hối người tài xế chạy ra phía cây cầu.
Chiếc cầu sắt nhỏ bé đầy dấu kỷ niệm, tôi như trong giấc mơ, chàng Tú Uyên ngày xưa khi tỉnh giấc không thấy người đẹp trong tranh đâu nữa, chắc cũng ngỡ ngàng như tôi hôm nay thôi. Tôi bước lên cầu, ngồi đúng vào chỗ ngày xưa chúng tôi đã từng có một thời mơ mộng. Tôi ngồi bệt xuống, hai chân đong đưa, mắt nhìn xa xăm trên những ngọn phượng vĩ bên sông, cố tìm chút nắng vàng ngày xưa của một buổi chiều tà. Tìm mãi cũng chẳng thấy đâu, không có một dấu tích gì của nàng.
Nơi thành cầu này, tôi đã hôn những nụ hôn đầu tiên trong đời, vẽ những giấc mơ đầu tiên trong đời và làm những bài thơ con cóc đầu tiên trong đời. Đúng là cây cầu chia ly như nàng đã nói. Bây giờ nàng ở đâu, hay đã bỏ xác trên tỉnh lộ số 7 trên đường di tản về Tuy Hoà. Ồ phải rồi, tôi phải tìm lại bài thơ con cóc, có lẽ đó là kỷ niệm duy nhất còn lại của tôi với nàng. Tôi dò từng tấc sắt trên thành cầu, bài thơ còn đó nhưng đã dài thêm hai câu:
Chiều về chiều vẫn một mình,
Trách người năm cũ bỏ tình bơ vơ.

Tôi bay về Hoa Kỳ lòng buồn miên man, bao nhiêu háo hức của ngày trở lại Việt Nam đã tiêu tan đâu mất chỉ còn lại sự mệt mỏi và chán chường.
Tôi đã đi mọi nơi, để tìm tung tích của Quỳnh Hoa nhưng cũng không có tin tức gì. Ngày ấy nếu tôi không bị kẹt ngoài Huế, chắc chúng tôi đã chết bên nhau hay cùng nhau lênh đênh trên con tàu vượt biển. Thời gian thấm thoát trôi mau, mỗi lần đi đâu, thấy bóng dáng mái tóc thề và chiếc áo dài trắng lòng tôi lại xôn xao như ngày nào bên chiếc Cầu Biên Giới.
Lê Nguyên Hằng & Nguyễn Thạch Hãn