Saturday, February 2, 2019

Về Quê Ăn Tết, Nỗi Đau Xé Lòng!

LA- Hoàng Anh Tuấn
Đọc bản tin của báo Người Việt về đề tài "Tân Sơn Nhất, "ngộp thở" đón Việt kiều về quê ăn Tết", khiến cho người viết cũng muốn "nghẹt thở" chỉ vì nghĩ đến vận nước vẫn tiếp tục điêu linh, mà những con dân Việt đang sống đời tự do tại hải ngoại lại có thể ung dung tự tại, vui hưởng những thứ mà họ có thể tự kiềm chế, trên nỗi khổ đau của muôn vạn đồng bào ruột thịt, sống đời "trâu ngựa " bên quê nhà.
Báo chí trong nước cho biết trong đầu năm 2019 đã có "biển người ra phi trường Tân Sơn Nhất để đón người thân" và khiến cho hệ thống giao thông bị tắt nghẽn.
Cũng từ các nguồn tin đáng tin cậy cho biết, năm nay, đã có hằng trăm ngàn người Việt từ hải ngoại về Việt Nam vào dịp Tết này. Và kể từ năm 2000 đến 2018 người Việt hải ngoại gởi về Việt Nam từ 18 tỷ đến 20 tỷ Mỹ kim mỗi năm, chưa kể những hình thức khác bằng tiền mặt.
Ngày xưa Việt Nam Cộng Hòa phải chịu sụp đổ chỉ vì đồng minh Hoa Kỳ từ chối viện trợ khoảng nửa tỷ Mỹ kim để cứu nguy miền Nam mà không được. Người Quốc Gia chúng ta mất nước vì họa cộng sản và mình đã từng trách sự phản bội của đồng minh Hòa kỳ, nhưng ngày nay mình phải trách ai? Có phải chính những người Việt Nam vô ý thức đã giết chết tiềm lực đấu tranh của những người Việt Nam thật sự yêu nước? Có phải chính người Việt Nam tỵ nạn cộng sản tại hải ngoại đã tự giết chết chính nghĩa đấu tranh của dân tộc mình, khi cách này hay cách khác mình đã tiếp tay cho CSVN tiếp tục thống trị đất nước?
Làm sao mà người Việt Nam tại hải ngoại có thể thắng được chế độ CSVN gian manh chỉ bằng những lời đao to búa lớn trong các mùa Quốc Hận 30-4, Ngày Quân Lực 19-6 hoặc vào dịp Tết hằng năm... Nhưng sau đó không làm gì cả... Hoặc năm này qua tháng khác lại vô tình hay hữu lý góp phần cho sự vững mạnh của quân cộng sản bán nước, mà đáng lẽ chúng nó đã phải sụp đổ từ lâu?
Làm sao mà người Việt Nam từng trốn chạy chế độ CSVN có thể đấu tranh để lấy lại quê hương, khi mà có quá nhiều giới "trí thức" hay những người từng giữ những chức vụ quan trong chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, từng đi tù cải tạo của VC nhiều nằm sau ngày 30-4-75, nhưng nay vẫn chưa hiểu cộng sản là gì? Hoặc hằng năm họ chỉ chống cộng một lần hay vài lần duy nhất, trong những ngày quan trọng vừa nêu?
Làm sao mà ngày nay những người từng bị VC giam cầm, từng bị VC tra tấn, từng thù ghét chế độ VC, có thể thắng được chúng nó, chỉ bằng những bộ đồ lính trận hay những bộ đồng phục trong các quân trường ngày xưa, nay được mang ra ủi láng bóng, gắn đầy "huy chương", hoặc "cấp bậc" thật sáng chói, cùng với những bài diễn văn nẩy lửa, những lời tuyên bố hùng hồn bên cạnh những ly rượu hay những lon la-ve được chất đầy trên bàn, hay bỏ nhóc dưới sàn nhà, rồi thề với nhau là sẽ tiếp tục "chống cộng đến hơi thở cuối cùng"... Nhưng sau đó về nhà nghỉ khỏe, chờ năm sau mang đồ ra, ủi cho thật tươm tất để đánh tiếp?
Chuyện về quê ăn Tết với nỗi đau xé lòng là đề tài khó nói hay khó viết ra, bởi lẽ nó sẽ đụng chạm đến nhiều người. Đối với một số người thì cho dù có ai đói, hay chết cũng mặc bây. Đất nước Việt Nam có còn hay mất thì cũng chẳng sao? Chuyện thằng Tàu chiếm Việt Nam thì khác gì "chính quyền cách mạng" nắm quyền? Ai nghèo, ai đói, ai mất tự do, thì có chết thằng Tây nào? Nói chung, các chuyện đó chẳng ăn nhằm gì đến họ. 
Bài báo nêu trên có đoạn chi rằng: "Để sum họp cùng với gia đình, nhiều bà con Việt kiều chọn chuyến bay đáp xuống Tân Sơn Nhất vào lúc sau 11 giờ đêm. Nhưng không vì vậy mà khu vực ga hàng không này giảm bớt tình trạng chật kín người đến đón người thân vào ban ngày."
Ngay trên quê hương Việt Nam, chuyện về quê ăn Tết là nỗi ước mơ hay việc làm đáng quý của những ai vì hoàn cảnh phải xa nhà để đến một nơi nào đó làm ăn sinh sống... Và ngày hết Tết đến, họ tìm đủ cách để được quay về xum họp với gia đình thì không gì đáng trách. Có thể nói, đây là hạnh phúc to lớn dành cho những ai lâu ngày không gặp lại những người thân yêu của họ. Thế nhưng chuyện "Việt kiều" thường xuyên hay hằng năm lũ lượt kéo nhau "về quê ăn tết", quả thật đã vô tình nuôi chế độ CSVN tiếp tục sống hùng, sống mạnh.
Đúng là:
Ngày xưa bỏ nước ra đi,
Mà nay vác mặt quê giúp thù.
Ngày xưa từng bị lao tù,
Mà nay trở lại giúp thù, kỳ ghê.
Ngày xưa cửa nát nhà tan,
Mà nay lại muốn nát tan cửa nhà.
Ngày xưa "chống cộng tới chiều",
Mà nay thái độ như diều đứt dây.
Ngày xưa sống cảnh tù đày,
Mà nay lại vội quay về hưởng vui.
Ngày xưa đã quyết ra đi,
Mà nay trở lại làm gì, hở anh?

Bài báo còn kể rằng: "Câu chuyện từng lưu truyền trước đây là “Một Việt kiều về thăm quê, có cả một làng đi đón!”. Những cảm xúc đoàn tụ sau bao nhiêu nghịch cảnh lịch sử ở phi trường Tân Sơn Nhất là dấu ấn khó phai nhòa. Nhưng sau hàng chục năm dưới chế độ cộng sản, người Việt lại tiếp tục tìm mọi cách hoặc tận dụng mọi con đường mà họ có thể để rời bỏ quê hương ra đi."
Liên quan đến chuyện về Việt Nam hay không về Việt Nam, có người đã lên mặt dạy đời người khác rằng:
"Chống cộng thì cứ chống, chứ tại sao lại ruồng bỏ quê hương?"
Người viết bài này từng nghe những câu nói tương tự như thế. Đây có thể là lối nói của người bình dân, vì thiếu suy nghĩ nên có lý luận nông cạn như thế; nhưng nó cũng là lối ngụy biện từ những kẻ tuy có học, nhưng thiếu hiểu biết và không còn liêm sỉ.
Sở dĩ người ta không về hay ít về Việt Nam hoặc chỉ về Việt Nam bởi những lý do hết sức chính đáng... Là vì người ta không muốn vô tình "tiếp máu" cho bọn VC qua con đường "ngoại tệ". Tiền đô-la là huyết mạch cho sự sống còn của chế độ cộng sản độc tài bên Việt Nam. Ngày nào bọn CSVN còn cai trị đất nước, thì ngày đó người dân còn khổ. Ngày nào mà đám lãnh tụ của đảng CSVN còn, thì ngày đó đất nước Việt Nam sẽ muôn đởi chết bởi tay bọn Tàu cộng xâm lược. Cho nên người ta tránh không ra vào Việt Nam hay người ta từ chối quay về Việt Nam để làm ăn hay mua bán là như vậy.... Chứ không phải người ta quên quê hương hay ruồng bỏ quê hương.
Ngoài ra, làm sao để chính phủ của quốc gia tự do trên thế giới có thể hiểu để rồi giúp người Việt Nam giải thể chế độ CSVN, khi mà người ta phải chứng kiến những người Việt Nam từng liều mình bỏ nước của họ ra đi tìm tự do, từng khai báo với Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc là mình không có tự do... Mà nay lại có thể nhiều lần quay trở lại cái nơi mà họ đã bỏ ra đi vì cho rằng mình mất tự do? Tuy người Quốc Gia có chính nghĩa nhưng làm sao người Quốc Gia có đủ sức mạnh để thắng kẻ thù CSVN, khi mà người Quốc Gia này vừa đánh bọn VC thì người Quốc Gia khác lại đi "băng bó" cho chúng nó?
Nói tóm lại, chuyện "Về quê ăn Tết" không có gì là sai trong những hoàn cảnh bình thường, nhưng đứng trước tình trạng đất nước Việt Nam hiện nay, mà người Việt Nam ở hải ngoại cứ tiếp tục "về quê ăn Tết" là chuyện không nên làm hay nên hạn chế... Những việc làm có tính cách giúp cho VC tồn tại, chính là nỗi ê chề dành cho những người tranh đấu chống cộng và những ai phải ngày đêm chịu đựng gian khổ trong cuộc sống tù đày tại Việt Nam, khi phải chứng kiến những "Việt kiều" năm nào cũng "về quê ăn tết". Họ "ăn Tết" trên nỗi khổ đau, tủi nhục của họ hàng và đồng bào của họ. Nói cho cùng, chuyện về quê ăn Tết là niềm vui của một số người, nhưng cũng là nỗi đau xé ruột của nhiều người khác. Nó cũng chính là một trong những nỗi đau "thấu xương" của một dân tộc đang bị đọa đày.
LA- Hoàng Anh Tuấn

Monday, January 28, 2019

Việt Nam: Một Venezuela không có Mỹ -Mặc Lâm



Sáng ngày 23 tháng 1 năm 2019, cuộc tuần hành phản đối của dân chúng do phe đối lập tổ chức đã bắt đầu tại Avenida Francisco de Miranda, một đường phố lớn ở Caracas con số người tham gia lên tới hàng trăm ngàn người. Ở những nơi khác người dân Venezuela cũng tập trung bằng những nhóm nhỏ hơn. Mục đích của họ là ủng hộ ông Juan Guaidó, Chủ tịch Quốc hội, nay trở thành Tổng thống lâm thời của Venezuela trong khi chờ đời cuộc tuyển cử để người dân bầu cho một Tổng thống chính thức thay thế Tổng thống Nicolas Maduro người bị cáo buộc gian lận trong cuộc bầu cử năm 2018 và trực tiếp đưa đất nước Venezuela vào chỗ cùng quẫn.
Nhìn lại giai đoạn từ thời Tổng thống Hugo Chavez, người cổ vũ cho chủ nghĩa xã hội tại đất nước Venezuela cho tới đời của ông Maduro hiện nay, người Việt Nam có thể rút ra những nhận xét tương đồng và khác biệt khá thú vị giữa hai nước để từ đó có một cái nhìn trầm tĩnh hơn nhằm rút ra bài học cho đất nước của mình.
Có 4 tương đồng lớn, rất dễ nhận ra giữa hai nước đó là áp dụng Chủ nghĩa xã hội vào nền kinh tế, lệ thuộc quá sâu vào Trung Quốc, thiết lập một thể chế độc tài phản dân chủ, và đầu tư quá nhiều vào lực lượng vũ trang để bảo vệ chế độ.
Venezuela từng là một quốc gia giàu có bật nhất Nam Mỹ. Trữ lượng dầu đứng vào hàng nhất nhì thế giới và thu nhập bình quân đầu người là gần 20 ngàn USD/năm. Thế nhưng khi Tổng thống Hugo Chavez quyết định dẫn dắt đất nước theo con đường phát triển của Chủ nghĩa Xã hội thì đất nước này nhanh chóng rơi vào suy thoái. Hugo Chavez đã ban hành “Missión Bolivar” xử dụng ngân sách hơn 2 tỉ mỗi năm với mục đích cung cấp mọi dịch vụ xã hội cũng như trợ giúp về tài chánh cho thành phần dân chúng thấp kém nhất.
Đây là hành vi mua phiếu của người nghèo mà Thái Lan là nước có kinh nghiệm vể việc này nhiều hơn nước nào hết, khi cựu Thủ tướng Thaksin Shinawatra lấy từ ngân sách ra một số tiến rất lớn yễm trợ cho nông dân Thái trong những việc hết sức hài hước: Cho nông dân vay không cần thế chấp, trợ giúp giá lúa một cách tùy tiện và sau đó xóa nợ cho họ một cách đại trà. Những hành động này đã giúp cho Đảng Pue Thái mạnh lên nhưng vẫn không qua được sự chống đối của đại đa số người dân thành thị không được trợ giúp như nông dân để cuối cùng thì cả gia đình của người Thủ tướng có gốc Trung Hoa này phải chịu cảnh lưu vong.
Hugo Chavez còn hơn Thaksin một bậc khi quyết định quốc doanh hóa rất nhiều nhà máy sản xuất dầu bất kể nó là của tư nhân hay ngoại quốc sở hữu. Chavez đã đem tay chân thân tín của mình vào nắm các vị trí quan trọng trong những nhà máy lọc dầu bất kể thiểu năng về tri thức của họ trước một nền công nghiệp đòi hỏi sự hiểu biết tường tận của các chuyên gia về dầu hỏa. Kết quả là bọn người này vơ vét tận tình tài nguyên quốc gia để tạo nên một giai cấp mới: “tư bản đỏ” trong lòng thủ đô Caracas. Cho tới khi dầu thô sụt giá tàn tệ và nguồn dầu dự trữ cạn kiệt thì Venezuela rơi tự do vào vùng trũng kinh tế, cả xã hội không biết sản xuất một món hàng tiêu dùng vì đã quen nhập khẩu từ nước ngoài. Người dân từ giàu có bỗng chốc trở thành ăn mày và tệ hơn nữa phải lục trong đống rác tìm chút gì để đỡ đói.
Việt Nam không hề thua kém Venezuela về khoản tham nhũng này, Dầu hỏa là nguồn thu đáng kể của Việt Nam lên tới 20% GDP nhưng do sống trong định hướng Chủ nghĩa Xã hội nên Việt Nam còn “đi trước” Venezuela về khoản nuôi dưỡng người thân tín trong guồng máy. Vụ án của Tập đoàn dầu khí Việt Nam gọi tắt là VPN là một mảng tối trong bức tranh Chủ nghĩa xã hội mà Việt Nam đeo đuổi. Bốn người từng là Chủ tịch Hội đồng thành viên Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) nối tiếp nhau, Đinh La Thăng, Phùng Đình Thực, Nguyễn Xuân Sơn, Nguyễn Quốc Khánh thay nhau bị khởi tố. Ngoài ra Trịnh Xuân Thanh Chủ tịch HĐQT của Tổng công ty Cổ phần Xây lắp Dầu khí Việt Nam (PVC), cũng bị ra tòa vì tham ô dính líu tới 7 lãnh đạo cao cấp. trong đó có 3 nguyên ủy viên trung ương và 2 thứ trưởng đương nhiệm.
Hiện nay theo chuyên gia PGS.TS Hoàng Văn Quý, nguyên viện trưởng Viện Nghiên cứu khoa học - thiết kế dầu khí biển cho biết mỏ Bạch Hổ. là mỏ chính quan trọng nhất của Việt Nam gần như sắp cạn kiệt chỉ trong vòng vài ba năm nữa là hết sạch dầu. Nhưng may mắn cho Việt Nam tuy dầu thô là nguồn thu huyết mạch nhưng nếu hết dầu thì nó cũng không thể sụp đổ như Venezuela.
Với Venezuela thì khác, do không có nguồn thu nào khác ngoài tài nguyên dầu hỏa nên khi giá dầu xuống nước này trở thành con tin của Trung Quốc vì đã vay nợ từ một chủ nợ có bề dày thâm hiểm bậc nhất về đồng tiền bỏ ra phải lấy lại những gì phù hợp. Món nợ hơn 50 tỷ Mỹ kim trói Venezuela vào chiếc gông Trung Quốc không tài nào thoát ra nỗi. Cho dù giá dầu có lên thì số dầu bán ra cũng không đủ cho Trung Quốc siết nợ cả vốn lẫn lời.
Việt Nam cũng không khác gì Venezuela có điều ngoài sự lệ thuộc Trung Quốc về các khoản vay, sự lệ thuộc sâu đậm nhất là hệ quả của việc giống nhau về ý thức hệ. Việt Nam không dám buông Trung Quốc vì lo ngại không có ai bảo vệ chiếc ghế cho mình, tức là những lãnh đạo cao cấp nhất chế độ, vì vậy khi nào Trung Quốc còn hiện diện trên trướng quốc tế thì lúc ấy Việt Nam sẽ còn tiếp tục khép nép như từ xưa tới nay.
Sau khi Hugo Chavez mất đi do bệnh ung thư, Nicolas Maduro lên thay chức Tổng thống và tiếp tục chọn con đường Chủ nghĩa xã hội. Chavez đã gây dựng được một lực lượng thân hữu trong quân đội và chính quyền bằng chế độ bao cấp và Maduro chỉ theo đó mà phát lương cho người trung thành với mình. Cuộc bầu cử Tổng thống vào tháng 5 năm 2018 Maduro tiếp tục thắng cuộc nhưng đã bị quốc tế lên án gắt gao vì gian lận và vượt quyền kiểm soát của quốc hội, khiến cho Maduro bỏ thêm tiền vào thành phần ủng hộ ông nhiều hơn nữa. Số tiền này được lấy ra từ khoản vay của Trung Quốc và Nga do đó vòng tròn lệ thuộc ngày một xiết chặt chính phủ của Maduro hơn.
Nền độc tài nào cũng phải trả giá, kể cả Cộng sản Việt Nam.
Là một thể chế cộng sản, khác với Venezuela về tính cách tổ chức hệ thống chính trị, Việt Nam không có một quốc hội cũng như một hệ thống tòa án độc lập vì vậy sự nổi dậy của một quốc hội trước chính phủ độc tài không thể xảy ra. Tuy nhiên điều giống với Venezuela là Việt Nam cũng nuôi một bộ máy cồng kềnh để bảo vệ chế độ còn hơn cả đất nước lừng danh về những cuộc thi hoa hậu. Con số đảng viên đang sinh hoạt đảng chính thức hiện nay không dưới 4 triệu 300 ngàn người cộng với gia đình họ đang là gánh nặng khó che dấu của chính quyền Hà Nội. Tất cà những đồng tiền lấy từ ngân sách để cung cấp cho con số này có thể làm cho người bình thường nhất cũng phải hỏi xem họ là ai mà được hưởng những quyền lợi như thế.
Không cần biết họ là ai, miễn sao họ bảo vệ và trung thành với Đàng là xứng đáng được hưởng những ưu đãi mà chế độ này mang lại cho họ.
Khi biết được điều này người ta sẽ không ngạc nhiên khi mọi cuộc biểu tình tại Venezuela đều bị thành phần thân chính phủ chống lại một cách tích cực. Họ cũng là dân chúng, cũng đói khát, thiếu thốn như mọi người nhưng họ được ưu đãi từ chính quyền khi ưu tiên được phê duyệt các loại nhu yếu phẩm hiếm hoi mà chế độ mua được hay trao đổi từ nước ngoài.
Việt Nam nuôi quân bảo vệ chế độ nhưng chưa có cơ hội sử dụng, và nếu ngày ấy xảy ra thì người dân Việt cũng không thể nào tưởng tượng ra được tại sao cùng thân phận dân chúng như mình mà họ lại chống lại nhân dân?
Venezuela có một điểm rất khác với Việt Nam là được Hoa Kỳ ra mặt ủng hộ, kể cả Chủ tịch Quốc hội trở thành Tổng thống lâm thời của Venezuela cũng có khả năng là một kịch bản do Mỹ dàn dựng. Nếu thiếu vai trò của Mỹ chắc chắn Caracas cũng không khác gì Hà Nội hôm qua, hôm nay và mãi mãi.
Người ta lo ngại một cuộc nội chiến nhưng quên đi một điều là nước Mỹ ở rất gần Caracas. Nhất cử nhất động của chính phủ Maduro đều nằm trong tầm nhắm của Washington và quan trong hơn nữa là nhóm Lima, gồm 14 nước Nam Mỹ, bao vây chung quanh Venezuela sẽ không cho phép Maduro muốn làm gì thì làm.
Việt Nam không có Mỹ phía sau liệu Biển Đông có phải là bài toán giải vây trước sức ép của Trung Quốc từ bao năm nay?
Câu hỏi này khó mà giải đáp thấu đáo và logic. Những cái đầu trong Bộ chính trị hơn hẳn sự tính toán một chiều như của Maduro và cận thần, hơn nữa Việt Nam không hề có đối lập và một Quốc hội đúng nghĩa. Bù nhìn không thể xua đuổi những tên trộm ranh mãnh và đầy tình toán.
Và quan trọng hơn, trong những ngày Venezuela sống trong không khí bùng nổ của một cuộc cách mạng thì giới trẻ Việt Nam đang bận suy tư trước trận banh với Nhật Bản. Những status về Venezuela chỉ bằng 1/10 niềm vui . . . thua trận của đội tuyển nước nhà.
28/01/2019
Mặc Lâm

Monday, January 21, 2019

Ai Nợ Ai - Bauxite Việt Nam

Đặt vấn đề so sánh xem Việt Nam nợ Trung Quốc hay Trung Quốc nợ Việt Nam trong quá khứ lịch sử cũng như hiện tại để thanh toán đi những vướng mắc không đáng có đang chi phối tâm lý dân tộc là điều cần thiết. Nhưng nói đến lịch sử thì có lịch sử gần và có lịch sử xa. Nếu phải tính đến món nợ máu xương do Trung Quốc gây ra cho dân Việt thì không thể đặt nó trong một lịch sử gần mà phải nhìn suốt một chiều dài có đến hơn 2000 năm. Kể từ cuộc xâm lược đầu tiên của đội quân do các Hoàng đế Đại Hán tiến hành kéo xuống tàn sát dân ta và lập ra cuộc đô hộ của chúng suốt 1000 năm Bắc thuộc, cho đến hàng chục cuộc xâm lăng hung hãn của các đế chế Trung Hoa dưới nhiều triều đại tự chủ của nước ta từ thế kỷ X về sau, bao gồm cả những cuộc chiến tranh trong thế kỷ XX như chiến tranh cướp Hoàng Sa 1974, cướp Gạc Ma 1988, chiến tranh biên giới 1979… đều là những món nợ khủng khiếp, ngày một chồng cao như núi mà phía “vay” không bao giờ trả nổi. Chỉ có thể gọi đó là mối thù muôn đời muôn kiếp không tan, đúng như lời Phan Bội Châu: “Oán thù ta hãy còn lâu / Trồng tre nên gậy gặp đâu đánh què”.
Nhưng không chỉ có thế. Ngay việc ta đánh Mỹ cũng không hoàn toàn là đánh cho ta mà chủ yếu và trước hết là “đánh cho Liên Xô, Trung Quốc” (Lê Duẩn). Như thế, thành quả của cuộc chiến không phải ta hưởng mà chính LX và TQ mới là hai ông anh thủ đắc trước tiên. Và đó cũng là một phương diện khác của món nợ máu xương mà ta có quyền đòi ở họ, và họ - nhất là anh láng giềng phương Bắc “núi liền núi sông liền sông” - có nghĩa vụ phải trả cho ta. Không nói về nhân mạng ta đã từng mất đi hàng bao nhiêu triệu con người ưu tú, sau chiến tranh mọi hậu quả về các thứ bệnh do cuộc chiến phát sinh, nặng nề nhất là bệnh chất độc da cảm ảnh hưởng di truyền đến nhiều thế hệ con cháu… biết dùng thứ gì mà bù đắp được? Những thiệt hại về nòi giống chính là cái gánh nợ quan trọng hàng đầu mà ta có quyền đòi trong tư cách đảng cộng sản đàn em thân tín yêu cầu các “ông anh” phải “chia sẻ nỗi đau” cùng chúng ta, thực chất là ta đòi khoản thù lao đánh thuê để hai nước cộng sản đàn anh rảnh tay xây dựng và be bờ đắp đập cho phên dậu nhà mình.
Còn nói cụ thể việc Việt Nam nợ Trung Quốc về súng ống đạn dược, lương thực, bạc tiền trong cuộc chiến tranh 20 năm ấy mà Trung Quốc đã “nhiệt tình” giúp đỡ thì trước khi đặt vấn đề ai trả, lại phải đặt ra một vấn đề khác cho phân minh, rằng món nợ này do ai vay? Dám chắc toàn dân Việt Nam không ai vay Trung Quốc. Muốn biết ai vay thì phải lần đến tận ngọn nguồn: ai đã gây ra cuộc chiến tương tàn giữa hai miền Bắc và Nam Việt Nam trong suốt 20 năm 1954-1975 mà cuối cùng nhân dân cả hai miền đều phải chịu chịu một tổn thất nặng nề đến nay chưa thể nào hàn gắn nổi? Câu trả lời ngày càng nổi rõ trong nhận thức, tưởng không còn mấy ai phải phân vân: chính là Đảng Cộng sản Việt Nam. Chính tổ chức bạo lực đó đã phát động cuộc cướp chính quyền năm 1945 dưới danh nghĩa Mặt trận Việt minh rồi sau đó giữ chặt lấy chính quyền mặc dầu không ai bầu cho họ. Vậy là họ đã cầm quyền tiếm danh kể từ 1945 đến tận hôm nay, đúng 73 năm, và trong 73 năm đó đã một mình mình tự quyết định mọi chuyện, trong đó có chuyện xoay xở vay mượn tất cả những nước cùng ý thức hệ như LX, TQ và các nước CS khác để đem mọi thứ về phát động con dân miền Bắc lên đường trèo đèo lội suối đi đánh cướp miền Nam. Kết quả của cái việc vay mượn tự chuyên kia là một nước Việt Nam tuy có thống nhất được cả hai miền sau 20 năm giết chóc, nhưng cái giá của nó thì còn đắt hơn vàng mà như trên đã nói, đến tận bây giờ vẫn chưa thể có được một nước Việt Nam yên hàn, lành lặn, khi mà cả một dân tộc trở thành nồi da xáo thịt trong suốt hai thập niên, để rồi sau đó là nhiều đoàn người đã rùng rùng bỏ nước ra đi tìm nơi trú ngụ mới ở khắp bốn phương trời, đén nỗi nay muốn ngồi lại cùng nhau để hòa hợp hòa giải cũng chưa xong. Vậy thì món nợ do ĐCS VN vay của Cộng sản Tàu không lãi mà lỗ lớn. Lỗ cả về vật chất và tinh thần cho cả một dân tộc.
Đương nhiên dù lỗ, đã vay thì phải trả. Nhưng con nợ trực tiếp là ĐCSVN thì họ phải tìm mọi cách để trả chứ không thể bắt dân Việt phải trả thay họ, vì người dân đã từng hiến dâng hết tính mạng con cái và tài sản gia đình mình (có rất nhiều nhà như nhà bà mẹ Diệm chết sạch đến cả 6 người con) cho cuộc chiến cưỡng bức vô thức này. Họ càng không thể đem đất đai, biển trời của Tổ quốc ra để trả, nếu như còn một chút liêm sỉ nào đó. Sau 73 năm tự chuyên với công và tội đầy mình, chắc chắn không ai còn muốn họ được phép nhân danh cái quyền mà thực chất họ không có để cắt xé dù chỉ một thước núi một tấc sông đem dâng cho nước ngoài, huống chi nước ngoài ấy lại là kẻ thù truyền kiếp của toàn thể dân tộc Việt Nam (Lê Duẩn).
Chính vì thế, khi chúng ta nhìn những nụ cười như nụ cười nham nhở dưới đây của một kẻ từng có đầy oai quyền và từng ban phát quyền sinh quyền sát cho rất nhiều thế hệ trí thức cũng như người dân trong nhiều thập niên thuộc nửa cuối thế kỷ XX, ta sẽ thấy trong lòng dâng lên một mối hờn căm chính đáng, và tự nhiên lợm giọng. Y và những kẻ như y mới chính là những con nợ lâu đời nhất của toàn thể dân chúng Việt Nam - những ai đã nằm xuống, những ai hiện còn, những ai đang sống ở trong nước hoặc những ai đã bỏ nước ra đi, theo chúng tôi, đều là chủ nợ của bè lũ tội nhân này.
Bauxite Việt Nam

Monday, December 31, 2018

GIÁNG SINH TRONG TÙ! - Nam Lộc


          Những người Việt và Thượng đang bị cảnh sát Thái bắt giữ! 
Trong lúc hàng triệu người Việt ở trong nước, cũng như tại hải ngoại. Không phân biệt tôn giáo, hầu như mọi người đều tưng bừng, nô nức chào đón Giáng Sinh 2018. Nhưng ít ai ngờ được rằng hàng trăm tù nhân lương tâm vẫn kiên trì cầm hơi, chịu đựng tại các trại giam ở trong nước. Họ là những người đi tù vì quê hương! Trong khi đó, tại hải ngoại, cũng có hàng trăm người Việt tỵ nạn đang âm thầm bị giam giữ trong các trại tù di trú ở Thái Lan. Họ là những người đi tù vì hai chữ tự do.
Theo như báo cáo của các thiện nguyện viên tại Bangkok thì hiện có khoảng gần 130 người tỵ nạn đang bị bắt giữ trong trại giam của sở di trú Thái Lan, Immigration Detention Center (IDC), gồm có cả người Việt lẫn đồng bào thiểu số. Dù nhiều người trong đó cũng đã được Cao Ủy LHQ cấp cho quy chế “tỵ nạn”. Họ đang sống trong lo âu và vô vọng. Không biết khi nào sẽ được thả và cũng chẳng biết niềm hy vọng mong manh, một ngày nào đó được định cư ở đất nước tự do có đến với họ hay không? Nhưng trước mắt hiện nay là phải đối diện với thiếu thốn, khổ đau và chia cách! Chính phủ Thái Lan giam giữ họ riêng biệt, và Giáng Sinh năm nay là một Giáng Sinh buồn. Chồng ở một nơi, vợ một nẻo và các con thì bị nhốt tại một địa điểm khác.
Mặc dù 2018 là một trong những năm mà người Việt tại hải ngoại rất quan tâm, cũng như để ý đến hoàn cảnh của hơn một ngàn người Việt tỵ nạn đang sống vất vưởng ở Thái Lan. Nhiều buổi nhạc hội gây quỹ trợ giúp đã được tổ chức tại nhiều nơi và gần đây nhất, vào những ngày cuối năm. Theo sau ba buổi “Chợ Đêm” của cộng đồng người Việt tại Houston, Texas, thì anh chị em trong nhóm Hoài Việt cùng đồng hương chúng ta tại Philadelphia cũng như Cộng Đoàn Thánh Tâm và đồng bào VN ở thành phố Dayton, Ohio cũng đã tự nguyện thực hiện các buổi quyên góp giúp người tỵ nạn. Nhưng tất cả đều tập trung vào quỹ định cư theo điều kiện mà chính phủ Canada đòi hỏi qua chương trình “Private Sponsorship” mà tổ chức VOICE tại Canada đang nỗ lực tiến hành với dự trù là sẽ phải có khoảng $700 ngàn dollars, để giúp cho 50 đồng bào trong danh sách đầu tiên được đến bến bờ tự do.
Cũng chính vì thế mà Giáng Sinh năm nay dường như ít có tổ chức nào để ý đến hoàn cảnh của hàng trăm trẻ em tỵ nạn cùng những người đang sống tại các trại giam di trú. Theo danh sách mà chúng tôi nhận được thì hiện có 65 người đàn ông, 23 phụ nữ và 44 trẻ em tỵ nạn đang bị giam giữ tại IDC. Còn ở bên ngoài thì hiện có khoảng gần 500 trẻ em, gồm cả người Việt gốc H’Mong, Khmer cũng như người Việt thuần túy sống tản mác ở nhiều nơi. Cô Grace B., một thiện nguyện viên từ Mỹ đến giúp đỡ thì đang lo cho khoảng 135 em, đa số là người gốc Thượng. Còn về phía quý vị lãnh đạo tinh thần như mục sư Hòa, mục sư Pá, mục sư Thạch Sinh v..v.. thì đang giúp cho gần 300 em. Riêng phía cựu thuyền nhân tỵ nạn còn xót lại thì đa số tập trung về khu vực giáo phận do linh mục Peter Namwong cai quản và được cha tiếp tục giúp đỡ dù ngài rất thiếu thốn nhiều phương tiện.
 Inline image
Các trẻ em được cô Grace B. săn sóc.
Thôi thì của ít lòng nhiều, tôi đã cố gắng quyên góp trong phạm vi gia đình, anh chị em và một vài thân hữu để gởi chút quà cho những người thiếu may mắn hơn mình. Đặc biệt là hai cháu vừa ra trường và bắt đầu có việc làm. Tôi cũng muốn nhân dịp này để các cháu được chia sẻ những đồng tiền đầu tiên kiếm được trong đời cho các trẻ em bất hạnh hơn mình.
 
 Các trẻ em tỵ nạn và những món quà Giáng Sinh khiêm nhượng.
Đêm Giáng Sinh, trong không khí đoàn tụ gia đình, tôi bất ngờ nhận được hai cú điện thoại từ trong trại giam di trú ở Bangkok, Thái Lan. Một của các tù nhân tỵ nạn trong khu phụ nữ, và một từ những người đàn ông, gọi để cám ơn vài món quà khiêm nhượng mà gia đình và bạn hữu chúng tôi gởi đến cho họ hầu tìm một chút ấm áp trong ngày Chúa ra đời. Tôi cũng buồn theo họ vì sự mất mát, chia lìa cùng nỗi lo lắng vì phải xa cách nhau trong một đêm mà cả thế gian đang quây quần, hạnh phúc bên gia đình. Lại càng buồn hơn khi qua video phone, tôi phải chứng kiến những giọt lệ tràn lên đôi mắt của những bà mẹ phải sống xa các con! Và có lẽ buồn nhất khi được biết tin anh Ngô Văn Bé, người Thương Phế Binh xấu số, bị giam lâu năm đã vừa qua đời trong trại tù di trú, không kịp nhận món quà nhỏ bé của những người tri ân gởi đến!

 Inline image
Di ảnh TPB Ngô Văn Bé!
Tưởng cũng nên nhắc lại, trước đây cũng bị giam tại IDC còn có một TPB khác là anh Bùi Văn Quý, nhưng anh đã bị chính quyền Thái trả về VN vào tháng Bẩy năm 2018, riêng chị Quý thì vẫn trốn ở lại Thái Lan.

 Inline image
Hàng chục ngàn đồng hương ở Houston tham dự đêm gây quỹ định cư đồng bào tỵ nạn VN đang sống tại Thái Lan.
 
Tôi không biết mình sẽ phải làm gì để an ủi được họ trong lúc này? Có lẽ điều thực tế nhất là chuyển đến họ những lời thăm hỏi từ các đồng hương từ Hoa Kỳ, từ Canada, từ Úc hay các nước ở Âu Châu, chỗ nào cũng có người quan tâm đến họ và mong mỏi được hỗ trợ cũng như đón tiếp đồng bào ruột thịt của mình có cơ hội được định cư tại các đất nước tự do.  
Nam Lộc
California, ngày cuối năm 2018

Wednesday, December 26, 2018

TRÊN DÒNG QUÂN SỬ VÀ THỜI GIAN: Tôi Salvo Rockets vào hang động Non Nước

Theo những điều khoản giao ước trong Hiệp định hoà-bình (Peace Talk) tại Hội đàm Paris, sau ngày 27, tháng Giêng 1973, trong phần ranh giới được gọi là Da-Beo, nếu nơi nào có lá cờ MTGPMN, có nghĩa là nơi đó thuộc phần đất của họ. Là người được Tư lệnh Sư Đoàn 1 Không Quân ủy nhiệm chống pháo kích vào phi trường (từ 1970 lúc nầy Phi đoàn 213 có thành lập Phi đội trực thăng vỏ trang Song Chùy) trách vụ “Chống Pháo Kích, Phòng Thủ Phi Trường”. Nếu ban ngày thì phối hợp cùng Biệt Khu Quảng Ðà đổ quân tóm gọn, còn ban đêm, tôi được lệnh tiềm kích vùng tự do oanh kích (free-zone) như dưới chân núi Sơn Gà và đường di chuyển Hoả tiễn 122 và 107ly Katyusha từ thung lũng phía Tây Happy-Valley (TQLC Mỹ đặt tên) mà không cần có lệnh của Biệt Khue Quảng-Ðà.
Theo như tin tình báo nhận được thì pháo thủ VC nằm dưới hầm đâu đó và chỉ nhận được chục trái rockets 122 ly bắn vào phi trường do toán khuân vác đem vào chiều tối hôm đó thì mới khai hoả. Đây là hình thức KGB và CIA phối hợp số lượng bao nhiêu vì cần phải kéo dài nuôi dưởng chiến tranh đến hết năm 1972, phi cơ cũng phải còn cho cuộc chiến đến 1975. Đặc biệt cái phi trường Đà Nẳng nhầm trục Đông Tây 12/30 nên pháo thủ BV dù có học ở LX nhưng bắn ra ngoài báo hại người dân bị chết và bị thương quá nhiều, nên đôi khi CIA nói KGB hạn chế xuống hơn 1 chục trái thôi. Như theo sách lược Hà Nội phải trả đủa về QLVNCH tấn công sang Tchepone, Hạ Lào 1971 thì CIA cũng cho dùng hơn chục trái nhưng vô cùng hiệu quả số thiệt hại quá cao như C-123, C-130 Mỷ, UH1-H … trúng đạn cháy nổ kinh hoàng nhưng thật CIA cho nổ để thiêu hủy xuống thang mà người dân Đà Nẳng bớt bị thảm hại.
Có một lần trực thăng Huey của Liên Đoàn 51 Tác Chiến bị trúng hoả tiển 122 ly đang cháy nổ từng loạt toan lây sang qua các trực thăng vỏ trang sợ bị nổ, tôi cùng anh em cố gắn nổ máy di chuyển phi cơ lánh đến nơi an toàn. Nhưng xuất hiện Thiếu tá cố vấn trưởng James R. Wait khuyên tôi cứ để cho nó phát hoả vì vài tháng sau quân Mỹ sẽ rút về thì còn chổ để phi cơ mới có chỗ đậu.
Tôi không làm sao quên được vào trưa ngày hôm ấy (27/1/73) nơi nào có cờ MTGPMN là phần đất của Việt Cộng: Đúng 8 giờ sáng, một đoàn trực thăng CH-53 Jolly-Green của TQLC Mỹ, đồn trú tại sân bay Non Nước, bay hợp đoàn rất đẹp ngang Sông Hàn thả khói màu như từ giã vĩnh-viễn chiến trường VN, đánh dấu quân tác chiến Mỹ vào và rút ra khỏi VN cũng bằng đơn-vi TQLC nầy theo đúng lộ-trình Commando Vaught của định-kiến-3 (axiom-3). Bên cạnh đó không xa, chùa Non Nước tức Ngũ Hành Sơn, cờ MTGPMN treo chung quanh hang động. Thiết vận xa V-100 của Tiểu khu Quảng Đà đến nơi nhưng không thể nào vào được để gỡ cờ xuống vì bị B-40 và 41 dàn chào xối xả, buộc phía VNCH phải dừng lại xa tằm đạn để chờ lệnh.
Trong hang động rất kiên cố, vững chắc, không có bom đạn nào mà tiêu diệt chúng được kể cả B-52. Tôi được lệnh vì cũng là người chịu trách nhiệm an ninh vòng đai phi trường, hướng dẫn hai chiếc trực thăng võ trang trực chỉ về phía Non Nước với hai sĩ-quan Bộ binh ngồi cạnh 2 ghế sau, Đại tá Chi huy trưởng Đặc khu Quảng-Ðà và Thiếu-tá Quận trưởng Quận Hòa Vang.
Một đoàn xe phóng viên báo chí ngoại quốc đang qua cầu Delattre, trong đó có tam trùng Phạm Xuân Ẩn làm việc mật thiết với các phóng viên CIA đội lốt, nổi tiếng như Walter Cronkite, Robert Shaplen, Kenneth E Sharpe, Neil Sheehan… toàn những phóng viên hùng hồn bênh vực cho phong trào phản chiến theo xu hướng thời sự. Nếu họ đến kịp chụp hình và quay phim ở đây thì coi như Saigon mất phần đất nầy trong mô hình tình trạng Da-Beo, đúng theo mưu đồ của các phóng viên CIA nuôi dưởng nầy, nhưng …?
Hai chiếc trực thăng võ trang đang làm vòng tròn trên bầu trời phía nam Non Nước chờ nhận chỉ thị của vị có thẩm quyền; Vị Ðại-tá rống cổ gọi vị Tư lệnh Vùng-1 Chiến thuật, Tướng Ngô Quang Trưởng, nhưng chẳng thấy ông chịu trả lời (kể từ giờ phút nầy khó mà hiểu được lập trường của Tướng Trưởng, Mỹ có thể giữ vợ con ông để làm con tin?) Ðây là một sư kiện rất quan trọng, táo bạo, nên nói thật ra chưa chắc ai tin, nhưng không thể che mắt thế gian trong thanh thiên bạch nhựt như thế nầy, kể cả địch và bạn, dân và quân đều thấy, cả ngàn người đều biết, và dĩ nhiên những hình ảnh sự kiện nầy sẽ được lưu giữ trong National Archives and Records Administration (NARA) của Mỹ và điều đương nhiên các phóng viên nầy phải nói lên trong báo chí dù rằng họ quá thất vọng khi không chụp được những bức hình có giá trị và sống động theo đơn đặt hàng!
Nhiều câu hỏi trong đầu tôi: “Tướng Trưởng là một vị Tướng tài, làm nhiều nhưng nói ít, vị Tư-lệnh duy nhứt mà tôi rất kính trọng, ông luôn đi sát với lính trong bất cứ tình huống nào; không đồn bót nào mà ông không ghé thăm để động viên binh lính nhưng có một điều chắc chắn là Tướng Trưởng rất nghe lời Mỹ? Sự nhậm chức Tư Lệnh Vùng-1 nầy là không do TT Thiệu mà do sự đặt để cũa Mỹ để tái chiếm Cổ-Thành Quảng Trị vì còn quá sớm, chưa đúng thời điểm (Decent Interval) hoàn thành mục-tiêu “định-kiến-1” (axiom-1) vì quân Mỹ chưa rút về Mỹ. Nếu Võ Nguyên Giáp làm ẩu thì 3 pháo hạm và B-52 sẽ tiêu diệt ngay.
Tôi hối thúc: “Đại tá quyết định lẹ đi tôi e không kịp!”
Đoàn xe chở báo chí bắt đầu quẹo phải 90 độ xuống phía Nam Non Nước, có nghĩa là còn 12 phút nữa sẽ đến đây.
Tôi thét to lên: “Đại tá quyết định nhanh lên… nhanh lên!”
Chờ thêm vài phút nữa mà vị Ðại tá không có ý kiến gì chỉ có rống cổ kêu gào vị Tư lệnh cố-tình lánh mặt (chiến tranh VN có ẩn nhiều bí mật bên trong khó mà hiểu nổi) Tuổi trẻ dễ điên tiết; Tôi nổi điên, liều mạng, không sợ sệt hay do dự; tức khí chửi thề loạn xạ lẫn-lộn với tiếng phẫn nộ chát-chúa a-tòng của động cơ, rồi đơn phương ra lệnh cho chiếc võ trang số hai chuẩn bị vào trục tác xạ
– “Hai… Chuẩn bị vào đội hình tác xạ”
Tôi bật nút an-toàn lên vị trí tác xạ từng hai trái hỏa tiễn một lần.
– “Một… vào trục”
Để cho đoàn xe không trông thấy, tôi chúi mũi lấy trục từ Nam lên Bắc, song song với bờ biển. Bấm nút tác xạ, hai trái hoả tiển hai bên phụt ra bay chệch bên trái của hang động.
– “Hai…vào trục”
Hai hoả tiễn phụt ra xuống thấp hơn, trúng vào chiếc nhà lá trước hang động bốc cháy. Nhà nầy thường trưng bày bán những mặt hàng như: còng đeo tay, tượng Phật, sư tử, con cá ... bằng loại đá thạch điêu khắc. “Không sao … chiến tranh phải chịu chấp nhận sự rủi ro tàn phá, nhưng cũng may không có một ai nơi đó!”
Tôi bắt đầu vào trục lần thứ hai, không thể chậm trễ được vì đoàn xe gần tới nơi, cũng không thể chúi mũi tác xạ như phi cơ khu trục chiến thuật hay bay cao như B-52 vì như thế tạc đạn cũng như bom không thể lọt vào hang động. Như thế thì không cách nào tiêu diệt để hạ cờ chúng xuống, mà phải vào trục nằm sát song song với mặt đất để cho cái cửa hang động được phô diễn tối đa trước tầm mắt của phi công lúc nầy mới bóp cò hỏa lực.
Tôi ra lệnh chiếc thứ Hai cùng “Salvo”có nghĩa là chơi hết hoả tiễn cùng một lúc vì không còn kịp nữa rồi – Tôi bật nút salvo
– “Một… vào trục”.
Tôi nheo mắt nhìn vào máy nhắm gun-sight, bấm nút, phi cơ như muốn khựng lại trong tích-tắc, các hoả tiễn bay vèo ra để lại làn khói trắng mông lung với mùi vị khó ngửi. Tiếng nổ ầm ầm vang dội trở ngược, những cột khói toả ra dựng đứng xung quanh hang động.
“Ah … Có được hai trái chui vào hang động”, tôi định ra lệnh cho chiếc Hai ngưng tác xạ vì hai trái chui vào được là đủ sức tiêu diệt những ai dẫu nằm sâu trong đó. Nhưng đã trễ, chiếc Hai đã vào trục.
Chiếc Một của tôi đang quẹo gắt qua phải tách rời trục tác xạ, lượn cánh nhìn những cuộn khói trắng đục đang luồn lách trong hang-hóc bốc lên từ từ chậm chạp phủ kín những kẽ đá chung quanh.
Tôi lẩm bẩm “Nam mô A Di đà Phật, mong rằng các Thầy không còn ở trong Chùa” thì cũng vào lúc nhiều tiếng nổ ở dưới bụng phi cơ của tôi khiến Trực thăng của tôi phải chao đảo trong chốc lát vì sự nhiễu loạn không khí theo sau một loạt nổ liên hồi của salvo chiếc wing.
– “Hai… báo cáo hết hỏa lực”
Chỉ mới bay vòng lại, thì thấy binh sĩ tiểu khu Quảng Đà và thiết vận xa V-100 tiến vào, trong nháy mắt cờ VNCH mọc lên thay thế cờ MTGPMN. Một lát sau, đoàn xe phóng viên, ký giả báo chí ngoại-quốc đến thì mọi việc đã xong xuôi. Tôi không cần quan tâm gì đến hai vị ngồi phía sau phi cơ, rồi ra lệnh cho chiếc thứ hai về phi trường Đà Nẳng đổ xăng.
Như vậy, tôi phải bị ra toà án quân sự hay ít nhứt cũng phải chịu phạt 60 ngày trọng cấm đề nghị gia tăng vì bất tuân thượng lệnh, thi hành oanh kích không có lệnh nơi thượng cấp. Trung tướng Trưởng đã có chỉ thị rõ ràng: “Các anh em phi công khi thấy xe tăng, Molotova, bộ đội BV di chuyển trên đường Hồ Chí Minh, dù trong tầm oanh kích của ta thì cũng đừng hành động gì; cứ để cho chúng tiếp tục vào Nam!” Có nguồn tin cho rằng Tướng Trưởng muốn cho họ đi qua để nhẹ áp lực Vùng-1, nhưng có người cho rằng vì áp lực của Mỹ có dính dấp đến các điều khoản cấm đã ký trong bản hiệp định Paris.
Có một lần phi tuần viên A.37 đã không tuân theo phi tuần trưởng oanh kích theo dấu đánh trái khói hướng dẫn của L-19 quan sát mà lại oanh kích vào đoàn xe nhỏ nên làm cho phái đoàn CS đàn anh bị tử thương. Viên phi công nầy bị tù khinh cấm vì không thả đúng mục tiêu như phi tuần trưởng dẫn đạo cho cuộc oanh kích; Anh giảng-giải nguyên nhân thả khơi khơi trong núi phí bom đạn, khi có mục tiêu rõ ràng sao không thả. Hậu quả anh bị tù khinh cấm nhưng không nặng lắm. Còn lần nầy tôi oanh kích vào Ngũ Hành Sơn, trước mắt các báo chí quốc tế thì chắc chắn đi đoong cuộc đời binh nghiệp rồi còn gì!
Cùng với Vùng-2, ở phía Bắc Kontum, phi công Phạm Gia Đôn oanh kích tiêu diệt đoàn xe molotova mà Tướng Trưởng vừa tha. May thay cho tới ngày mất nước, hai phi công vô kỷ luật nầy được các đại quan tha mà Ma cũng không thèm bắt…
-Tự nhận định hành động vô kỷ luật của mình, đứng trên vị trí là một chiến sĩ yêu nước của QLVNCH, vì Tổ-quốc, Danh-dự, và Trách-nhiệm tôi hoàn toàn đúng, nhưng về quân kỷ thì tôi hoàn toàn sai, “oanh kích không có lệnh của thượng cấp”
-Ðứng trên lập trường Dân Tộc, tôi sai… tôi chỉ đúng 33%+ vì dân tộc Việt Nam hiện tại có ba màu cờ, ba xu hướng chính trị!
-Ðối với quốc tế và tinh thần Hiệp định hoà bình Paris 27/1/1973 tôi hoàn toàn sai
Phải thành thật phản-tĩnh, tự kiểm trả lại tính trung thực cho lịch sử để các sử gia hậu cận đại dễ bề đúc kết, nghiên cứu, góp nhặt những dữ-kiện với các liên hệ thực tế về cuộc chiến Việt Nam mà thế giới cũng như ông Tổng Thư Ký LHQ, U-Thant cho rằng “Một cuộc chiến bẩn-thỉu, cuộc chiến không có kẻ thắng người bại, mà chĩ có duy nhứt một sự tàn phá khủng khiếp về người và vật”
                            QUEENBEE-1

Bỏ bằng bác sĩ để theo đuổi đam mê, họa sĩ gốc Việt được phong Hiệp Sĩ

 Diễn viên kỳ cựu Hollywood Hank Garrett đến chia vui với hoạ sĩ Daniel Winn. (Hình: Công Thành/Người Việt)
Họa sĩ Daniel Winn (trái) phát biểu tại buổi lễ trước khi ông được phong Hiệp sĩ. Phía sau là tác phẩm nghệ thuật vẽ gia đình Hoàng Gia Đức Waldemar Schaumburg-Lippe mà ông mất hơn 3 tháng để tạo nên. (Hình: Công Thành/Người Việt)
Công Thành/Người Việt
BEVERLY HILLS, California (NV) – Có những người học và theo đuổi các ngành kĩ sư, bác sĩ vì đó là niềm đam mê của họ. Nhưng cũng có những người chọn ngành học vì muốn làm vui lòng ba mẹ, gia đình hoặc vì muốn có được thu nhập cao, ổn định. Daniel Winn là người nằm trong số này, cho đến khi ông đưa ra một quyết định mang tính bước ngoặt cho đời mình, thay đổi hoàn toàn hướng đi mà ba mẹ, gia đình đã dự định từ trước cho ông. Đó là quyết định bỏ bằng bác sĩ để theo đuổi đam mê trở thành một họa sĩ.
Tối Thứ Bảy, 22 Tháng Mười Hai, 2018 là một buổi tối đặc biệt đối với người hoạ sĩ gốc Việt Daniel Winn: Ông được gia đình Hoàng Gia của Hoàng Tử Đức Waldemar Schaumburg-Lippe phong Hiệp Sĩ trong một buổi lễ tổ chức tại Winn Slavin Fine Art, Beverly Hills, California.
Đây là lần tiên một họa sĩ gốc Việt có vinh dự này. Ông Daniel được gia đình Hoàng Gia Đức Waldemar Schaumburg-Lippe phong Hiệp Sĩ vì những đóng góp cho nghệ thuật và những nỗ lực trong lĩnh vực y tế và từ thiện.
Tại buổi lễ, ông Daniel Winn nói với phóng viên Người Việt: “Tôi cảm thấy rất may mắn và hạnh phúc khi được gia đình Hoàng Gia Đức phong Hiệp Sĩ vì điều này rất hiếm khi xảy ra.”
Hoàng tử Waldemar Schaumburg-Lippe là một trong những hoàng tử có dòng máu hoàng tộc được xếp hạng cao ở châu Âu. Thống kê vào năm 2015, họ hàng thân thích của gia đình hoàng gia này trị vì tại 25 quốc gia và 14 lãnh thổ hải ngoại trên toàn thế giới. Hoàng gia Schaumburg-Lippe chủ yếu sống ở Đức hoặc Monte Carlo, Monaco và được biết đến là ân nhân, nhà từ thiện cho nhiều tổ chức từ thiện qua nhiều thế hệ, theo thông tin từ trang mạng Wikipedia.
Từ phải qua trái: Hoạ sĩ Daniel Winn, Công chúa Antonia
Schaumburg-Lippe,
Hoàng tử Waldemar Schaumburg-Lippe, Hoàng tử Mario-Max 
Schaumburg-Lippe, 
Dược sĩ Linh Bùi và Bác sĩ Michael Đào. (Hình: Công Thành/Người Việt)
Họa sĩ Daniel Winn đến Mỹ năm 9 tuổi. Vì niềm đam mê hội họa và điêu khắc nên từ lúc còn là sinh viên ông đã nhận làm các công việc bán thời gian tại các cửa hàng bán đồ hội họa, đóng khung tranh ảnh để kiếm tiền mua bút vẽ, màu và các đồ dùng để vẽ khác.
Sau khi tốt nghiệp trường Đại Học University of California, Irvine’s School of Medicine vào năm 1992, Daniel đã có một quyết định mang tính bước ngoặt của đời mình, đó là thay vì đi làm công việc phù hợp với tấm bằng bác sĩ, ông lại quyết định đi ngược với mong muốn của gia đình để mở một cửa hàng đóng khung tranh ảnh nhỏ vào năm 1993. Ông Daniel làm việc ở đó nhiều giờ mỗi ngày và bảy ngày một tuần. May mắn, chỉ trong vòng vài năm nhiều hợp đồng sinh lợi đã đến với ông.
Hoạ sĩ Daniel Winn được gia đình Hoàng Gia Đức phong Hiệp Sĩ. 
(Hình: Công Thành/Người Việt)
Nhờ bước chạy đà thuận lợi đó, ông Daniel tiếp tục mở thêm các phòng tranh cao cấp ở Newport Beach và Laguna Beach. Sau đó, ông sáng lập Masterpiece Publishing, Inc vào năm 1997 để giúp các họa sĩ, nhà điêu khắc khác bán các tác phẩm nghệ thuật của họ.
Công ty ông đã đưa các tác phẩm đi triển lãm và bán tại nhiều nơi như New York, Los Angeles, Toronto, Montreal, Hong Kong…
Năm 2014, ông Daniel được nhận giải California Senate Resolution từ Dân Biểu Liên Bang Lou Correa.
Năm 2017, ông sáng lập Winn Slavin Fine Art ở Beverly Hills, California.
Có mặt tại Winn Slavin Fine Art cùng với ba mẹ của mình để chứng kiến ông Daniel Winn được phong Hiệp Sĩ, anh Kirk Sorensen, một khách hàng mua tranh, cho biết những bức tranh do ông Daniel Winn sáng tạo có giá từ $15,000 đến vài trăm ngàn. Gia đình anh có mua một bức có tên gọi là “Clarity” với giá $25,000.
Vợ chồng nữ diễn viên Loni Anderson và Bob Flick đến chung vui 
với hoạ sĩ Daniel Winn. 
(Hình: Công Thành/Người Việt)
Tại buổi lễ, ông Daniel cũng công bố tác phẩm nghệ thuật vẽ gia đình Hoàng Tử Đức bao gồm Hoàng Tử Waldemar Schaumburg-Lippe, phu nhân Antonia Schaumburg-Lippe và con trai ông, Hoàng Tử Mario-Max Schaumburg-Lippe.
Hoàng Tử Mario-Max Schaumburg-Lippe nói với phóng viên Người Việt: “Daniel Winn là một người bạn tuyệt vời và cũng là một họa sĩ yêu thích của gia đình tôi. Tôi yêu gia đình mình và luôn muốn có một bức tranh gia đình thật đẹp. Bức tranh đặc biệt này được vẽ bởi một họa sĩ cũng rất đặt biệt. Tôi yêu bức tranh này.”
Một số diễn viên kỳ cựu của Hollywood cũng có mặt để chia vui với ông Daniel Winn như vợ chồng nữ diễn viên Loni Anderson và Bob Flick, hay diễn viên Hank Garrett.
Ông Hank Garrett, người nổi tiếng với vai diễn hitman trong bộ phim ‘Three Days of the Condor’, đem về cho ông giải thưởng New York Film Critics’ Award, cười nói: “Nhìn những bức vẽ tuyệt đẹp đang được triển lãm ở đây, tôi muốn Daniel Winn sẽ vẽ một bức tranh chân dung cho vợ tôi.”
Các tác phẩm của hoạ sĩ Daniel Winn được giới yêu thích hội hoạ ưa chuộng có lẽ vì chúng có thể chạm đến tận đáy tâm hồn và cảm xúc của họ.
Ông Daniel chia sẻ, một lần phó giám đốc của Wells Fargo Bank mua một bức vẽ có tên là “Knowledge Creation” của ông. Bà đã khóc khi nhìn thấy bức vẽ và nói với ông Daniel là tác phẩm đó khiến bà xúc động mạnh. Bà cảm nhận được năng lượng, tinh thần và ý nghĩa toát ra từ bức tranh.
Tác phẩm “Knowledge Creation” của hoạ sĩ Daniel Winn. 
(Hình: ông Daniel Winn cung cấp)
Ông Han, cư dân Cupertino, cựu sinh viên trường Stanford University, hiện đang làm việc ở Silicon Valley, từ Bắc California xuống để chúc mừng người bạn Daniel Winn, nói: “Điều tôi thích nhất là các tác phẩm nghệ thuật do Daniel sáng tạo thể hiện con người thật của chúng ta. Daniel là một hoạ sĩ có sức sáng tạo dường như không giới hạn và một trái tim từ thiện lớn. Bạn sẽ rất ngạc nhiên nếu biết được những việc làm giúp đỡ người khác của Daniel. Ông ấy sẵn sàng cho đi nhiều hơn là nhận lại. Đó là lý do vì sao tôi luôn ủng hộ ông ấy.”
Với những gì đã đạt được sau hơn 25 năm theo đuổi đam mê hội hoạ, có lẽ ông Daniel cũng làm cho song thân của mình rất tự hào dù rằng họ đã không còn trên thế gian để chứng kiến những thành công của ông. Theo lời ông Daniel, chính ba mẹ là những người đã hiểu, yêu thương và ủng hộ cho ông rất nhiều ngay cả khi ông quyết định làm trái ý họ để theo đuổi niềm đam mê thật sự của đời mình. 
(Công Thành)

Saturday, December 22, 2018

Bài của Đại Sứ Pháp ở Việt Nam Jean-Marie Mérillon: NGƯỜI ĐI KHÔNG MUỐN LƯU LẠI BẰNG CHỨNG

Từ trái: ĐT Dương Văn Minh, Đs Pháp Jean-Marie Mérillon và 
Tr.T. Trần Văn Đôn. Nguồn: DCVOnline
Đã đến lúc Đại Sứ Martin phải nói thật với tôi: Nước Mỹ cần phải làm gì vào những ngày sắp tới khi Phan Rang thất thủ? Và Mỹ cần xác minh thái độ đối với Dương văn Minh mới hôm qua vừa đòi Nguyễn văn Thiệu từ chức.
Ông Martin đã lưỡng lự rất nhiều rồi mới nói cho nước Pháp hay rằng Hoa Kỳ sẽ bỏ rơi Miền Nam. Còn nước Pháp thì muốn cố giữ Miền Nam bằng một chánh phủ trung lập giả định, biết rằng đó chưa hẳn là một liều thuốc hồi sinh cho toàn thể chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa một cách công hiệu, nhưng chẳng còn phương thức cấp cứu nào phù hợp với tình thế lúc đó.
TỐI 18/4/75:
Qua điện thoại, lần thứ nhất Ông Martin mới nói ra ý định của Hoa Kỳ. Đối với chính trường nước Mỹ thì chiến tranh Việt Nam đã chấm dứt sau Hiệp Định Paris năm 1973. Vấn đề còn lại là giải thể Hoa Kỳ tại Đông Dương.
Ông Martin muốn nhờ tôi làm trung gian chuyển đạt ý muốn của Mỹ cho phía Việt Cộng. Tôi bèn trả lời:
- "Điều mà ông yêu cầu, tôi sẽ thõa mãn cho ông 5 tiếng nữa nếu không có gì trở ngại trong việc liên lạc. Tuy nhiên tôi phải phúc trình lên chánh phủ của tôi, vậy ông Đại Sứ gởi cho tôi một công hàm ủy thác làm việc này."
- "Không thể được" người ta không muốn lưu lại bằng chứng.
- "Như thế từ giờ phút này nước Pháp sẽ đãm nhận vai trò hòa bình cho Việt Nam theo chủ thuyết của Pháp."
- "Chúng tôi cám ơn nước Pháp. Với tư cách cá nhơn tôi hoàn toàn chống lại chủ trương của Hoa Kỳ dành trọn quyền thắng trận cho Việt Cộng."
Sau đó chúng tôi chuyển sang phần tâm sự gia đình, hỏi thăm sức khỏe bà Đại Sứ v.v... Đại Sứ Martin cho biết nước Mỹ quá chán ngấy những vụ đão chánh trước kia nên để cho ông Thiệu từ chức rồi ra đi hơn là đão chánh. Vai trò của Nguyễn cao Kỳ không còn cần thiết sau khi Hoa Kỳ đã tặng phần thắng cho Việt Cộng.
Ngày 30/4, trước 3 tiếng đồng hồ hạ cờ Hoa Kỳ sau 20 năm bay trên vòm trời Việt Nam, Đại Sứ Martin gọi điện thoại vấn an, chúc tôi ở lại xứ sở này tiếp tục sứ mạng hòa bình, đồng thời khuyến khích tôi "còn nước còn tát."
Công việc đầu tiên của tôi là liên lạc với Phan Hiền trong trại Davis (Tân sơn Nhất) cho biết chánh phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam của Huỳnh tấn Phát muốn ấn định rõ thời hạn Mỹ rút quân khỏi Việt Nam. Phan Hiền bèn hỏi lại tôi là nên ấn định vào ngày nào? Sự giàn xếp người Mỹ ra đi cũng làm phiền phức tôi không ít. Ông trưởng phòng CIA xúi ông Tổng Giám Đốc Liên Đoàn Lao Công Việt Nam kiếm khoảng 20.000 người mặc quần áo nông dân biểu tình trước Tòa Đại Sứ Mỹ đòi Mỹ phải ở lại giúp Việt Nam. Ông Trần quốc Bửu hứa sẽ làm được, nhưng rồi chẳng thấy biểu tình chi cả. CIA chưa muốn đi vội, có vẻ muốn ở lại để tổ chức phá rối cộng sản như họ đã từng làm ở ngoài Bắc sau Hiệp định Genève 1954. Trưởng phòng thương mại Mỹ xin gia hạn đến tháng 6 để giúp các hảng thầu,ngân hàng, các nhà kinh doanh di tản các dụng cụ xí nghiệp, cơ xưởng máy móc về Mỹ. Nhưng rồi Đại Sứ Martin nhận được lệnh của Tòa Bạch Ốc là người Mỹ và tất cả những gì liên hệ đến Mỹ phải rời khỏi Việt Nam chậm lắm là cuối tháng 4/75.
Đại tướng Pháp Vanuxem chạy chỗ này chỗ kia với thiện chí cố vấn cho ông Thiệu phản công, nhưng vô ích. Tôi được thông báo Mỹ đã sắp xếp ngày đi cho ông Thiệu đâu vào đó cả rồi. Tướng Vanuxem, người từng chỉ huy ông Thiệu, than thở với tôi: "Thiệu "lủy" không nghe "moa", đánh giặc theo kiểu Mỹ sẽ thua không còn một mảnh đất để thương thuyết với Việt Cộng."
Ngày 18 tháng 4 chúng tôi xác nhận ngày di tản của Hoa Kỳ với Phan Hiền.
Trước khi lập chánh phủ giả định, tôi xét phản ứng của Nga Sô và Trung Cộng. Nước nhiệt thành đầu tiên là Trung Cộng. Thủ Tướng Chu ân Lai điện cho Bộ Ngoại Giao Pháp là sẵn sàng hợp tác với Pháp để xây dựng một chánh thể trung lập tại Miền Nam nếu có thành phần MTGPMNVN tham dự.
Tại Hànội, cuộc vận động với Đại Sứ Nga được xem là mấu chốt của vấn đề. Nhưng Đại Sứ Nga, ông Malichev từ chối, nói rằng: "Chủ quyền xây dựng chính thể Việt Nam do đảng cộng sản Bắc Việt quyết định. Ngoài tình hữu nghị cũng như các sự giúp đở Việt Nam, Nga chẳng có quyền hạn gì cả." Lời tuyên bố đó giống như một kẻ ăn trộm nho bị bắt quả tang rành rành mà vẫn cứ chối bai bãi là mình chỉ đi dạo mát trong vườn nho mà thôi. Chẳng là vì chúng tôi có đủ tin tức tình báo nói rõ có 5 vị tướng lãnh Nga có mặt trong Bộ Chỉ Huy chiến dịch Hồ chí Minh tại chiến trường Long Khánh. Không lẽ các vị ấy chỉ ngồi uống trà nói chuyện chơi với Văn tiến Dũng hay sao?
Toàn thể các nước Đông Nam Á lo ngại một nước Việt Nam độc lập dù dưới một chánh thể nào trong tương lai. Đối với họ, Việt Nam mãi mãi có chiến tranh bao giờ cũng có lợi hơn một Việt Nam hòa bình thống nhất. Theo quan điểm đó, khối Đông Nam Á tán thành Việt Nam được đình chiến trong trung lập hơn là thống nhất trong độc lập. Quan niệm này lan rộng cả Á Châu, đặc biệt là Nhật Bản, nước Nhật sẽ hết mình đóng góp cho Đông Dương trung lập. Duy có Nam Dương cực lực phản đối. Nam Dương chưa nguôi mối thù Trung Cộng đạo diễn cuộc đảo chánh hụt năm 1965, nên bác bỏ giải pháp đình chiến tại Việt Nam có Trung Cộng tham dự.
(Mãi đến năm 1978, tướng Suharto có gởi cho tôi một bức thơ tỏ ý hối tiếc là lúc đó chánh phủ ông đã có nhận xét sai lầm về những ý kiến của chúng tôi).
Mao thì ghét cay ghét đắng Lê Duẫn thân Nga, thành thử những điều kiện Bắc Kinh đặt ra là phải hạ bệ đảng viên thân Nga, cầm chân quân Bắc Việt để dành cho MTGPMN tiến vô Sài Gòn.
Thực ra nền trung lập đối với chúng tôi chỉ coi như tạm thời ngăn cản dòng nước lũ, cho Việt Nam Cộng Hòa tạm dung thân.
Lời giao ước chánh trị khác hẳn với lời giao ước ngoại giao. Bắc Kinh chỉ giao ước bằng miệng là sẽ tìm cách cản trở Bắc Việt chậm nuốt Miền Nam, biện pháp quân sự coi như yếu tố cần phải có. (Rất tiếc chờ mãi đến năm 1978 Trung Cộng mới dùng biện pháp này để dằn mặt Việt Nam).
Phần chúng tôi là phải đáp lời hứa là thành lập chánh phủ liên hiệp gồm 3 thành phần: Quốc gia, Đối lập, và MTGPMN. Chu Ân Lai đưa ra một danh sách: Trương như Tảng, Nguyễn thị Bình, Đinh bá Thi, thiếu tướng Lê quang Ba, trung tướng Trần văn Trà, ngỏ hầu làm lực lượng nồng cốt thân Tàu trong chánh phủ hòa hợp hòa giải dân tộc Việt Nam. Điều kiện họ đưa ra thoạt nhìn thì không thấy có gì trở ngại, nhưng thực hiện lại vô cùng khó khăn. Vì những người này không có thực lực hay quyền hành gì cả. Toàn thể quyền hòa hay chiến đều do Lê Duẫn nắm cả. Trên Lê Duẫn một bực là Mạc tư Khoa. "Dường như đã từ lâu phe quốc gia lẫn phe cộng sản Việt Nam đều đã không có quyết định gì về số phận đất nước của họ".
Móc nối với Trung Cộng thỏa thuận đâu vào đó cả rồi, sáng ngày 22/4 tôi mời phái đoàn Dương văn Minh vào tòa Đại Sứ tiếp xúc với chúng tôi. Phái đoàn này có nhiều nhân vật đang tập sự làm chánh trị, những kẻ chuyên sống nhờ xác chết của đồng bào họ: Huỳnh tấn Mẫm, Hoàng phủ Ngọc Tường, Ngô bá Thành, Ni sư Huỳnh Liên, Lý quý Chung, Vũ văn Mẫu, Hồ ngọc Cứ v.v... Tôi thấy ông Dương văn Minh đã liên lạc quá vội với một thành phần vô ích. Những khuôn mặt này Bắc Việt chưa biết họ, còn hao công giúp Bắc Việt thì chỉ có việc chưởi tầm bậy chế độ Việt Nam Cộng Hòa.
Tôi đi ngay vào vấn đề hỏi chung trước mặt mọi người là: "Chúng tôi hết sức ủng hộ người Việt Nam thành lập một chánh phủ hòa hợp hòa giải dân tộc. Vậy trong những ngày sắp tới có những cuộc thương thuyết xảy ra, quí vị có đồng ý nhận quí vị là đại biểu các khuynh hướng chánh trị ở Miền Nam không? Chiến tranh đang đến hồi dứt khoát phải có kẻ thua người thắng. Hãy cho chúng tôi biết, chánh phủ quí vị tới đây sẽ thua hay Việt Nam Cộng Hòa thua, hoặc MTGPMN thua? "
Huỳng tấn Mẫm cướp lời Dương văn Minh nói trước:
- "Thưa ông Đại Sứ Pháp, cuộc chiến này Mỹ đã thua, tất cả người Việt Nam chúng tôi thắng trận."
Căn cứ theo lời của Huỳnh tấn Mẫm, tôi đoán ngay hắn là một thứ bung xung trước thời cuộc, háo danh, sẵn sàng làm tôi mọi cho bất cứ chế độ nào chịu cấp phát tước quyền cho hắn. Nếu biết khôn và khách quan nhận định thì hắn phải nói như vầy: "Bọn phản chiến Mỹ thua trận, và tất cả người Việt Nam thắng trận trong một nền hòa bình rơi nước mắt."
Bà ni sư Huỳnh Liên nói nhiều lắm. Bà kể lể "tín đồ Phật Giáo bị kềm kẹp từ 20 năm qua, nếu cộng sản thắng thì đó là lời cầu nguyện của hàng triệu phật tử Việt Nam."
Luật sư kiêm chánh trị gia Vũ văn Mẫu có vẻ già dặn hơn. Ông đặt tiếng "nếu" ở mỗi mệnh đề để thảo luận. "Nếu" chính phủ tương lai mà trong đó có ông làm thủ tướng thì viễn ảnh hòa bình sẽ nằm trong tầm tay dân tộc Việt Nam v.v.." Ông cũng ngỏ lời cám ơn tôi dàn xếp thời cuộc để lập ván bài trung lập tại Việt Nam.
Đây là buổi thăm dò quan niệm, nhưng những con cờ quốc tế đã gởi cho tôi từ trước không có Huỳnh tấn Mẫm, Ngô bá Thành, Huỳnh Liên, Vũ văn Mẫu và Lý quý Chung. Tôi lễ phép mời họ ra về, ngoại trừ đại tướng Dương văn Minh để thu xếp nhiều công việc khác.
Tiển ra tận thềm sứ quán, tôi có nói mấy lời để họ khỏi thất vọng sau này:
- "Thưa quí vị, thiện chí thành lập tân chánh phủ, điều đó không ai chối cải công lao của quí vị. Tuy nhiên thẩm quyền tối hậu giờ phút này nằm trong tay Hànội. Nước Pháp chỉ làm một việc có tính cách trung gian hơn là chủ động'.
Mọi người trợn ngược tròng mắt nhìn tôi hết sức ngạc nhiên. Ông Vũ văn Mẫu nói nhỏ với tôi một câu bằng tiếng Latinh; "Tôi muốn đi Pháp nếu tân chánh phủ không được Hànội nhìn nhận."
Khi trở vào, Đại tướng Dương văn Minh ngồi đó chờ tôi, nét mặt sung mãn, tự hào là đã nắm vững thời cuộc. Vừa nghe chuông điện thoại reo, tùy viên giao tế của chúng tôi giới thiệu người bên kia là Võ đông Giang. Đường dây điên thoại viễn liên này kêu qua tòa Đại Sứ Pháp ở Tân gia Ba rồi cũng dùng đường dây này chuyển về Bộ Ngoại Giao Hànội. Tại Hànội họ sẽ móc đường dây tiếp vận vô Nam để tiếp xúc với vị Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh, vì ông này muốn gặp tôi có chuyện gấp. Tôi đồng ý nhưng phải chờ hai tiếng đồng hồ nữa mới bắt xong đường dây như thế.
KẾ HOẠCH THỨ NHẤT:
Thành phần chánh phủ hòa hợp hòa giải dân tộc, đồng chủ tịch là hai ông Dương văn Minh và Trần văn Trà. Ba phó chủ tịch là Vũ văn Mẫu, Trịnh đình Thảo và Cao văn Bổng. Tổng trưởng quốc phòng Phạm văn Phú. Tổng trưởng ngoại giao Nguyễn thị Bình. Tổng trưởng tư pháp Trương như Tảng. Tổng trưởng nội vụ Vũ quốc Thúc. Tổng trưởng kinh tế Nguyễn văn Hảo. Tổng trưởng thương mại Lê quang Uyễn. Tổng trưởng tài chánh Trần ngọc Liễng. Xen kẻ nhau nếu tổng trưởng quốc gia thì Đổng lý văn phòng là người của MTGPMN, và ngược lại. Hội đồng cố vấn chánh phủ có: Nguyễn hữu Thọ, Huỳnh tấn Phát, Thích trí Quang, Lương trọng Tường, Hồ tấn Khoa, Linh mục Chân Tín, Cựu thủ tướng Trần văn Hữu.
Hai mươi bốn giờ sau khi công bố thành phần chánh phủ, nước Pháp sẽ vận động các nước Âu Châu, Á Châu và các nước phi liên kết công nhận tân chánh phủ hòa giải Việt Nam, làm chậm lại bước tiến xe thiết giáp Liên Xô mưu toan đè bẹp Sài Gòn.
KẾ HOẠCH THỨ HAI:
- "Thưa Đại tướng, ông Nguyễn văn Thiệu để lại quân đội này còn bao nhiêu người? Hoa Kỳ để lại vũ khí nếu dùng được ở mức độ phòng thủ thì đuợc bao lâu?
Đại tướng Dương văn Minh trả lời là ông chưa nắm vững quân số vì hơn chín năm ông không có dịp biết các bí mật quốc phòng.
- "Thưa Đại tướng, đại tá tùy viên quân sự của chúng tôi sẽ phúc trình cho đại tướng biết sau. Theo chúng tôi, quân lực Việt Nam Cộng Hòa còn đủ khả năng chiến đấu thêm 10 tháng nữa, nếu các nhà quân sự chịu thay đổi chiến thuật từ quy ước sang du kích chiến. Ngay từ bây giờ Đại tướng còn 2 Quân đoàn. Phải dùng hai Quân đoàn này mặc cả cho thế đứng của phía quốc gia. Tôi tung liền giải pháp trung lập đồng thời tạo áp lực ngoại giao ngừng bắn 7 tiếng đồng hồ. Trong khi đó Đại tướng kịp thời chỉnh đốn quân đội và chọn các tướng lãnh có khả năng trường kỳ phản công. Tôi tin tuởng Việt Nam Cộng Hòa chưa thể thua và đích thực Bắc Việt đang lúng túng chưa biết họ sẽ chiến thắng bằng cách nào đây.
KẾ HOẠCH THỨ BA:
Cùng lúc mời thành viên MTGPMN hợp tác trong chánh phủ trung lập, Đại Tướng tuyên bố sẵn sàng bang giao với Trung Quốc và các nước theo chủ nghĩa xã hội, dĩ nhiên trong đó có cả Liên Xô.
Trung Quốc sẽ chụp lấy cơ hội này để cử Đại Sứ đến Sài Gòn ngay sau 24 giờ cùng với tiền viện trợ 420 triệu Mỹ kim là tiền sẽ trao cho Hànội mà nay trao cho chánh phủ hòa hợp hòa giải dân tộc. Kế hoạch này đánh phủ đầu Hànội bằng cách đưa đứa con nuôi của họ là MTGPMN lên nắm chính quyền (một lực lượng mà từ trước đến nay Hànội vẫn ra rã trước dư luận là dân Miền Nam đứng lên chống Mỹ, chớ Hànội không có dính dáng gì hết).
Đi từng bước, lần lượt tân chánh phủ sẽ lật lại từng trang giấy ký ngưng bắn trong Hiệp Định Paris, giao cho Trung Quốc cưỡng ép Hànội vào bàn hội nghị nói chuyện ngưng bắn tức khắc.
Quả thật Trung Quốc muốn cứu sống MTGPMN để xây dựng ảnh hưởng của mình tại Đông Dương. Phe quốc gia cũng muốn cứu cấp Sài Gòn đừng lọt vào tay cộng sản. Như vậy hai quan niệm cùng có một mục đích, còn có thể dàn xếp được là tốt hơn cả, vì đừng để cho bên nào thắng.
Tôi cũng thông báo cho ông Minh hay là tôi đã liên lạc với thành viên MTGPMN. Hầu hết đều tán thành giải pháp giúp họ thoát khỏi vòng quỷ đạo của Bắc Việt. Họ chạy theo HàNội là muốn tiến thân sự nghiệp chánh trị bằng con đường hợp tác với cộng sản, nếu giúp họ nắm được chánh quyền Miền Nam thì phương tiện dùng cộng sản Bắc Việt đã quá lỗi thời.
Bà Bình từ đầu đến cuối đã hợp tác chặt chẻ với chúng tôi. Thêm một bằng chứng: 17 ngày sau khi Sài Gòn mất, bà Bình còn tuyên bố trước Liên Hiệp Quốc dụng ý tống khứ đạo quân Bắc Việt về bên kia Bến Hải: "Miền Nam Việt Nam sẽ sinh hoạt trong điều kiện trung lập 5 năm trước khi thống nhất hai miền Nam Bắc." Các nhà phân tích thời cuộc nói chỉ cần 5 tháng Miền Nam sống dưới chánh phủ trung lập thay vì có diễm phúc 5 năm, có lẽ hòa bình Việt Nam sẽ ở trong hoàn cảnh thơ mộng tươi đẹp rồi. Bà Bình bị thất sủng sau lời tuyên bố đó.
Nước Pháp sẽ trao 300 triệu quan chuyển tiếp từ chế độ Việt Nam Cộng Hòa giao cho tân chánh phủ để nuôi sống giải pháp trung lập. Chúng tôi sẽ quyên góp các nước bạn đồng minh Âu Châu một ngân khoảng độ 290 triệu mỹ kim cho các chương trình viện trợ kinh tế, văn hóa, phát triển nông nghiệp, nhân đạo v.v... tổng cộng cũng gần bằng viện trợ của Hoa Kỳ trước đây.
Bấy nhiêu đó cũng đủ nuôi dưỡng tạm thời chánh phủ Dương văn Minh Trần văn Trà, để rồi người quốc gia tranh thủ với cộng sản duy trì một Miền Nam không nhuộm đỏ màu cờ.
Đại tướng Dương văn Minh không nói chi nhiều, ông lắng nghe tôi trình bày cặn kẻ từng kế hoạch, và nói ông sẵn sàng thực hiện theo quan điểm của chúng tôi. Ông chỉ nêu một câu hỏi duy nhất:
- "Dưới hình thức nào tôi thay thế cụ Trần văn Hương để thành lập nội các để thương thuyết với phía bên kia?"
- "Thưa Đại tướng, cụ Trần văn Hương hôm qua vừa thảo luận với chúng tôi là sẽ trao quyền chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa lại cho Đại tướng, nếu Đại tướng có một kế hoạch không để mất Sài Gòn."
Sự thực từ lúc ông Thiệu tuyên bố từ chức, ông Minh đã nhiều lần thúc hối chúng tôi tiến dẫn ông nắm chánh quyền ngay lúc ấy.
Chúng tôi chưa nhận lời yêu cầu này. Chúng tôi chưa nhận lời yêu cầu đó vì chưa tiếp xúc được với thành phần MTGPMN. Hơn nữa ông Minh ra lãnh đạo guồng máy quốc gia không mang điều mà thế giới mong đợi sau khi Hoa Kỳ rút đi. Khi chúng tôi giới thiệu tướng Minh sẽ là nhân vật cho ván bài trung lập của Pháp tại Việt Nam thì cụ Trần văn Hương sửng sốt và tỏ vẻ phiền trách: "Nước Pháp luôn luôn bẻ nho trái mùa! Tưởng chọn ai chớ chọn Dương văn Minh, nó là học trò tôi, tôi biết nó quá mà. Nó không phải là hạng người dùng trong lúc dầu sôi lửa bỏng... Tôi sẽ trao quyền lại cho nó nhưng nó phải hứa là đừng để Sài Gòn thua cộng sản." Có sự hiện diện của ông Trần chánh Thành là người rất am tường thực chất cộng sản, chúng tôi giải thích với cụ là Bắc Việt rất sợ MTGPMN đoạt phần chiến thắng, công khai ra mặt nắm chánh quyền. Chúng ta nên nắm ngay nhược điểm của họ mà xoay chuyển tình thế. Nếu để một nhân vật diều hâu lãnh đạo, Bắc Việt sẽ viện cớ Việt Nam Cộng Hòa không muốn hòa bình rồi thúc quân đánh mạnh trong lúc quân đội chưa kịp vãn hồi tư thế phản công. Tạm thời dùng công thức hòa hoãn thôi.
Cụ Trần văn Hương thông cảm kèm theo lời thở dài tỏ ra mất tin tưởng. Kế hoạch của chúng tôi vô tình đã đè bẹp tin thần chống cộng sắt đá của cụ. Theo cụ thì giải pháp hữu hiệu là bỏ ngỏ Sài Gòn, tổng động viên những vùng đất còn lại để tiếp tục đánh cộng sản. Chọn giải pháp này sẽ đổ máu thêm, nhưng chiến tranh nào mà không đổ máu, ít nhất Việt Nam Cộng Hòa không thua một cách mất mặt.
Mười năm sau tôi thấy kế hoạch của cụ Trần văn Hương đúng. Nếu lúc bấy giờ các nhà lãnh đạo quân sự Miền Nam đừng bỏ chạy quá sớm, yểm trợ cụ, thì có thể gở gạc được thể diện người Quốc gia Miền Nam. Tôi kính mến cụ Trần văn Hương, người Việt Nam nhận xét cụ bất tài, già nua lẩm cẫm, song chúng tôi thấy cụ là một người Việt Nam trung tín, sống chết cho lý tưởng, can đãm trước mọi tình huống. Năm 1976, nghe cụ bị bệnh nặng, thiếu thốn phương tiện chữa trị, chúng tôi yêu cầu Tổng lảnh sự Pháp ở Sài Gòn vận động với nhà cầm quyền HàNội cho cụ sang Pháp chữa bệnh. HàNội còn cần Pháp làm giao điểm tuyên truyền chủ nghĩa xã hội, sẽ không làm khó dễ trong việc cấp giấy xuất cảnh, nhưng cụ từ chối, quyết định ở lại chết tại Việt Nam. Chúng tôi vẫn nhớ lời cụ nói năm 1975: "Ông Đại Sứ à, tui đâu có ngán Việt Cộng, nó muốn đánh tui đánh tới cùng. Tui chỉ sợ mất nước, sống lưu đày ở xứ người ta. Nếu trời hại nước tui mất, tui xin thề ở lại đây và mất theo nước mình." Cụ Trần văn Hương đã giữ lời hứa.
Đại tướng Dương văn Minh ra về, chúng tôi hẹn gặp lại nhau. Trong lúc này, về phía Việt Nam Cộng Hòa, chúng tôi không quên nhắc nhở đại tướng Dương văn Minh gấp rút tổ chức lại quân đội, liên lạc thường xuyên với tướng Nguyễn khoa Nam, khuyến khích vị tướng này giữ vững các vị trí phòng thủ để còn một mảnh đất làm địa bàn ăn nói khi thương thuyết với phía bên kia. Ngay lúc đó tôi biết ông Dương văn Minh cách đây hai ngày đã liên lạc với người em ruột là thiếu tướng Dương văn Nhật, nhờ môi giới để nói chuyện thẳng với Bắc Việt. Vì hấp tấp, nông cạn, ông tưởng em ông có đủ tư cách đại diện cộng sản ngưng bắn tại Miền Nam. Từ chỗ móc nối sai lệch, tình thế đã xỏ mũi ông đến chỗ phá nát bấy hết kế hoạch hòa bình Việt Nam.
(GHI CHÚ của dịch giả DHN: Dương văn Nhật không phải là một thiếu tướng mà chỉ là một thiếu tá thường, trực thuộc MTGPMN nên không phải là một nhân vật quan trọng. Cộng sản đã cho về liên lạc thường xuyên với Dương văn Minh trước đó như là một liên lạc viên xoàng để săn tin mà thôi, và đã được lệnh kín đáo nằm luôn tại nhà Dương văn Minh từ khi chúng tiến chiếm tỉnh Banméthuột. Có lẽ ông Dương văn Minh muốn đưa em ông lên hàng tướng vì lý do thể diện chăng? Sau 30/4/75 mới là trung tá).
LÊ ĐỨC THỌ THÓA MẠ TÔI:
Chuông điện thoại reo. Đầu dây bên kia tự giới thiệu:
- "Chào ông Đại Sứ, tôi là B trưởng B2 đây."
Tôi chào lại và rất ngạc nhiên không biết B trưởng B2 là nhân vật nào. Thái độ thiếu lịch sự xã giao qua lời giới thiệu tên họ chức phận bằng bí danh của đầu dây bên kia chứng tỏ họ coi thường chúng tôi. Tôi gằn mạnh từng tiếng:
- "Nếu đầu dây bên kia muốn trao đổi câu chuyện với tôi thì nên tỏ ra lịch sự một chút. Khi tiếp xúc với một nhà ngoại giao thì dù thù hay bạn cũng vậy. Thưa ông B trưởng B2, chắc ông thừa hiểu ông đang nói chuyện với Đại sứ nước Pháp, và bắt buộc tôi phải cúp nếu ông không nói tên họ, chức phận. Nguyên tắc của ngành ngoại giao đối lập với ngành gián điệp là không tiếp xúc với hạng người bí mật."
B2 xin lỗi tôi liền khi đó, bảo rằng ông ta sợ CIA phát hiện sự có mặt của ông ở Miền Nam trong lúc hoàn cảnh chưa cho phép ông xuất đầu lộ diện. Ông cũng rất phiền khi bị ép buộc nói tên họ:
- "Thưa ông Đại sứ, tôi là Lê đức Thọ, Tổng tư lệnh chiến dịch Hồ chí Minh."
Thì ra là Lê đức Thọ, con người khuynh đão trong các cuộc hòa đàm Paris. Tiểu sử Thọ từ năm 1937 chúng tôi có đầy đủ trong tay, duy tôi chưa gặp mặt nên không nhận được giọng nói qua điện thoại. Sau Tết Mậu Thân, Phòng nhì Pháp đã có đủ tài liệu để biết Lê đức Thọ là Tổng chỉ huy bộ máy chiến tranh tại Miền Nam. Y từ Nga trở về hồi tháng giêng 1975, và đi thẳng vào Nam trực tiếp chỉ huy tổng tấn công Sài Gòn. Mà Phòng nhì biết thì CIA cũng biết.
Tôi nói:
- "Chào ông Tổng tư lệnh, qua vai trò trung gian và với thiện chí lớn lao nhất, nước Pháp hết lòng đứng ra hòa giải các phe tranh chấp để sớm đạt được một nền hòa bình tại Việt Nam. Ông Tổng tư lệnh có cần gởi đến chúng tôi những quyết định gì từ phía Bắc Việt nhằm tức khắc giải quyết chiến tranh không? Chúng tôi sẽ chào mừng quyết định của quí vị.’
Thấy mình là kẻ chiến thắng trong canh bạc về sáng, Lê đức Thọ tố xả láng, không cần che đậy bề trái của sự thật nữa:
- "Quyết định của đãng cộng sản chúng tôi là đánh gục Mỹ, thống nhất hai miền Nam Bắc, xây dựng nước Việt Nam theo con đường Mác xít Lê nin nít".
- "Thưa ông Tổng tư lệnh, đó là mục đích. Còn quyết định chấm dứt cảnh cốt nhục tương tàn của người Việt, chưa thấy đãng cộng sản Việt Nam nói tới?"
Lê đức Thọ hùng hồn giảng thuyết (chỗ này ông Mérillon không cho biết Lê đức Thọ nói bằng tiếng gì, vì y nói tiếng Pháp còn kém lắm):
- "Thưa ông Đại sứ, tôi xin nói về chính danh và ý nghĩa cuộc chiến đấu của chúng tôi. Sau khi đánh bại bọn đế quốc Pháp, đãng và nhân dân chúng tôi tiếp tục sự nghiệp đánh bọn ngoại xăm đế quốc Mỹ. Cuộc chiến đấu này từ lâu đã được nhân dân thống nhất thành một phong trào chống Mỹ. Từ ngữ "cốt nhục tương tàn" tôi bảo đãm với ông đại sứ là do bọn tay sai ngụy quyền Sài Gòn khơi lên để kêu gọi lòng thương hại của chúng tôi, chớ không phải lời oán than từ phía nhân dân. Xác nhận như vậy để ông đại sứ thấy rằng chúng tôi chưa hề chính thức hóa một nghị trình hòa giải nào với bất cứ đãng phái nào tay sai trong Miền Nam với quyết định của chúng tôi là để thắng chớ không phải để hòa giải."
- "Thưa ông Tổng tư lệnh, trường hợp này thì vị trí của MTGPMN ở đâu?"
- "Nó sẽ đứng ở chỗ giải tán khi: một là Đại sứ Mỹ bị bắt, hai là cuốn cờ bỏ chạy trước khi người cộng sản yêu nước tiếp thu Sài Gòn".
- "Nếu đúng như thế, MTGPMN không phải là một thực thể riêng biệt, tách rời quyền lực HàNội đứng lên chống Mỹ từ 15 năm qua, và các ông đã lừa gạt dư luận quốc tế."
- "Thưa ông Đại sứ, dư luận quốc tế hả? Mà dư luận nào mới được chớ? Nếu dư luận quốc tế thuộc khối tư bản thì không xứng đáng để phẩm bình. Đối với nước Pháp chúng tôi xem là bạn. Thưa ông Đại sứ, chúng ta sẽ bang giao trong tình hữu nghị giữa hai nước."
- "Trung Quốc đang yêu cầu chúng tôi dàn xếp một cuộc đình chiến tại Việt Nam, ông nghĩ sao?
- "Trung Quốc thuộc bọn xét lại, đã biến thể và phản bội nghĩa vụ giải phóng nhân loại qua chủ nghĩa Lênin. Mọi việc nhúng tay vào của Trung Quốc chúng tôi xem đó là hành động thù nghịch. Riêng ông Đại sứ, ngay bây giờ xin ông nhận lời cảnh cáo của chúng tôi. Nếu ông Đại sứ còn tiếp tay với Trung Quốc và các thế lực ngoại bang khác ngăn cản đà chiến thắng chống đế quốc Mỹ ở Miền Nam, thì 24 giờ sau khi tôi đặt chân vào Sài Gòn tôi sẽ trục xuất ông Đại sứ ra khỏi Việt Nam."
- "Làm như vậy ông không ngại gây sự hiềm khích giữa hai nước sao?"
- "Không, Chánh trị và quyền lợi không chú ý tới những vấn đề nhỏ nhặt giữa hai nước. Pháp còn quyền lợi tại Việt Nam. Pháp đừng nên gây hấn với Việt Nam bằng giải pháp trung lập này nọ, cũng đừng nên chen vào nội bộ của chúng tôi."
- "Thưa ông Tổng tư lệnh, ông nên nhớ Pháp ngày hôm nay không phải là Pháp đô hộ ngày hôm qua. Pháp chẳng có quyền lợi gì nếu phải bang giao với một nước Việt Nam cộng sản. Nếu ông cảnh cáo chúng tôi, bù lại xin ông và đãng cộng sản Việt Nam tiếp nhận lời cảnh cáo của chúng tôi là số tiền 300 triệu hằng năm viện trợ Miền Nam và 200 triệu viện trợ nhân đạo cho Bắc Việt sẽ không được chuyển giao nếu giải pháp trung lập bị bác bỏ một cách vô nhân đạo."
Lê đức Thọ có vẻ căm tức, nhưng lần này vì lịch sự, y nói vài lời cáo lỗi rồi cúp điện thoại, đúng với ý muốn của tôi.
Thật ra chúng tôi cũng vẫn biết cuộc chiến tranh này do tập đoàn HàNội quản lý từ đầu đến cuối, nhưng không trắc nghiệm được phản ứng ngang tàng của họ mà đại biểu chánh thức là Lê đức Thọ, nhất định nuốt Miền Nam bằng lá bài quân sự.
Sự kiện này đã khuyến khích tôi tìm kiếm những phương pháp cấp thời chỉnh đốn lại quân đội Việt Nam Cộng Hòa giữ vững phòng tuyến để kéo dài thời gian mặc cả.
Tôi rất ghét người cộng sản thiếu quân tử (đó là cái chắc!) khi họ thắng trận. Lê đức Thọ là một điển hình. Năm 1964 Thọ đã từng xin chúng tôi giúp y nói chuyện trực tiếp với Hoa Kỳ, chúng tôi không hề từ chối. Bất cứ điều gì cần đến, nếu thỏa mãn được thì chúng tôi cho ngay. Họ có mang ơn nước Pháp chớ nước Pháp chưa hề chịu ơn họ. Đến khi nước Pháp muốn Việt Nam có hòa bình trên nền tảng trung lập có thành phần quốc gia tham dự, HàNội đã bạc ơn từ chối.
Khi xe tăng Nga vượt hàng rào Dinh Độc Lập lúc 11 giờ sáng thì tới 3 giờ chiều Lê đức Thọ ngồi trên xe Falcon đến tòa Đại Sứ Pháp xấc xược đi thẳng vô phòng tôi nói:
- "Mérillon, tôi đến đây tống cổ ông rời khỏi Sài Gòn trước 9 giờ sáng mai".
Tôi gật đầu. Sáng hôm sau ngày 1-5-75, Thọ còn hạ nhục tôi bằng cách cho công an xét va li và bắt tôi phải ra HàNội trước khi về Pháp. Tôi phản đối. Khi phi cơ cất cánh, tôi ra lệnh cho phi công bay luôn sang Bangkok thay vì ra HàNội.
Hành động sỉ nhục một Đại sứ, Lê đức Thọ và công an Việt Nam phải trả một giá rất đắt. Tổng số ngân quỹ viện trợ nhân đạo hằng năm nước Pháp quyết định để dành mua sinh mạng người Miền Nam Việt Nam không hề cho HàNội một cắt nào suốt 10 năm sau.
Ngày 27 tháng 4/1975
Chiều ngày 27/4/75, tôi nhận được tin rất phấn khởi: Tướng Trần văn Trà bắn tin nhờ tôi cấp tốc thành lập chánh phủ trung lập và ông gởi gấp hai nhân vật thân tín của ông vào chánh phủ, là bà Nguyễn thị Bình và ông Đinh bá Thi (ông này bị HàNội giết vài năm sau bằng tai nạn xe hơi tại vùng Rừng Lá Phan Thiết, sau khi bị Hoa Kỳ trục xuất về tội mua tài liệu tình báo kỹ thuật cho Liên Xô - Lời dịch giả). Tùy viên quân sự của chúng tôi cũng xác nhận là 2 sư đoàn tập kết của Trần văn Trà sẽ vào tiếp thu Sài Gòn, phỏng tay trên của đạo quân Văn tiến Dũng.
CÁC TƯỚNG LÃNH BỊ NHỐT TẠI BỘ TỔNG THAM MƯU:
Chứng cớ mà Trần văn Trà lấn quyền HàNội trong mưu đồ Miền Nam tự trị được thể hiện ngay sau ngày 30/4/75. Trần văn Trà chạy nước rút, tự ý thành lập Ủy Ban Quân Quản Sài Gòn Gia Định hầu làm bàn đạp cho MTGPMN nhảy lên nắm chánh quyền trước khi Bắc Việt an bài chế độ cộng sản. Chung một mục đích: Bắc Việt đoạt chánh quyền để bành trướng chủ nghĩa cộng sản, còn MTGPMN cướp chánh quyền với thâm ý tạo sự nghiệp danh vọng cá nhân. HàNội có Nga Sô làm điểm tựa, có toan tính theo từng sách lược, còn MT là những chánh trị gia thời cuộc có tính cách giai đoạn nên cuối cùng bị thua trắng tay, bị cưỡng bức phải giải tán, cán bộ bị hạ từng công tác (hay thanh trừng) trong thầm lặng.
Dựa theo quan niệm "còn nước còn tát", chúng tôi không bỏ lở một cơ hội nào có thể duy trì nhịp thở của Việt Nam Cộng Hòa đang hấp hối vào giờ cuối của cuộc chiến. Lúc 9 giờ tối ngày 27/4/75, chúng tôi họp với các tướng lãnh De Séguins, Pazzi, Bigeard, Langlais, Vanuxem, Gilles, Pierre Bodet. Các tướng này đến Sài Gòn ngày 16/4 trong hảo ý phối hợp với các tướng lãnh Việt Nam từng được Pháp đào tạo trước kia để phản công lại Bắc Việt. Họ đến với tư cách cá nhân.
Qua lời xác nhận của tướng Gilles, chỉ huy quân đoàn nhảy dù Pháp trong trận Điện biên Phủ, thì thiếu tuớng Phạm văn Phú không phải thuộc hàng tướng lãnh bỏ lính khi thua trận và chạy dễ dàng như vậy. Tướng Gilles yêu cầu tôi can thiệp với chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa trả tự do cho tướng Phú lúc đó đang bị ông Thiệu nhốt chung với các tướng lãnh khác trong Bộ Tổng Tham Mưu. Ông Thiệu đã làm một việc quá nguy hiểm. Đang lúc quân đội cần tướng mà tướng lãnh bị tống giam, như vậy là có ác ý đập tan nát Bộ Tham Mưu Hành Quân của Việt Nam Cộng Hòa.
Ngày 29/4, tướng Phú nằm trong bệnh viện Grall. Tôi điện thoại trấn an ông, yêu cầu ông đừng bỏ đi sẽ tạo thêm tình trạng hỗn loạn hoang mang cho binh sĩ. Ông hứa sẽ không bỏ chạy, nếu không phản công giữ được Sài Gòn thì ông thề bỏ xác tại bệnh viện này. Tướng Phú đã giữ lời hứa. Ông là một tướng lãnh mà chúng tôi hết sức tin tưởng trong ván bài trung lập sau Dương văn Minh. Tối 29/4, được tin Dương văn Minh sẽ đầu hàng cộng sản vào sáng mai, ông đã dùng độc dược tự sát.
Các tướng lãnh Pháp cũng đề nghị tôi thực hiện kế hoạch bỏ trống Sài Gòn qua 2 giai đoạn:
- Giai đoạn 1.- Rút phân nữa quân gồm lực lượng tự vệ, an ninh, cảnh sát, những binh đoàn nhảy dù, thủy quân lục chiến, biệt động quân, và các binh chủng thuộc bộ binh, lén di chuyển lúc nửa đêm, sau lưng cộng sản đi lên các tỉnh Bình Dương, Tây Ninh, Phước Long, với nhiệm vụ tái phối trí lực lượng và bồi dưỡng tinh thần binh sĩ.
Phân nữa kia, gồm Hải quân và Không quân di chuyển về miền Tây để dùng cho các trận chiến sông ngòi, cắt đường tiến của cộng sản tràn xuống Quân khu 4. Mời hai tướng Dương văn Minh và Trần văn Trà công bố chánh phủ trung lập. Sài Gòn là vùng phi quân sự nơi chỉ nói chuyện, thương thuyết bằng giải pháp chánh trị. Sài Gòn không có quân, cộng sản không có cớ đễ tàn phá.
- Giai đoạn 2.- Phản công trên cơ sở du kích, chiếm lại lần hồi đất đai đã mất và chờ quân viện mới. Thay thế chánh phủ trung lập bằng một chánh phủ lưu vong Việt Nam Cộng Hòa. Vai trò Dương văn Minh đến đây coi như chấm dứt. Các tướng Phạm văn Phú, Nguyễn khoa Nam, Lê nguyên Vỹ, Ngô quang Trưởng được xem là thành phần chủ lực cho chiến trường tương lai.
Các tướng lãnh hồi hưu Pháp quả quyết sẽ tìm được nguồn quân viện chẳng mấy khó khăn, qua sự đóng góp của các cựu quân nhân Anh, Pháp, Hoa Kỳ, Do Thái... nếu có lời kêu gọi của Hiệp Hội Cựu Quân Nhân Thế Giới Tự Do.
Sáng ngày 28/4/75, tôi chuyển hết kế hoạch này cho Dương văn Minh và định tối 28 thì sẽ hoàn tất kế hoạch.
KẾ HOẠCH CHƯA ĐƯỢC THỰC HIỆN?
Đại tá tùy viên quân sự của chúng tôi trình bày tỉ mỉ về quân số của đôi bên.
- Quân cộng sản Bắc Việt hiện đang bao vây Sài Gòn gồm các sư đoàn 304, 308, 312, 320, 322, 325 và 2 sư đoàn MTGPMN, 300 thiết giáp, 600 đại bác đủ loại. Tổng cộng quân số khoảng 70.000, tính cả lực lượng trừ bị. Đúng như lời Trung Quốc thông báo, HàNội tung hết quân, bỏ ngỏ HàNội. Giá lúc ấy Trung Quốc chỉ cần cho một vài sư đoàn diễn binh trên biên giới Hoa Việt thì lập tức HàNội sẽ tự ý ngưng chiến và tán thành chánh phủ trung lập rất mau lẹ. Rất tiếc.
- Quân số Biệt khu Thủ đô có khả năng tác chiến, có vũ khí trong tay ước được 100.000. Căn cứ vào vũ khí đạn dược, hỏa lực nặng, tiếp liệu, và tinh thần chấp nhận chiến đấu thì Sài Gòn có thể phòng thủ, cầm cự được chừng 7 tháng.
Trong 7 tháng đó biết đâu tình hình lại chẳng thay đổi theo chiều hướng khác? Chúng tôi đưa ra sự kiện này nhằm bác bỏ lập luận nói rằng cộng sản Việt Nam sẽ thiêu hủy Sài Gòn với số quân gấp 5 lần.
Kinh nghiệm bọn Khmer Đỏ chiếm Phnom Penh ngày 17 tháng 4/75, đã xảy ra tình trạng chém giết hỗn loạn nguy hiểm đến sinh mạng Pháp kiều và các phóng viên ngoại quốc, cần Tòa Đại sứ Pháp che chở. Vì vậy ngày 19/4/75 tôi đã yêu cầu Bộ Ngoại Giao Pháp tăng phái cho chúng tôi một trung đội thủy quân lục chiến từ Nouvelle Calédonia đến Sài Gòn để bảo vệ sứ quán. Lại yêu cầu các vị Lãnh Sự ở Đà Nẵng, Cần Thơ, Đà Lạt, Huế gấp rút kiểm tra lại tổng số Pháp kiều, và phải tiếp tục ở lại nhiệm sở để trấn an dư luận. Khi đó có 722 người là người Pháp chính gốc, 9500 người có quốc tịch Pháp, 11.000 trẻ em lai Pháp sống tại các cơ quan từ thiện. Tất cả 21.000 người này sẽ được đưa về Pháp định cư. Tuy nhiên để cứu thêm mạng người, chúng tôi sẽ gởi cho HàNội danh sách đăng ký cho hồi hương thêm những người hồi tịch Pháp, cựu quân nhân tham dự bên cạnh quân đội Pháp trong hai thế chiến, công chức thời Pháp và nhân viên làm việc trong các cơ sở tư nhân Pháp trên lãnh thổ Việt Nam. Mỗi người hội đủ điều kiện như vừa quy định có thể kéo thêm gia đình anh em ruột thịt, con cháu dâu rể bên ngoại cũng như bên nội. Kết quả chúng tôi đem về Pháp tất cả 80.000 người. Để mua thêm người cộng tác với Pháp, mỗi năm chánh phủ Pháp phải trả cho cộng sản máy cày, dược phẩm, các bộ phận bảo trì công ty nhà đèn, thủy cục, nông phẩm v.v...
Chiều 28/4, tướng Pazzi xuống Cần Thơ gặp tướng Nguyễn khoa Nam. Sau đó khi trở về tướng Pazzi cho biết miền Tây rất khả quan, chỉ có quốc lộ 4 tạm thời bị cắt đứt. Tướng Nguyễn khoa Nam đã hai lần yêu cầu ông Dương văn Minh cho phép ông đem quân giải tỏa Quốc lộ 4, phản công, nhưng Dương văn Minh dặn đi dặn lại mấy lần là đừng phản công mạnh, tạm thời ở tư thế chờ, để ông tìm giải pháp chánh trị tại Sài Gòn. Tướng Nam than thở với tướng Pazzi: "Nếu tôi đánh mạnh là bất tuân thượng lệnh, nếu tôi đánh nhẹ thì tinh thần binh sĩ mất hết. Đến giờ này mà bức màng chánh trị còn bịt mắt quân đội. Ông nói lại với tướng Minh giùm là nước tràn bờ mà không cho đắp đê ngăn lại! Ông làm chứng giùm tôi: Quân đoàn 4 chúng tôi không thua. Chính trị Sài Gòn đã trói tay chúng tôi bắt buộc chúng tôi phải thua."
Sáng ngày 30/4/75, sau khi nghe Dương văn Minh đọc bản "trao nước cho giặc", tướng Nguyễn khoa Nam cùng nhiều tướng lãnh liêm sĩ khác đã chọn câu nói của Voltaire để giữ danh dự của người làm tướng; "Còn giữ được danh dự là chưa mất mát nhiều."
Trời đã vào đêm rồi. Đại bác, súng liên thanh nổ gần hơn. Làn sóng người ngơ ngác tìm đường chạy trốn cộng sản nghẹt cứng cả thành phố. Ông Đại tướng Dương văn Minh đâu? Tướng Trần văn Trà đâu? Tại sao những người này không xuất hiện để thành lập chánh phủ liên hiệp? Tôi tự hỏi như thế.
Tôi lo lắng, gọi điện thoại về nhà ông Dương văn Minh. Người trả lời là trung tá Đẩu, chánh văn phòng: "Dạ thưa ông Đại sứ, Đại tướng chúng tôi hiện đi lên Xuân Lộc thương thuyết với người phía bên kia."
Bỗng nhiên đầu óc tôi căng cứng từng mạch máu, tay chân bủn rủn. Ông Minh lên Xuân Lộc có nghĩa là gặp trực tiếp thượng tướng Lê đức Anh, phụ tá Văn tiến Dũng, nơi đây đang có mặt Lê đức Thọ. Tức là ông Đại tướng đi thẳng với phe Bắc Việt. Ông Minh đi trên tư thế nào? Quân không có, quan cũng không, chánh phủ chưa có gì hết. Như vậy chỉ là đi đầu hàng Bắc Việt. Công việc này không cần đến một Đại tướng! Trao cho một em bé đánh giầy 10 tuổi cũng làm được.
Cái hướng mà ông Minh cần đi là hướng Củ Chi, nơi thượng tướng Trần văn Trà đang chờ... Chờ đến kiếp sau!
Những gì mà ông Minh hứa với chúng tôi đã như nước đổ lá khoai. Bao nhiêu kế hoạch, bao nhiêu công trình vận động, phút chốc ông Minh làm tiêu tan hết. Lại còn dối gạt các tướng lãnh yêu nước khác, gây ra sự chậm trễ phản công giờ chót, bởi đa số đều tưởng ông Đại tướng có phép lạ, sáng chế được công thức ngưng bắn tại chỗ để phe quốc gia không bị thua trong nhục nhã.
Thâm ý của ông Minh là muốn đầu hàng, sau đó ngồi ăn, hưởng cho đến già.
(Lời dịch giả D.H.N.: Thật đúng như ông Mérillon đã nói, từ ngày 30/4/1975 cho đến ngày nay 1996, Dinh Hoa Lan của ông Minh không mất một chiếc đũa, không mất một cành hoa, một bụi cỏ nào.
Khi ông rời Việt Nam để đi định cư ở Pháp với toàn bộ gia đình, ông được tự do mang theo bất cứ thứ gì ông muốn, từ những món đồ cổ đến những kỹ vật, thượng vàng hạ cám... cộng sản phải dùng mấy xe vận tải đưa các thùng tài sản của gia đình ông xuống bến tàu cho ông. Dinh Hoa Lan ở đường Testard, bất động sản riêng của ông được ông giao cho trung tá Khử giữ gìn và quản lý, đến giờ này không một tên cộng sản nào dám đụng đến. Trung tá Khử hiện là chủ một vườn trồng lan tại Thủ Đức, cuối thập niên 80 là tổng thơ ký của Hội Hoa Lan Việt Nam).
Ngày 29/4/1975, 8:00 giờ tối, sau khi nhận lãnh chức Tổng Thống do cụ Trần văn Hương bàn giao lại, ông Minh điện thoại xin lỗi chúng tôi, bày tỏ sự hối tiếc đã không hợp tác được với chánh phủ Pháp. Cách duy nhất mà ông phải chọn là đầu hàng Bắc Việt mới mong cứu sống được thủ đô Sài Gòn.
Tôi lạnh lùng trả lời một câu duy nhất:
- "Thưa Đại tướng, chúng tôi cũng rất lấy làm tiếc. Giờ cuối cùng của chiến tranh Việt Nam cần có một người lãnh đạo cương quyết, dám dấn thân, nhưng chúng tôi lại đi chọn lầm một bại tướng."
Tôi cúp điện thoại ngay, và từ 10 năm qua tôi không hề và cũng không muốn liên lạc với ông ta nữa.
NGÀY 1 THÁNG 5:
Lúc phi cơ xoay qua một độ nghiêng, lấy hướng qua Bangkok, tôi nhìn xuống Sài Gòn lần chót. Tự nhiên trong lòng tôi dâng lên một niềm ngậm ngùi thương tiếc tất cả những gì đang xảy ra dưới đất. Tôi như người bại trận, hay nói cách khác, tôi xin được làm bạn với người bại trận, một người bạn đã không chia xẽ mà còn bắt buộc Việt Nam Cộng Hòa phải gánh chịu hết tất cả... trong những ngày sắp tới.
Việt Nam và tôi có rất nhiều kỹ niệm, có quá nhiều quan hệ mật thiết suốt đời không phai lạt. Sống ở Việt Nam lâu năm, tôi cảm thấy thương xứ sở này. Tội nghiệp cho họ, họ có thừa khả năng dựng nước, nhưng cái quyền làm chủ quê hương đã bị các cường quốc chuyền tay nhau định đoạt. Tôi xin lỗi người Việt Nam. Tôi đã làm hết sức mình nhưng không cứu vãn được nền hòa bình cho dân tộc Việt. Vĩnh biệt Sài Gòn, Sài Gòn vẫn hồn nhiên với những mạch sống dạt dào ơn nghĩa, một khi đã chọn bạn hữu thâm giao.
Năm 1979, Đại sứ Võ văn Sung có thư mời tôi trở lại thăm Sài Gòn. Tôi từ chối với lý do không quen với cái tên Hồ chí Minh. Sài Gòn đã mất, tôi trở lại đó thăm ai? Ở đời có khéo lắm cũng chỉ gạt được người ta lần thứ hai, làm sao lừa dối được người ta lần thứ ba?
Người cộng sản giả bộ ngây thơ (ở một khía cạnh nào đó) nên tưởng nhân loại cũng đều ngây thơ như họ. Liên tục nói dối hàng bao nhiêu năm, tưởng như vậy quần chúng sẽ nhập tâm tin là thật. Họ lầm. Nói láo để tuyên truyền chỉ có lợi trong chốc lát, nhưng về lâu về dài thì chân lý của loài người sẽ đè bẹp họ. Ngày xưa Liên Xô đã xiết chặt sai khiến họ, dùng Việt Nam làm phương tiện đóng góp cho Nga. Họ có muốn thoát ly, có muốn nhờ Tây Phương tháo gở cho họ cũng không được nữa, vì đã từng phạm lỗi lớn là đã lường gạt Tây Phương…
Sau hết, chế độ Việt Nam Cộng Hòa thua, nhưng thật ra người Việt Nam chưa thua cộng sản. Trận chiến chưa chấm dứt vào ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Mỗi năm, vợ chồng chúng tôi đều đi xuống Lourdes để kính lễ Đức Mẹ Lộ Đức. Luôn luôn tôi nhắc nhở nhà tôi, chúng tôi cùng cầu nguyện cho người Việt Nam đạt được nền hòa bình theo sở nguyện của họ. Tôi tin rằng Đức Chúa Trời và Đức Mẹ không bỏ rơi dân tộc Việt Nam.
Jean-Marie MÉRILLON
(Cựu Đại Sứ Pháp tại Việt Nam)