Thursday, January 4, 2018

Hầu hết người dùng đang sạc điện thoại sai cách

HẦU HẾT NGƯỜI DÙNG
ĐANG SẠT ĐIỆN THOẠI SAI CÁCH

Hầu hết người dùng đang sạc điện thoại sai cách Liệu bạn đã thực sự sạc pin điện thoại đúng cách?
Có lẽ là không. Ngược lại, đa số người dùng đang vô tình làm hao mòn viên pin của thiết bị bởi thói quen sạc vô thưởng vô phạt của họ. Sạc đầy 100%? Sạc qua đêm? Dùng cạn pin rồi mới sạc? Theo Cadex, một công ty đã thực hiện các bài test pin điện thoại và nhiều thiết bị khác cho hay những thói quen này đang hút dần tuổi thọ của viên pin điện thoại.
 Hầu hết người dùng đang sạc điện thoại sai cách - Ảnh 1.
Kể từ khi Apple thừa nhận về việc làm chậm iPhone để có một thời lượng pin tốt hơn, vấn đề sạc pin đúng cách đang trở nên sôi nổi trong thời gian gần đây. Cadex đã cung cấp rất nhiều thông tin về pin trên trang Battery University. 
Và loại pin được nhắc đến ở đây là lithium-ion vốn rất thông dụng trong giới smartphone. Có một sự thật là bạn không nên sử dụng tới khi cạn pin mà chí ít hãy giữ lại vài phần trăm pin.
Cách sạc pin tốt nhất là sạc mỗi lần một chút, phân ra nhiều lần sạc và sạc bất cứ khi nào có thể.
Hãy sạc bất cứ khi nào bạn có thể, dù chỉ là một vài phút và tuổi thọ của pin sẽ đảm bảo được tối ưu.
Theo như Battery University thì "sạc nhiều lần không gây hại cho pin".
Đừng dùng cạn pin rồi mới sạc.

 Hầu hết người dùng đang sạc điện thoại sai cách - Ảnh 3.
Điều này sẽ khiến những viên pin dần xuống cấp theo thời gian. Chính Samsung cũng đã nói về điều này trong một bài viết trên blog của hãng.
Nên giữ mức pin ở 65%-75%

 Hầu hết người dùng đang sạc điện thoại sai cách - Ảnh 4.
Theo Battery University, tuổi thọ của pin trong smartphone sẽ đạt được mức cao nhất khi được duy trì ở mức 65%-75% sau những lần sạc.
Không phải ai cũng đủ "rảnh rỗi" để canh chuẩn một mức pin nào đó như vậy, nhưng ít ra bạn cũng biết mức pin lý tưởng sau khi sạc là chừng nào.
Nếu bạn cảm thấy mức trên là quá khó để canh thì 45%-75% cũng là một mức pin khá tốt.

 Hầu hết người dùng đang sạc điện thoại sai cách - Ảnh 5.
Đây hẳn là một mức pin phù hợp hơn trong thực tế đời thường. Bạn cũng có thể tự tạo thói quen sạc pin điện thoại hàng ngày vào những khoảng thời gian cụ thể để có thể có được thời gian sạc như mong muốn.
Đừng bao giờ sạc đầy pin, đặc biệt là bằng những củ sạc điện thế thấp.

 Hầu hết người dùng đang sạc điện thoại sai cách - Ảnh 6.
Sạc pin từ mức 25% đến đầy 100% sẽ làm tiêu hao dung lượng và giảm tuổi thọ pin.
Việc sạc đầy pin vốn đã là không nên mà theo Battery University, pin lithium-ion không cần phải sạc đầy và cũng không nên được sạc đầy. Việc sạc đầy pin sẽ gây ra hiện tượng điện áp trong pin và theo thời gian, pin sẽ bị chai dần.
Không nên sạc điện thoại qua đêm.

 Hầu hết người dùng đang sạc điện thoại sai cách - Ảnh 7.
Đây là một vấn đề gây tranh cãi nhiều năm qua. Như đã nói trên, sạc đầy 100% sẽ gây suy giảm tuổi thọ pin điện thoại, nên bạn hãy bỏ thói quen này đi nhé.
Và cuối cùng: nhớ rút sạc khi đã sạc đầy 100%.

Thursday, December 28, 2017

Nghệ sĩ Ngọc Đan Thanh bị đột quỵ

(NLĐO) Nghệ sĩ Tú Trinh từ Mỹ gọi về cho biết, nghệ sĩ Ngọc Đan Thanh bị đột quỵ, vẫn còn hôn mê dù đã được cấp cứu tại một bệnh viện tại quận Cam – miền Nam California – Hoa Kỳ cách đây 3 ngày.

Theo nghệ sĩ Tú Trinh, nghệ sĩ Ngọc Đan Thanh chưa bao giờ biết mình bị bệnh tim mạch hoặc huyết áp, đây là sự cố đột ngột khiến bạn của chị không lường trước. "Tôi và Ngọc Đan Thanh gặp nhau trong chuyến bạn tôi về nước thăm ba mẹ cách đây vài tháng. Ba mẹ của Ngọc Đan Thanh đang sinh sống tại quận 1, TP HCM. Năm nào Ngọc Đan Thanh cũng về thăm cha mẹ. Thật đáng lo khi biết bạn tôi đã hôn mê, các nghệ sĩ đồng nghiệp đều cầu nguyện có được phép mầu để giúp Ngọc Đan Thanh tỉnh lại" – NS Tú Trinh cho biết.
NS Ngọc Đan Thanh là diễn viên kịch thuộc Đoàn Kịch nói Kim Cương, chị còn tham gia đóng phim, lồng tiếng và làm MC. Chị tên thật là Lê Thị Huệ, sinh năm 1952 tại Sài Gòn (cùng tuổi với nghệ sĩ Tú Trinh). Từ năm 1964 đến 1966, Ngọc Đan Thanh theo học cổ nhạc với thầy Năm Đờn, sau đó theo hát tại ban cải lương Thành Công trên Đài Phát thanh Sài Gòn.
"Ngọc Đan Thanh rất đa dạng trong diễn xuất, vừa thoại kịch hay, vừa diễn cải lương đầy cảm xúc. Thời đó, Ngọc Đan Thanh thường xuyên xuất hiện trên truyền hình với các ban kịch Bảo Ân, Phương Nam (soạn giả Nguyễn Phương), ban kịch Bích Thuận, ban kịch Thẩm Thúy Hằng, ban cải lương Phụng Hảo của NSND Phùng Há và sau này là ban kịch La Thoại Tân trước khi đầu quân về đoàn kịch nói Kim Cương. Về hoạt động điện ảnh, cô xuất hiện trong các phim: "Báu kiếm rửa hận thù", "Long hổ sát đấu", "Vực nước mắt", "Xóm tôi"…Trên sân khấu kịch Kim Cương, cô để lại ấn tượng vai Nga trong vở kịch "Lá sầu riêng". Từ năm 1980 đến 1987, sau một thời gian ngưng trình diễn, Ngọc Đan Thanh trở lại sân khấu cải lương với các đoàn Sông Bé (của Bầu Xuân), đoàn Thanh Minh-Thanh Nga, Nhà hát cải lương Trần Hữu Trang, sau đó định cự tại Mỹ năm 1988" – NSND Kim Cương cho biết.
NS lão thành Ánh Hoa nhắc lại rằng NS Ngọc Đan Thanh lên truyền hình lần đầu tiên lúc mới 14 tuổi, "Bé gái Lê Thị Huệ – trong vai cháu của nghệ sĩ Bạch Huệ diễn vai bà nội đang đau nặng, đã khóc sướt mướt như chưa từng được khóc. Và vẫn tiếp tục khóc cho dù cảnh đã hết, lúc đó còn bé xíu mà biết diễn rồi, dễ thương lắm. Suốt từ lần diễn nhớ đời đó cho đến nay ở tuổi trên 60, nghệ sĩ Ngọc Đan Thanh luôn bền bỉ với nghề. Cầu nguyện cho Ngọc Đan Thanh mau bình phục". 
NLDO

Wednesday, December 27, 2017

Vú sữa Việt Nam chính thức sang Mỹ 26.12.2017

Sự kiện xuất khẩu lô vú sữa đầu tiên sang Mỹ đánh dấu khả năng của Việt Nam trong việc  bảo đảm quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn Global GAP.
Tối nay, lô vú sữa đầu tiên 'cưỡi' máy bay sang Mỹ - Ảnh 1
Sáng 26/12, tại Tiền Giang, Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn và UBND tỉnh Tiền Giang chủ trì buổi lễ công bố “Xuất khẩu lô vú sữa Việt Nam đầu tiên sang thị trường Hoa Kỳ”. Ảnh: Nông nghiệp.
Tối nay, lô vú sữa đầu tiên 'cưỡi' máy bay sang Mỹ - Ảnh 2
Lô vú sữa xuất khẩu đầu tiên của Việt Nam sẽ khởi hành từ chuyến bay Cathay CX764 tại TP HCM lúc 19h45 phút ngày 26/12 và đến Mỹ lúc 6h05 ngày 27/12. Ảnh: Nông nghiệp.
Tối nay, lô vú sữa đầu tiên 'cưỡi' máy bay sang Mỹ - Ảnh 3
Vú sữa là trái cây thứ 5 của Việt Nam được xuất khẩu sang thị trường Mỹ.Ảnh: Klever Fruits.
Để được cấp phép vào thị trường khó tính Mỹ, quả vú sữa của Việt Nam phải đáp ứng các tiêu chuẩn của Mỹ và phải được cấp mã số vùng trồng. Ảnh: Baodansinh.
Tối nay, lô vú sữa đầu tiên 'cưỡi' máy bay sang Mỹ - Ảnh 5
Ngoài ra, đơn vị đóng gói sản phẩm được Mỹ chứng nhận đáp ứng yêu cầu và nhà máy chiếu xạ cho trái vú sữa phải được phía Mỹ chứng nhận.Ảnh: Báo Ấp Bắc.Tối nay, lô vú sữa đầu tiên 'cưỡi' máy bay sang Mỹ - Ảnh 6
Sự kiện xuất khẩu lô vú sữa đầu tiên sang thị trường Mỹ là niềm tự hào của người dân trồng vú sữa, là động lực giúp bà con yên tâm canh tác. Ảnh:Baosoctrang.
Tối nay, lô vú sữa đầu tiên 'cưỡi' máy bay sang Mỹ - Ảnh 7
Tiền Giang hiện có 1.100 ha trồng vú sữa, trong đó khoảng 500 ha diện tích cho trái, sản lượng hàng năm gần 10.000 tấn. Ảnh: Hoinongdan.
Tối nay, lô vú sữa đầu tiên 'cưỡi' máy bay sang Mỹ - Ảnh 8
Thương hiệu  vú sữa Lò Rèn  ở Tiền Giang được mọi người biết đến nhờ hương vị đặc trưng. Ảnh: TTXVN.
Tối nay, lô vú sữa đầu tiên 'cưỡi' máy bay sang Mỹ - Ảnh 9
Gần 44 ha chuyên canh vú sữa của Tiền Giang đã được cấp mã số vùng trồng đáp ứng tiêu chuẩn của phía Mỹ. Ảnh: THTG.
Tối nay, lô vú sữa đầu tiên 'cưỡi' máy bay sang Mỹ - Ảnh 10
Việt Nam là nước đầu tiên và duy nhất được cấp phép xuất khẩu trái vú sữa tươi vào thị trường Mỹ. Ảnh: Baocongthuong.
Vú sữa Việt Nam chính thức sang Mỹ (Nguồn THDT) Hoàng Minh (tổng hợp)

Friday, December 22, 2017

Luật thuế mới: cải tổ lớn nhất từ năm 1986 đến nay. - Income Tax 2018

Dưới đây là một số chi tiết quan trọng của luật thuế mới, chính thức có hiệu lực năm 2018:

1/ Tax rate thấp hơn: Mỗi tax rate mới đều giảm vài phần trăm so với tax rate cũ. Vẫn còn nguyên 7 rate như trước đây.
2/ Standard deduction tăng gần gấp đôi, từ $6,350 lên $12,000 cho mỗi đầu người. 
3/ Bù lại, personal exemption sẽ được hủy bỏ. Mỗi cá nhân, kể cả dependent, sẽ không được trừ $4,050 như trước đây.
4/ Tiền thuế lợi tức trả cho tiểu bang, thuế nhà, thuế xe tổng cộng không được trừ quá $10,000.
5/ Credit cho con cái (dependent) dưới 17 tuổi sẽ tăng gấp đôi, từ $1,000 lên $2,000, trong đó có $1,400 được gọi là refundable (có nghĩa không phải đóng thuế cũng được nhận tiền)
6/ Dependent trên 17 tuổi, kể cả cha mẹ, sẽ được $500 credit. Trước đây thành phần này không có credit nào.
7/ Cái gọi là "Alternative Minimum Tax" sẽ không còn ảnh hưởng đến nhiều người thụ thuế như trước. "AMT exemption" sẽ tăng lên $73,000 cho độc thân và $109,400 cho vợ chồng khai chung.
8/ Tiền lời phải trả cho nợ mua nhà: chỉ được trừ tiền lời trên số nợ không quá $750,000 (trước đây là $1,000,000)
9/ Tiền lời phải trả cho nợ "home equity loan" sẽ không được trừ.
10/ Tiền lời phải trả cho nợ đi học (student loan), tiền trả cho y tế, sức khỏe,(medical expenses), tiền thầy cô mua dụng cụ cho học đường (educator expenses): vẫn còn được trừ. Tiền credit cho sinh viên đại học vẫn còn hiệu lực: $2,500 mỗi năm cho sinh viên học trình cấp cử nhân (American Opportunity Credit). 
11/ Người mua xe "electric vehicle" vẫn được hưởng $7,500 credit.
12/ Tiền lời từ bán căn nhà chính (primary residence): vẫn như cũ, không phải đóng thuế nếu lời dưới $250,000 cho độc thân, $500,000 cho vợ chồng khai chung.
13/ Quỹ tiết kiệm học vấn 529 nay có thể được dùng để trả cho con em học cấp trung học hoặc thấp hơn.
14/ Tiền phí tổn dọn nhà vì công ăn việc làm (moving expenses): sẽ không được trừ.
15/ Tiền cấp dưỡng cho vợ chồng ly dị (alimony): những ai đã và đang trừ vẫn tiếp tục trừ, và người nhận tiền phải khai income. Nếu án lệnh (divorce decree) ký sau ngày 31 tháng 12 năm 2018, vợ/chồng ly dị sẽ không còn được trừ, và người nhận tiền cấp dưỡng cũng không cần phải khai income.
16/ Tiền người đi làm bỏ ra để tiêu cho những khoản liên quan đến việc làm (employee business expenses) nhưng không được chủ bồi hoàn sẽ không còn trừ được nữa.
17/ Tài sản mất vì trộm cắp (theft) hay tai nạn (casualty) sẽ không được trừ, ngoại trừ liên quan đến "national disaster" (thí dụ như bão lụt, cháy rừng, động đất... được TT Hoa Kỳ công nhận). Nhà cháy vì hỏa hoạn, lụt vì mưa to, bể ống nước.... sẽ không được khấu trừ như xưa.
18/ Self employed, LLC, Partnership, S-Corporation... sẽ được trừ 20% tiền thu nhập.
19/ Sẽ có rất ít người phải đóng "Estate tax" vì số tiền giới hạn sẽ tăng lên gấp đôi.
20/ Bắt đầu năm 2019, dân Mỹ sẽ không bị bắt buộc phải mua bảo hiểm sức khỏe nữa. Cái gọi là "Shared Responsibility Payment" (trên thực tế là tiền phạt) sẽ không còn.
21/ Tax rate của các công ty (corporation) sẽ giảm từ 35% xuống còn 21%. Corporation sẽ không lo phải đóng "alternative minimum tax".
Phần lớn các thay đổi chỉ có hiệu lực bắt đầu từ năm 2018 đến năm 2025. Sau đó sẽ tùy thuộc vào Quốc Hội.

Quan trọng: Từ đây đến cuối năm 2017, ai có thể trả thêm tiền mortgage, tiền lời từ home equity loan, thuế tài sản còn nợ hoặc có thể xin đóng thêm, thuế lợi tức tiểu bang chưa trả hết, tiền lạc quyên cứu trợ cho các tổ chức từ thiện... nên trả ngay để có thể khấu trừ thêm trên hồ sơ thuế năm 2017 vì sang đến năm 2018 tổng số tiền khấu trừ bằng cách "Itemized deduction" sẽ không bằng số tiền "standard deduction"

(Tin tổng hợp của MOTGOCPHO.COM - tính đến ngày 20/12/2017)

Wednesday, December 20, 2017

4 năm ngày Việt Dzũng nằm sâu trong lòng đất lạnh

Chiều nay ai ra mộ vắng. 
Thắp giùm tôi nén hương tàn. 
Thương người nằm sâu đất lạnh. 
Đang buồn quê hương nát tan. 
VD
Hôm nay 20 tháng 12/2017. 
Đúng 4 năm ngày Việt Dũng giã từ cuộc vui, xa rời bạn bè, người thân yêu về nơi chốn xa xăm, bình yên. 
Nơi ấy không còn bon chen, dối trá, lọc lừa. 
Mỗi mùa Noel về tôi lại nhớ đến em. 
Thương em nằm sâu trong lòng đất lạnh. 
Đang buồn nhìn quê hương nát tan.
Phương Hồng Quế

Bất ngờ Việt Cộng cho phát hành "Người tị nạn" của người Mỹ gốc Việt

Tác phẩm "Người tị nạn" của nhà văn Mỹ gốc Việt đoạt giải Pulitzer 2016 được chuyển ngữ tiếng Việt và phát hành tại Việt Nam vào cuối tháng 12 nàyhttp://vietbf.com/forum/attachment.php?attachmentid=1149227&stc=1&d=1513613781
Quá bất ngờ và bàng hoàng với cuốn sách đoạt giải Pulitzer 2016 của một người tị nạn gốc Việt - tác giả Viet Thanh Nguyen - sẽ được chuyển ngữ và phát hành tại VN. Đây có lẽ là tin đặc biệt nhất, vui nhất cho người Việt tại hải ngoại. Bài viết sâu sắc, chân thực chắc chắn nhiều người Việt sẽ đón đợi cuốn sách này.
Người tị nạn (The Refugees) là tác phẩm đầu tiên của Viet Thanh Nguyen (Nguyễn Thanh Việt) – người Mỹ gốc Việt đầu tiên đoạt giải Pulitzer, được dịch và xuất bản tại Việt Nam và đề “tặng những người tị nạn, ở bất cứ đâu”.
Tập truyện ngắn gây ấn tượng mạnh bởi sự hư cấu mà chân thực của nó như đánh giá của New York Times: “Những câu chuyện về người tị nan Việt Nam như ma thuật bất biến… Một tập truyện siêu phàm… Giọng văn khiêm tốn, chi tiết và phong cách tự sự thẳng thừng hoàn toàn thích hợp với những cuộc đời thường dân âm thầm được mô tả trong truyện… Vặn nhỏ âm lượng, chúng ta áp tai vào, lắng nghe những người tị nạn nói để thấu hiểu họ”.

http://vietbf.com/forum/attachment.php?attachmentid=1149228&stc=1&d=1513613781
Tác giả Nguyễn Thanh Việt, chủ nhân giải Pulitzer 2016 hạng mục Tiểu thuyết - Ảnh: FB nhân vật
 
Mở đầu cuốn sách là những day dứt về một quá khứ đầy ám ảnh “Tôi viết sách này cho những hồn ma vốn là nhóm duy nhất ở với thời gian bởi vì họ ở ngoài thời gian” (Roberto Bolafio, Antwerp).
 
“Những thứ ám ảnh bạn không phải là những ký ức của bạn Không phải những điều bạn đã viết ra Mà là những điều bạn đã quên, bạn phải quên
Những điều bạn phải tiếp tục quên suốt cả đời mình”.
(James Fenton, A German Requiem)

Như tựa đề tập truyện cho thấy, các truyện trong tập đều xoay quanh những người tị nạn, trong đó có tác giả và gia đình.
Tị nạn, nếu hiểu theo một nghĩa rộng rãi, là việc rời nơi mình đang sống để tránh một tai họa nào đó. Nó có thể là thiên tai (bão lụt, hạn hán, nạn đói do mất mùa...) mà cũng có thể là nhân tai, do con người gây ra cho nhau (chiến tranh, thảm họa môi trường, áp bức tôn giáo hay chính trị...) rồi bây giờ còn có khái niệm tị nạn giáo dục nữa. Dù vì lý do gì, người tị nạn cũng phải sống và tập hòa nhập vào môi trường mới trong khi mang nặng mặc cảm của kẻ sống bám cho tới ngày họ có thể đứng trên đôi chân của mình. Nguyễn Thanh Việt kể rằng ông và người tị nạn nói chung có một “cảm giác xa lạ, luôn sống hai đời sống, một trong nền văn hóa lớn hơn mà bạn đang cố hòa nhập, và một gần với bản chất hơn khi ở trong cộng đồng của mình và nói thứ tiếng của mình”. Tựa như hai chị em cùng cha khác mẹ trong truyện Tổ quốc nhưng được ông bố đặt tên giống nhau. Cô chị là ngưòi tị nạn ở Mỹ còn cô em lớn lên ở Việt Nam sau chiến tranh. Hai chị em gặp nhau khi cô chị về thăm tổ quốc. Họ là hai mà tưởng như cùng thân phận: một người là của quá khứ sống ở xứ người và một là hiện tại sống ở xứ mình

http://vietbf.com/forum/attachment.php?attachmentid=1149229&stc=1&d=1513613781
Tác phẩm "Người tị nạn". Phiên bản Việt Ngữ
Tác phẩm của nhà văn, xét cho cùng, cũng chỉ là sản phẩm hư cấu. Nhà văn không có trách nhiệm phải khẳng định sự việc hay con người nào đó là đúng hay sai, tốt hay xấu. Họ chỉ kể những câu chuyện nhưng có thể từ nhiều góc nhìn, cho ta nhiều cách hiểu cuộc đời hơn. Họ có thể mượn chất liệu trong đời của họ hoặc đời của người khác, hoặc hoàn toàn tưởng tượng, nên việc đánh giá họ về các phương diện khác ngoài tài năng văn chương, như quan điểm sống, nhân sinh quan hay thế giới quan... đều không có cơ sở. Nguyễn Thanh Việt kể những chuyện về cuộc sống và tâm tình của người tị nạn. Qua truyện của ông, ta có thể biết được một cách nhìn mới, và có cơ hội suy nghĩ về những chuyện mà trước đây ta chưa từng nghĩ. Ông không phải là sử gia, nên tác phẩm của ông không nhất thiết phải phản ảnh thực trạng của người tị nạn hay trở thành tiếng nói đại diện cho họ.
Nguyễn Thanh Việt (bút danh Viet Thanh Nguyen) – nhà văn người Mỹ gốc Việt đầu tiên đoạt giải Pulitzer và nhiều giải thưởng khác của các Hiệp hội văn học cho sự nghiệp sáng tác của mình.
Viet Thanh Nguyen (tên tạm gọi theo tiếng Việt là Nguyễn Thanh Việt) người Mỹ gốc Việt đầu tiên nhận giải Pulitzer văn học (2016) cho tiểu thuyết đầu tay The Sympathizer (Cảm tình viên). Tiếp theo đó, tập tiểu luận Nothing Ever Dies (Chưa có gì từng chết) của ông lọt vào chung khảo giải National Book Critics Circle Award cùng năm. Đầu năm 2017, tập truyện ngắn The Refugees (Người tị nạn) ra đời đánh dấu hành trình hai mươi năm tập tành làm nhà văn.
Sau khi nhận giải Pulitzer, Nguyễn Thanh Việt được giới truyền thông săn đón. Ông được mời thuyết giảng, đọc sách, ký tặng ở nhiều nơi trên khắp nước Mỹ, đôi khi ở châu Âu; tham gia trả lời phóng vấn thường xuyên và trở thành nhà phê bình uy tín trên New York Times, Los Angeles Times…
Trong các bài báo và phỏng vấn gần đây, ông đều phân biệt rạch ròi giữa di cư và tị nạn. Là một người tị nạn ở Mỹ, ông nói, thì rất không-giống-người Mỹ, và hoàn toàn mâu thuẫn với “giấc mơ Mỹ”. Nhiều người cho rằng thật bất khả để người Mỹ trở thành người tị nạn, mặc dù không có gì lạ khi người tị nạn trở thành người Mỹ. Một người tị nạn đi kèm nỗi sợ, thất bại và khinh thị. Do đó, ông mong muốn có thể nhân bản hóa họ qua những câu chuyện, ngõ hầu giúp người Mỹ có thể chấp nhận và đón nhận những người tị nạn.
Trả lời phỏng vấn Jeffrey Brown của PBS, Nguyễn Thanh Việt nhấn mạnh rằng theo ông, nhiệm vụ của nhà văn là phóng chiếu những gì đang diễn ra trong đời sống hiện nay vào tác phẩm. Vấn đề di cư – tị nạn không hẳn chỉ là vấn đề của một nước Mỹ dưới thời ông Trump, mà còn là điều khẩn thiết của châu Âu và nhiều nơi trên thế giới.
Sinh ra ở Việt Nam, nhưng lớn lên ở Mỹ, ông luôn cảm thấy mình như một điệp viên hai mang.. Lúc ở nhà với cha mẹ, ông là điệp viên của nước Mỹ bên ngoài; lúc ở ngoài, ông là điệp viên của cộng đồng người Việt tị nạn. Tuy nhiên, đứng giữa hai thế giới này, ông chủ động chọn một góc nhìn độc lập để có thể soi chiếu một cách khách quan nhất.
Không chỉ vậy, Nguyễn Thanh Việt luôn sẵn lòng để không an vị, không bằng lòng, và luôn trăn trở, từ đó ông hy vọng có thể hiểu được tận cùng căn nguyên và tâm tính của một cộng đồng tị nạn trong lòng nước Mỹ để phản chiếu một cách chính xác trên trang viết.
Người tị nạn (The Refugees) là cuốn sách mới nhất của Viet Thanh Nguyen, phát hành đầu năm 2017, được Nhà xuất bản Hội Nhà Văn và Phương Nam Book dịch và xuất bản tại Việt Nam vào tháng 12. 2017.

Friday, December 15, 2017

Nước Mỹ: Không phải tạm dung! - Lệ Hoa Wilson

Tôi đã từ bỏ quê hương điêu tàn, đã quay lưng với tương lai đen tối. Tôi đã chọn một nơi khác để cất nhà, một miếng đất khác để gieo hạt. Tôi đã dùng nước sông của họ để tưới tẩm, dùng đồi núi của họ để chăn nuôi. Tôi đã dùng chất xám của họ để tiến thân, dùng lòng tốt của họ để sống còn. Tôi không bao giờ quên dòng máu Việt trong tôi nhưng tôi sẽ không ngồi đó nhìn non nước này, dân tộc này với một ánh mắt hờ hững, dửng dưng, một thái độ vô ơn, rẻ rúng. Tôi sẽ không coi đây chỉ là một mảnh đất tạm dung và ngồi khóc thương cho một khung trời đã mất, mơ tưởng về một dĩ vãng đã tàn phai.

 
Tôi người Việt Nam. Ông xã người Mỹ. Chúng tôi gặp nhau và thành hôn năm tôi 30 tuổi, đã một lần ly dị và có hai đứa con. Ông xã thì cũng 30 tuổi và còn là trai tơ.
Vùng I chiến thuật lấy Ðà Nẵng (nơi tôi và ông xã gặp nhau) làm thủ phủ nên có rất nhiều bộ chỉ huy trong đó có nhà thương của Hải quân Mỹ là trung tâm y tế cho tất cả binh sĩ Mỹ trong vùng. Qua khỏi ngã tư Mỹ Khê, quẹo mặt để đi vào núi Non Nước, nằm về phía tay mặt là nhà thương. Tôi đoán nó chiếm trọn ít nhứt là năm mẫu đất với các trung tâm y tế mổ xẻ, chữa trị đủ loại, nhà ở cho binh sĩ và dĩ nhiên là một nhà xác! Một nhà xác không có nhiều nước mắt vì thân nhân ở mãi mười ngàn dặm xa!
Trước mặt nhà thương là một bãi đáp trực thăng để tải các thương binh, các chiến sĩ tử trận từ các chiến trường vùng I. Mỗi lần trực thăng đáp xuống thì con đường xe chạy được các quân cảnh Mỹ chặn lại, từng chiếc cáng được vội vã khiêng ra chạy thẳng vào cổng chánh, có người sẽ tỉnh lại với một cái chân nằm đâu đó trong lá rừng rậm rạp, có người sẽ được trở về quê hương dưới lá cờ phủ kín, có người sẽ ngậm ngùi từ biệt những giấc mơ vì cánh tay đã mất, gương mặt đã bị tàn phá, linh hồn đã bị tổn thương…
Vì ông xã thuộc binh chủng hải quân và đóng quân trong nhà thương nên tôi đã có biết bao lần phải ngừng xe, tắt máy, ngồi nhìn những bước chân vội vã, những gương mặt chịu đựng, những ánh mắt buồn hiu của những người tải thương. Mỗi khi có một cái cáng phủ cờ Việt Nam hay Mỹ thì những người Mỹ xuống xe đứng nghiêm chỉnh đưa tay chào vĩnh biệt. Tôi ít khi thấy thương binh Việt Nam, có thể vì họ được chuyển tới một trung tâm y tế khác. Chỉ có một lần tôi thấy một cái cáng được khiêng ra khỏi cửa trực thăng, lá cờ Việt Nam Cộng hòa phủ kín. Tôi không thấy mặt cũng như binh chủng của tử sĩ nhưng một người đàn bà đầu tóc rũ rượi, cánh tay quấn băng treo vào vai còn đẫm máu đang lảo đảo nhảy ra khỏi cửa trực thăng. Tóc chị trước kia chắc được cột lại bằng dây thun, nay chỉ còn một vài lọn lỏng lẻo trên đỉnh đầu còn bao nhiêu thì thả dài rối rắm xung quanh mặt.
Bạn ơi, hình ảnh đau thương nhứt không phải là cái cáng có người chết nằm phủ kín lá cờ vàng chói, không phải dòng nước mắt đầm đìa trên mặt người sống sót mà là một miếng băng vải mỏng dùng để quấn vết thương. Nó bị dơ vì đất và máu. Nó chỉ dài bằng một chiếc khăn mùi soa. Nhưng nó lại được người vợ trân trọng để ngang lên trán, dùng một cọng lạt dừa cột vòng lại sau đầu. Mảnh khăn tang được vội vã quấn tạm thời nhưng sự ly biệt thì chắc chắn ngàn trùng xa cách. Người thiếu phụ Việt Nam đang để tang cho người chồng chiến sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc!
Tôi không ra khỏi xe chào vĩnh biệt người chiến binh nhưng gục mặt vào tay lái nước mắt tuôn rơi khóc thương cho những đứa trẻ đang quẩn quanh trong thôn xóm chờ cha trở lại. Tôi tưởng tượng tới lúc gia đình nghe tiếng chuông reo, mở cửa ra và thấy một người binh sĩ đứng trước mặt với cái nón cầm trên tay. Người mẹ ở ngàn dặm xa kia có ngã xuống vì trái tim tan nát?… Một cái gì đó nhen nhúm trong tâm hồn tôi. Chiến tranh tiếp diễn cho tới một lúc nào đó thì hòa ước được ký, quân đội Mỹ rút đi.
Anh nấn ná xin ở lại Việt Nam và là nhóm binh sĩ cuối cùng ra khỏi phi trường Tân Sơn Nhất vào đầu năm 73. Tháng 6, 1973, tôi sanh đứa con trai đầu lòng cho anh. Tháng 9 năm 74 tôi qua Mỹ thăm anh tiện thể thăm dò chuyện xuất nhập cảnh. Chúng tôi dự định chờ anh ra khỏi quân đội và sẽ về sinh sống tại Việt Nam. Ðiều kiện để tôi nói “I do” là chúng tôi phải ở Việt Nam và sẽ có bảy đứa con. Tôi nào biết trời cao đất rộng là gì, chỉ biết rằng tôi rất ham con và bảy đứa là một con số chấp nhận của gia đình VN, đâu nghĩ rằng đối với người Mỹ hai đứa là lý tưởng, ba đứa là chau mày, bốn đứa là nổi điên, năm đứa là tan nát, sáu đứa là thảm họa mà bảy đứa là… rồi đời!
Thời cuộc thay đổi, đến tháng 3 năm 75 thì tôi quay về Việt Nam để đón các con. Lúc đó tôi đang có thai đứa thứ hai được bảy tháng. Khi còn bên Mỹ, qua tin tức trên báo và tin rỉ ra trong quân đội thì chúng tôi biết chắc là Saigon sẽ mất, nhưng khi về Việt Nam thì Saigon vẫn vui vẻ, vẫn bình yên. Rạp chiếu bóng vẫn hát, tiệm ăn vẫn mở cửa, đám cưới vẫn tiến hành, tình yêu vẫn nở hoa… Tôi thầm cằn nhằn báo chí Mỹ thật là dỏm, toàn là đưa tin vịt không hà.
Nhưng với ngày qua, mọi việc có vẻ tệ hơn. Nhóm người quen bán hột xoàn với mẹ con tôi cùng nhau an ủi rằng “bà Mỹ” còn ở đây chưa chạy thì lo gì. Ông xã tôi kêu điện thoại ngày một hối thúc tôi ra đi. Tôi trả lời là má tôi không cho đi, sợ về Mỹ sanh rồi lấy ai săn sóc, làm sao có củi lửa để hơ, có lá xông để tắm, có nghệ vàng để thoa mặt, v.v. Sanh xong rồi tôi sẽ qua.
Một tuần sau tôi mất liên lạc với anh.
Ngày 20 tháng 4, 1975 một trung sĩ Việt Nam lái xe jeep đến nhà tôi, gõ cửa:
“Xin lỗi đây có phải là nhà của bà Lê Thị Hoa không?”.
Tôi trả lời:
“Trung sĩ ơi, ở đây không có bà Lê Thị Hoa chắc trung sĩ muốn kiếm bà Lệ Hoa phải không?”
Viên trung sĩ vội nói:
“Tôi cũng không biết chắc. Tôi làm việc cho ban an ninh phi trường và được lịnh tới đây chở cái bà có chồng Mỹ lên gặp Đại tá Mỹ phụ tá tùy viên quân sự…”
Tôi cầm lấy giấy và thấy tên tôi. Tôi vội dẫn theo hai đứa con nhỏ nhất lên phi trường Tân Sơn Nhất. Khi vào văn phòng, vị Đại tá cho tôi biết là ông xã đã liên lạc với cơ quan của ông và nhờ họ giúp tôi và các con phương tiện để rời Việt Nam.
Vị Đại tá nhìn xấp tài liệu nói:
“Chồng bà yêu cầu Tòa Đại sứ giúp đỡ bà và ba đứa con di tản khỏi Việt Nam lập tức. Xin bà hãy để hai đứa trẻ này lại đây cho cô thơ ký tôi trông chừng, còn bà thì theo xe trở lại nhà và dẫn đứa thứ ba tới đây, chúng tôi sẽ làm giấy tờ và gia đình bà sẽ ra đi nội trong ngày nay”.
Tôi ngẩn ngơ nhìn vị Đại tá ngồi nghiêm chỉnh trước mặt:
“Ngài Đại tá, ngài có nói chơi không? Tôi sanh ra, lớn lên, sống ba mươi lăm năm tại non nước nầy giữa cha mẹ, thân nhân, bạn bè… và bây giờ ngài cho tôi hai tiếng đồng hồ để từ bỏ tất cả… Xin ngài hãy nói là ngài nói chơi, chuyện này không có thật…”
Nước mắt tôi ứa ra và chắc là tôi có vẻ bi thương của một con thú sắp chết nên vị Đại tá rộng lượng nhìn tôi:
“Tôi biết tình cảm của bà. Thôi bà hãy dẫn con về và ngày mai trở lại. Ngày mai, bà có nghe rõ không? Chuyện đầu tiên bà thức dậy ngày mai là cùng ba con lên xe đến đây. Tôi sẽ gởi người trung sĩ này đến nhà bà sáng mai”.
Tôi về nhà và cả nhà bắt đầu khóc. Tôi đi lên đi xuống thang lầu, mở các hộc tủ ra rồi đóng lại, ra sân thượng nhìn chậu cúc héo queo, xuống nhà bếp ngồi lên bộ ván ngựa, vô nhà tắm rờ rờ cái lon múc nước, ra phòng khách nằm lên võng đưa kẽo kẹt… Tôi như người mộng du, làm tất cả những hành động vô nghĩa đó với tiếng khóc hụ hụ.
Ba giờ chiều tôi gọi điện thoại cho vị Đại tá biết là vì tôi bị xúc động nên đã động đến cái thai. Hiện giờ tôi đang ra huyết và Bác sĩ cấm không cho tôi di chuyển cho đến ba ngày sau. Dĩ nhiên vị Đại tá không dám giỡn với tánh mạng người khác nên phải đồng ý cho tôi thêm ba ngày nữa. Tôi không nghĩ là sau ba ngày đó tôi còn có được một giọt nước mắt nào nữa trong cuộc đời.
Ba má tôi không đi vì tôi có người anh đi tập kết: ông bà chờ sự trở lại. Anh rể tôi không đi vì là sĩ quan Cộng hòa: sợ mang tội trốn lính. Chị tôi không đi vì theo chồng.
Ba đứa cháu trai theo tôi vì sợ sẽ phải bị đày đi lính. Một đứa cháu gái theo tôi vì sợ sẽ bị gả ép cho thương phế binh Cộng sản.
Vì thế ba ngày sau tôi mang một bụng bầu tám tháng và bảy đứa nhỏ lên phi trường. Vị Đại tá nhìn tôi như nhìn con quái vật:
“Xin lỗi bà, theo giấy tờ thì tôi chỉ có quyền cho bà và ba đứa con của bà đi. Hiện tại bà có tới bảy đứa! Tôi thật không thể giúp bà”.
Khi người ta phải phấn đấu cho sự sống chết thì can đảm và khôn ngoan ở đâu bất chợt hiện ra. Tôi nhẹ nhàng nói:
“Tôi hiểu thưa Đại tá. Tôi không trách ông. Nhưng đây là những đứa cháu tôi nuôi từ nhỏ giống như con tôi vậy. Nếu ngài không cho chúng đi thì mẹ con tôi cũng xin ở lại”.
Vị Đại tá bối rối nhìn tôi. Có lẽ ông đã biết rằng rồi thì Việt Nam sẽ mất, rồi thì một làn sóng người sẽ cuồn cuộn ra đi. Sớm một vài ngày, bốn đứa trẻ này có thấm gì đối với số người đang rần rộ chen lấn ngoài kia. Ông thở dài, ngồi xuống ghế ký cái công văn “eight months pregnant wife and seven children of US citizen need to be evacuated” rồi đưa cho tôi. Chúng tôi theo dòng thác người nhớn nhác ra đi.
Chúng tôi tới Camp Pendleton ngày 5 tháng 5 năm 1975. Anh đang đóng quân ở Ferndale, một tỉnh lẻ nhỏ nhắn hiền hòa chỉ có bảy ngàn dân, cách San Francisco sáu tiếng đường xe về hướng Bắc. Lúc đó chiến tranh lạnh giữa Hoa Kỳ và Nga Xô vẫn tồn tại nên đây là một căn cứ hải quân rất quan trọng nằm trên một ngọn đồi cao ngó ra biển. Các đài radar tối tân được đặt cùng khắp để theo dõi các tàu ngầm xâm phạm bất hợp pháp vào hải phận Mỹ và California.
Khí trời California lúc đó là 75 độ mà mọi người lạnh cóng. Ðêm thứ hai tại camp, anh lái xe một lèo 16 tiếng để đến đón mẹ con tôi. Mười một giờ khuya một người lính Mỹ đến lều để dẫn tôi lên văn phòng nơi anh đang làm thủ tục.
Bạn có biết lúc đó tôi giống ai không?
Không Giống Ai Hết!
Ðây là một người đàn bà 36 tuổi, tóc hơi dính chùm lại vì cát bụi, mặt hỏm vào, gò má bị nám, mặc một cái áo dài xanh bên hông chỉ gài được một nút ở dưới nách vì thai bụng quá lớn, ngoài khoác một áo bầu thùng thình màu trắng, đầu trùm cái mền xám cột thắt dưới cằm, chiều dài mền thả phấp phới sau lưng. Le lói hơn nữa là người lính Mỹ trẻ thấy tôi run cầm cập nên cởi cái áo lính trận ra, trước mặt đầy những túi để dao găm, lựu đạn v.v… và trùm lên tôi. Tôi bước vào căn lều. Bàn làm việc nằm cuối phòng và anh đang đứng cúi xuống ký giấy tờ.
Chưa bao giờ trong đời tôi lại bước những bước chân nhẹ nhàng, nặng nề, tủi hổ, hoang mang, giải thoát, run sợ như lúc đó. Ðây là lúc bắt đầu cho những ngày tươi sáng với sum họp thương yêu, với nhà lầu chọc trời, với ngựa xe rộn rã, với tương lai đại học hay là lúc chấm dứt cho dòng sông Hậu hiền hòa với hàng dừa nặng trái, lúc từ giã những hàng me xanh thân yêu Trần Quý Cáp, lúc quay lưng lại với bến Ninh Kiều đằm thắm xinh tươi, lúc quì lạy cha mẹ quê hương nói lời vĩnh biệt?
Tiếng bước chân tôi làm anh quay lại. Anh bước tới ôm lấy tôi. Tôi cố gắng để khỏi ngất đi, quì xuống sàn nhà, tay ôm lấy mặt và nghẹn ngào: “Oh My God honey, I lost my family, I lost my country, I lost everything!” rồi tôi khóc nức nở. Anh quì xuống ôm đầu tôi. Anh cũng khóc. Tất cả người Mỹ trong phòng đều rưng rưng.
Ngày 13 tháng 6 năm 1975 tôi sanh cháu Jimmy. Tháng 9 tựu trường, tôi gởi hai đứa nhỏ nhất cho cô bạn, đi làm phụ giáo lớp một trường tiểu học Ferndale, hai đô la rưỡi một giờ.
Hè 1976, tôi đứng bán hot dog trong hội chợ và ba thằng lớn thì đi dọn rửa phân ngựa trong trường đua. Lúc đó Chánh phủ Mỹ còn giàu nên cứ hai năm là các quân nhân được đổi tới một trạm binh khác. Tôi thấy tụi nhỏ rất buồn và sợ rằng sự dời chỗ thường xuyên sẽ làm tụi nó hụt hẫng vì xa bạn nên khuyên anh giải ngũ. Và chúng tôi dọn xuống miền Nam California, tỉnh La Habra.
Tôi thì để tất cả sự nghiệp lại Việt Nam, anh thì trước khi biến cố Việt Nam xảy ra, đã bị thua lỗ tất cả vốn liếng trong một vụ hùn hạp mở tiệm in với một nhóm dân sự nên chúng tôi hoàn toàn… sạch sẽ. Khi đi mướn nhà ở đường Dexford, La Habra, chúng tôi chỉ dẫn theo bốn dứa nhỏ nhất, hai trai hai gái. Chủ nhà là một người đàn ông Mỹ dễ thương, khi biết anh vừa giải ngũ thì rất vui vẻ nói:
“Ô, căn nhà nầy có ba phòng lớn, thật là lý tưởng cho gia đình ông bà với hai trai hai gái. Tôi rất vui lòng cho ông bà mướn”.
Chúng tôi dở khóc dở cười. Anh là người ít nói và chậm chạp nên tôi bèn duyên dáng cười cười nhìn ông
“Thưa ông, nếu tôi nói với ông là chúng tôi có tám đứa con thì ông có tin chúng tôi không?”
Lần nầy thì chủ nhà nhìn chúng tôi dở khóc dở cười. Ông ngẫm nghĩ một lát rồi nói:
“Thôi được, tôi đồng ý cho ông bà mướn. Mỗi tháng tôi sẽ đích thân đến thâu tiền nhà. Hy vọng là mọi sự sẽ tốt đẹp”.
Ông đâu có biết rằng tên tôi là Lệ Hoa nghĩa là một bông hoa mỹ lệ, đẹp đẽ chớ chẳng phải là nước mắt của hoa nghe bạn. Vì thế tôi thích trồng bông, thích vườn tược. Tôi sanh ra và lớn lên ở Cần Thơ, bà con sống ở Ô Môn, Thới Lai, Phong Ðiền, Cờ Ðỏ nên mỗi mùa Hè chị em tôi thường về vườn đi cầu khỉ, chèo ghe, bắt ốc gạo, hái vú sữa. Cái chất vườn Nam Bộ đã ăn sâu vào máu tôi nên hiện giờ nhiều người còn cho rằng tôi không có vẻ gì là sang trọng như người Việt Nam sống ở Mỹ. Biết sao!
Sau khi dọn vô, tôi và các con hì hục cuốc đất, đổ phân và biến cái sân trống rỗng của ông thành ra một cái vườn đầy hoa vạn thọ (đây là để honor má tôi vì bà rất thích bông vạn thọ). Tháng sau khi ông tới thu tiền nhà thì ông ngẩn ngơ và phán một câu, “Tôi không cần phải tới tận nhà thâu tiền nữa, bà cứ viết check gởi cho tôi là được. Cám ơn bà về những bông vạn thọ”.
Một vài người quen xúi tôi xin đi làm waitress vì nghề này tiền lương chẳng bao nhiêu nhưng tiền tip thì… ăn chết không hết. Trời ơi tôi nghĩ tới cái viễn cảnh, anh sẽ đi làm, tôi sẽ đi làm lại còn tiền hưu trí từ quân đội nữa thì quả nhiên là… ăn chết không hết! Tôi vội vàng vác đơn tới tiệm Red Lobster gần nhà xin việc.. Người manager hỏi bà có làm waitress bao giờ chưa? Dạ chưa. Bà có khi nào làm chủ nhà hàng chưa? Dạ chưa. Cứ hỏi…bà có… bà có… bà có…. Cứ trả lời… dạ chưa… dạ chưa… dạ chưa… và thế là tiền ăn chết không hết chỉ là mộng ảo.
Tôi mua tờ báo thấy rao là “Chương trình CETA của Chánh phủ sẽ trả tiền trường cho một năm học để giúp bạn học các nghề văn phòng như thơ ký, kế toán, phụ tá hành chánh v.v… Mỗi tuần chương trình sẽ tặng bạn bốn chục đô để di chuyển và sau khi tốt nghiệp sẽ kiếm việc làm cho bạn…”. Tôi nói với anh đây chắc hẳn là một sự lường gạt vì làm gì lại có sự tốt đẹp như thế. Anh thì lớn lên đã nhập ngũ, phần nhiều thời gian nếu không lang thang trên biển cả thì cũng đóng quân ở một xứ khác ngoài Mỹ nên đối với xã hội dân sự cũng có chút bỡ ngỡ. Tôi hăng hái tới cơ quan xin vào chương trình thơ ký. Người phụ trách chương trình thấy tôi là người tị nạn, chồng lại là cựu quân nhân, hình dạng có vẻ nghèo nên thương tôi. Sau khi nói chuyện và đọc cho tôi viết một đoạn Anh văn, bà nhận tôi vào chương trình thơ ký. Khi tôi lui cui làm giấy tờ, bà dịu dàng hỏi:
“Bà có giỏi toán không? Làm nhân viên kế toán thì nhiều lương hơn thơ ký thường và rất dễ kiếm việc làm”.
Tôi không dám trả lời vì không biết “toán” của bà thuộc về loại gì nên ngập ngừng:
“Dạ tôi cũng không biết chắc”.
Bà lấy ra một bài thi toán đưa cho tôi. Ái dà, bà ơi. Có phải là bà đang chà đạp cái trường Gia Long của tôi không? Tôi là học sinh đệ nhất A đây nha bà, dù tôi không được như bà Dương Nguyệt Ánh ngày nay phát minh ra cái gì là bom tìm nhiệt thì ba cái 25% của 100 là bao nhiêu, 1/3 của 75 có lớn hơn 2/3 của 40 không v.v.. là cái chuyện nhắm mắt cũng trả lời được.
Một năm sau tôi được giới thiệu vào làm cho Công ty nhà hàng Dennys, bộ phận kế toán xuất nhập.
Làm việc bảy năm tại Dennys tôi đã học được biết bao điều về gia đình, xã hội, dân tình Mỹ. Trong những buổi ăn trưa tôi học đan áo, học móc khăn, học cách nấu món ăn Mỹ, Ý, Tây Ban Nha, học cách dạy con, cách đối xử với chồng, học cách không bao bạn ăn để rồi kể lể khi giận hờn nhau, mà mạnh ai nấy móc túi trả phần mình và tình bạn thì không bao giờ sứt mẻ.
Những người bạn ngoại quốc mới này giúp tôi hoàn thiện ngôn ngữ, hiểu rõ những tiếng lóng, sử dụng thành thục những thành ngữ, trả lời điện thoại một cách chuyên nghiệp.
Giúp tôi biết nói cám ơn với con cái. Biết dằn lòng không mở thư của chúng ra kiểm soát. Biết chỉ dẫn chúng tự thực nghiệm cuộc đời hơn là bao che lầm lỗi. Biết nói xin lỗi khi phạm phải sai trái.
Biết văn minh không phải là mặc áo hở ngực hở mông mà là tuân thủ theo Hiến pháp. Biết tự do không phải là mạnh ai nấy làm mà là kính trọng nhân vị của chính mình và của đồng loại. Biết thành công là nhờ vào sự mẫn cán, học hỏi, cầu tiến chớ không nhờ vào nịnh bợ lấy lòng.
Biết các sắc dân khác cũng đầy thương yêu và nhiều đau khổ. Biết kính trọng người Mỹ đen. Biết thương yêu người Mễ nghèo.
Họ cười lăn lóc với cái accent Á Ðông của tôi nhưng họ không chê tôi dốt nát. Họ chỉnh sửa lại những tiếng tôi dùng sai trật nhưng không có ý khinh khi. Họ không đánh giá tôi cao vì tôi đến từ gia đình trưởng giả như tôi khoe khoang. Họ không nhìn tôi thấp kém vì tôi thuộc third world country như báo chí thường đăng tải. Họ nhìn tôi giống như họ, một người vợ, một người mẹ đang cố gắng kiếm tiền một cách lương thiện để giúp chồng nuôi dạy đàn con.
Chín mươi phần trăm nhân viên kế toán là đàn bà. Ðây là những bà mẹ, bà vợ ban ngày làm toàn thời gian, chiều về nấu ăn chăm lo con cái, cuối tuần giặt giũ, lau chùi nhà cửa, dạy con làm bài tập, đi chợ, đi chơi với gia đình. Họ sống bình thường mà còn giỏi hơn tôi là đằng khác.Vậy mà khi xưa tôi cứ nghĩ đàn bà Mỹ là đồ bỏ. Tôi mang tội khinh người. Khi ở Việt Nam tôi ít khi nào giặt quần áo cho tôi, cho chồng, cho con. Tôi chưa khi nào lau chùi cầu tiêu, thức khuya dậy sớm cho con bú, kiểm soát từng bài văn điểm toán cho con. Tất cả đều có anh tài xế, chị vú, anh bồi, chị bếp, cô giáo dạy kèm. Biết bao người đã than trời trách đất rằng sống ở đây sao mà cực quá, xã hội gì mà sướng đâu không thấy chỉ thấy cái gì cũng tự mình làm, thời gian hưởng thụ chẳng bao nhiêu mà làm việc thì quay tròn như chong chóng chẳng lúc nào ngừng. Cực ơi là cực. Chỉ chăm chăm muốn về Việt Nam hưởng thụ.
Bạn ơi, bạn hãy dừng chân một bước. Bạn hãy mỉm cười cầm từng món đồ dơ bỏ vào máy giặt, nhìn vết bẩn trên chỗ đầu gối và hình dung lại gương mặt mếu máo đáng yêu của con nhỏ khi té quị xuống bãi cỏ, nhớ lại ánh mắt chờ mong tin tưởng của con khi mẹ đến đỡ lên.
Bạn hãy nhìn cả nhà húp sột soạt chén canh bầu, cùng chia nhau miếng sườn nướng, cuộn chả giò. Bạn hãy cúi xuống đứa bé đang nở nụ cười ngây thơ chờ mong bình sữa bạn đang đu đưa trước mặt. Bạn hãy vừa xào món tàu hủ vừa trả lời thằng con đang cắm cúi làm bài tập bên kia bàn là Los Angeles không phải là thủ phủ của California con ơi. Thủ phủ của CA là Sacramento hoặc square of three is not three, it’s nine. Và năm phút sau đứa con vui vẻ đứng dậy: “Thank you mom (or dad). My home work is done”.
Ðây mới chính là lúc bạn sống, là lúc mà bạn xuyên thủng qua lớp giáp để linh hồn và huyết nhục bạn và gia đình cùng hòa quyện vào nhau. Ðây chính là lúc hột mè trí tuệ nảy nở trong các con do bạn gieo xuống, lúc hạt giống tình yêu thẩm thấu vào linh hồn chúng do bạn cày cấy vào. Chúng sẽ lớn lên với ân cần bạn gởi vào chén cơm, với giúp đỡ bạn sẻ chia trong bài tập, với thương yêu bạn vuốt thẳng áo quần, với mồ hôi bạn chảy dài trong trận đấu. Và vợ chồng bạn có cùng một trận tuyến, cùng một hướng đi.
Tôi đã từ bỏ quê hương điêu tàn, đã quay lưng với tương lai đen tối. Tôi đã chọn một nơi khác để cất nhà, một miếng đất khác để gieo hạt. Tôi đã dùng nước sông của họ để tưới tẩm, dùng đồi núi của họ để chăn nuôi. Tôi đã dùng chất xám của họ để tiến thân, dùng lòng tốt của họ để sống còn. Tôi không bao giờ quên dòng máu Việt trong tôi nhưng tôi sẽ không ngồi đó nhìn non nước này, dân tộc này với một ánh mắt hờ hững, dửng dưng, một thái độ vô ơn, rẻ rúng. Tôi sẽ không coi đây chỉ là một mảnh đất tạm dung và ngồi khóc thương cho một khung trời đã mất, mơ tưởng về một dĩ vãng đã tàn phai.
Tôi sẽ hòa vào các chủng tộc khác nhau, rơi lệ khi thấy tòa nhà chọc trời sụp đổ, đau thương khi nhìn xác lính được chở về, hân hoan khi nghe bài quốc ca trong các cuộc tranh tài. Tôi sẽ dạy các con cùng tôi nhận nơi này làm quê hương, sẽ đem tất cả khả năng lao động hay học vấn đóng góp vào sự thịnh vượng chung của quốc gia này.
Thay vì trồng cây cổ thụ tạm thời trong một cái chậu nhỏ để nó chỉ được lớn èo uột trong bóng râm, tôi và gia đình muốn đào một hố sâu, đổ đầy phân bón, tưới tẩm nó với tất cả ân cần, săn sóc nó với tất cả sức lực để cho rễ mạnh nó ăn sâu vào lòng đất, cho tàn xanh nó tỏa rộng khắp không gian. Chúng tôi không tạm dung. Chúng tôi mọc rễ và yêu thương quê hương này. Rồi một ngày nào đó, ở bên kia góc trời có cần tới một bóng mát bình an, chúng tôi sẽ chiết bớt một nhánh cổ thụ đem về…
Chúng tôi chỉ có thể làm như thế khi chúng tôi nhận nơi này làm quê hương.