SACRAMENTO, California (NV)
– Hôm Thứ Sáu, 18 Tháng Mười Hai, Thượng Nghị Sĩ Tom Umberg trình nghị
quyết tưởng niệm cựu Đại Tá Paul Jacobs, cựu hạm trưởng của chiến hạm
USS Kirk 1087, qua đời ngày 8 Tháng Mười Hai.
Theo thông cáo của văn phòng Thượng Nghị Sĩ Umberg, ông Jacobs là một
vị ân nhân lớn đã cứu 32,000 người Việt tị nạn trên Biển Đông khi cuộc
chiến Việt Nam chấm dứt vào ngày 30 Tháng Tư, 1975.
Là người đại diện cho Địa Hạt 34 của California, nơi có nhiều cư dân
gốc Việt sinh sống, Thượng Nghị Sĩ Umberg trình Nghị Quyết Tưởng Niệm
Cựu Đại Tá Hải Quân Paul Jacobs tại Quốc Hội California để vinh danh
hành động anh hùng và nhân đạo của ông.
Thông qua bản Nghị Quyết, thượng nghị sĩ ghi lại những nét chính
trong cuộc đời hào hùng của ông Jacobs, và đặc biệt nhấn mạnh sự kiện
lịch sử cứu người Việt tị nạn của ông.
Khi chiến tranh Việt Nam kết thúc vào Tháng Tư, 1975, Hạm Trưởng
Jacobs chỉ huy tàu USS Kirk như một phần của phi đội máy bay Nam Việt
Nam chở đầy đàn ông, phụ nữ và trẻ em đi theo trực thăng quân đội Hoa
Kỳ. Ông đã cho phép họ hạ cánh và di tản cho những người đang tìm kiếm
nơi trú ẩn an toàn trên tàu của ông. Ông chỉ huy các hạm viên đẩy trực
thăng lên trên để có thêm chỗ trú, cứu sống hàng trăm người đang tuyệt
vọng.
Sau những hành động anh dũng đó, Hạm Trưởng Jacobs được lệnh trở về
Việt Nam cùng với tàu USS Kirk để cùng Hải Quân Việt Nam dẫn những người
còn sót lại đến Philippines an toàn, giúp hơn 32,000 người tị nạn trên
những con tàu đó tìm được tự do và cuộc sống mới.
Thông cáo của Thượng Nghị Sĩ Umberg viết: “Sự ra đi vào ngày 8 Tháng
Mười Hai của một cư dân California xuất sắc, một Cựu Đại Tá Hải Quân Hoa
Kỳ Paul Jacobs với bao thành tích tuyệt vời và những hành động anh hùng
đã khiến ông được kính trọng và ngưỡng mộ bởi đồng đội và vô số cá nhân
đã được ông cứu giúp. Sự ra đi của ông đã mang nỗi đau buồn và tiếc
thương vô cùng cho người dân khắp tiểu bang California.”
“Cuộc đời mẫu mực và thành tích lừng lẫy về nghĩa vụ quân sự và nhân đạo của ông sẽ được ghi nhớ mãi,” thông cáo viết.
Văn phòng Thượng Nghị Sĩ Umberg cho biết tang lễ của cựu Đại Tá Paul
Jacobs sẽ được tổ chức vào Thứ Bảy, 19 Tháng Mười Hai, tại nhà thờ
Pioneer Bible Church ở Somerset, California.
Vì đại dịch COVID-19, tang lễ của ông sẽ được phát trực tuyến qua Zoom.
Nói với nhật báo Người Việt, ông Tyler Jacobs, con trai
út của cựu Hạm Trưởng Paul Jacobs, cho biết tang lễ sẽ bắt đầu lúc 11
giờ sáng, và cộng đồng có thể xem trên Zoom qua đường dẫn zoom.us/j/96969503159?pwd=di9hdEZnVm9UcG8rMjNQTVY1VGlPUT09.
Đến ngày 30 Tháng Tư, 2021, gia đình Jacobs cùng cộng đồng gốc Việt
sẽ tổ chức lễ tưởng niệm cho cựu hạm trưởng ở San Diego và rải tro cốt
của ông ra biển tại đây.
Thượng Nghị Sĩ Tom Umberg sẽ trao bảng Nghị Quyết Tưởng Niệm cho gia đình Jacobs tại lễ tưởng niệm vào ngày 30 Tháng Tư, 2021.
Thuở
nhỏ dường như tôi không có học lớp mẫu giáo, hay có thể có mà tôi không
biết. Tôi chỉ mang máng nhớ có học trong một ngôi trường gạch nhỏ gần
Cây Trôm cách thành phố Phan Thiết khoảng 5, 6 cây số gì đó về hướng Ma
Lâm, nhưng không biết đó là lúc học sổ hàng rào hay học đánh vần. Tôi
chỉ nhớ trường nằm phía Tây liên tỉnh lộ 8 đi Ma Lâm.
Thời
đó, tôi không biết Ma Lâm là gì, liên tỉnh lộ 8 là gì, chỉ biết trường
nằm không xa cái bàu nước mà mỗi lần đi học, gặp ông thầy, đám trẻ tụi
tôi đều trịnh trọng ôm sách cúi đầu chào.
Chiến
tranh, chả nhớ năm nào, khoảng 1946, 1947 hay 1948 gì đó, thằng nhóc có
biết mẹ gì đâu, chỉ biết chạy theo cha mẹ, chạy theo dòng đời loạn lạc,
rày đây mai đó, cho đến một hôm, ông già liên lạc được một ông chú ruột
đang ở thành phố, ông dắt tôi về Phan Thiết giao cho ông chú nhờ nuôi
thằng nhóc, cho thằng nhóc đi học. Thế là tôi từ tên học trò nhà quê
chuyên đá dế rơi tòm vào nhà thờ Tin Lành Phan Thiết trước Chùa Ông. Chú
ông già tôi chính là cụ mục sư Lê Khắc Chấn.
Tôi
ở trong nhà thờ, hàng ngày đi học chung với hai thằng em chú bác khác
tên Lê Khắc Minh và Lê Khắc Quang (nay đã bò qua 6 bó, sống ở Cali). Ba
thằng nhóc tôi đi học ở trường tiểu học Đức Nghĩa. Tại đây, ngoài hai
nhóc con ông chú, tôi còn nhớ duy nhất thằng bạn thời tiểu học là Lê
Giao, sau này cùng chui vô Phan Bội Châu với tôi. (nay dường như Lê Giao
ở Hòa Lan).
Ngày
đến trường xếp re dưới cây thước bảng gõ cọc cọc trên bảng, tên của ông
thầy nay đố mà tôi nhớ, chiều về cả đám lại ngán cây chổi lông gà của
ông tôi, tức cụ mục sư Lê Khắc Chấn. Cụ rất nghiêm, lười biếng, lạng
quạng là ăn chổi… Cũng vì “ba đứa chúng mình” gây lộn vì chuyện gì đó mà tôi cóc nhớ, nên cả ba nhóc bị một trận chổi phạt “tưng bừng” của ông cụ…
Sau
trận đòn này, nằm đêm tôi nhớ những con dế, những gốc rạ, những đêm
trăng vằng vặc, những ngày câu cá bên bờ suối… và tôi xin phép ông tôi
để về quê trở lại. Tôi rời trường Đức Nghĩa phóng về Trinh Tường ở với
Bà Nội. Nhà bà Nội tôi cách trường Trinh Tường chừng vài đám ruộng. Tôi
vô trường này bắt đầu từ lớp nhì.
Trường
này được coi là “giao lộ” giữa thành phố và nông thôn, nửa quê, nửa
tỉnh, thành phần học sinh từ thôn quê có, từ thành phó cũng có. Thằng
bạn duy nhất mà tôi nhớ tên là Huỳnh Ngọc Phẩm, sau này cũng chui vô
Phan Bội Châu cùng lớp tôi. Phẩm cũng là tên học rất ngầu, viết chữ đẹp,
khi học ở Tứ 3, tôi làm báo tường, Phẩm là tên viết bản in.
Tôi
và Huỳnh Ngọc Phẩm vô Phan Bội Châu một lượt. Tôi nhớ như in ngày thi
vô đệ thất Phan Bội Châu, dù bà Nội tôi biết tôi học vào hạng “siêu nhất nhì trường làng“, bà cũng không tin thằng nhóc con nhà nghèo “không cha, không mẹ” như tôi lại có thể lọt vô cái nhà trường “lừng danh”
như Phan Bội Châu. Bà nghĩ trên 2 ngàn thằng nhóc, đa số là con cái
tinh hoa con nhà giàu, sẽ bít cửa tiến thân của thằng cháu nhà quê của
bà. Bà mua một con gà trống tổ chảng, làm thịt, cúng vái. Bà vái cái gì
đố tôi mà biết, lâm râm cái chi bố tôi mà hay…
Mà
linh thiệt! Thi xong, tôi về nhà hồi hộp! Vô đệ thất Phan Bội Châu thuở
ấy như ngày nay ngồi trong phi thuyền chờ đếm 10 xuống đến zero! Hôm
sau xuống trường Nữ Phan Thiết xem dán bảng kết quả, tai tôi lùng bùng
thấy tên mình đứng thứ 17 trong số 50 tên nhóc chằng chịt những Đinh, Lê
Lý, Trần, Đặng, Nguyễn… chút nữa quên, Mai, Lại…. Bố khỉ! Viết thiếu
hai tên Mai Thiết, Lại Thế Thiết sợ nó nói tôi kỳ thị họ hàng…
(Tôi sau này là dân Bộ Binh, hai thằng này, một thằng là dân Pháo binh Dù, một thằng là mũ nâu BĐQ thứ hét ra khói, ra lửa…)
Trở
lại chuyện xưa. Khi thấy tên mình trên bảng đậu, tôi xem lại năm sinh,
sợ lộn tên thằng phải gió nào mà mừng hụt thì quê, thấy đúng là chàng,
tôi phóng xe đạp cùn, chạy một mạch về nhà…
– Nội! Nội đâu rồi! Có cái này hay lắm Nội!
Nội tôi bỏ nồi cơm sau bếp bước vội ra:
– Cái gì mà mày la làng la xóm vậy?
– Con đậu vô đệ thất Phan Bội Châu rồi!
– Thiệt không con?
Nội tôi mừng rỡ, song hỏi lại lần nữa .
– Thiệt không con? Thiệt không con?
– Thiệt mà Nội! Con coi đúng tên con, đúng họ con, đúng ngày sinh con mà!
Nội
tôi ôm tôi vào lòng. Bà mừng, bà hãnh diện và cảm động lắm. Bà nhớ
những đêm tôi học bài bằng đèn dầu, nhà không có bàn học, lấy bộ ván làm
bàn, chân quỳ dưới đất viết bài, hay nằm sắp trên ván làm bài. Chuyện
tôi vô đệ thất Phan Bội Châu là điều ngoài sự mơ ước trong đầu bà. Rồi
bà chợt buột miệng:
– Chắc nhờ Nội cúng con gà trống van vái Trời Phật phò hộ đó con!
–
Con đâu biết Nội! Nhưng Nội có biết không? Trong trường con học ngầu
lắm, bộ Nội tưởng con bết hả! Con và thằng Phẩm là hai đứa nhứt nhì
trong lớp đó Nội! Con mà ngu thì con gà trống làm gì nổi để đậu được
Nội!
– Thôi đừng cãi nữa! Thằng cứng đầu! Đi ăn cơm đi! Mai Nội cho tiền mua sách vở và quần áo để vô trường!
Ngày đầu tiên nhập học, lớp đệ thất mới toanh của tôi là một tập hợp “loạn xà ngầu”
của những thằng nhóc quê có, tỉnh có, tuổi tác, vóc dáng khá cách biệt.
Già nhất lại là hai tên nhà quê lên tỉnh học, tên nhỏ con nói tiếng trọ
trẹ giọng Huế làm tụi tôi chú ý tên Hoàng Công Bình, đến từ đầu cầu Phú
Long.
Tên
cao thủ nhà quê, to, cao nhưng đạo mạo đáng nể tên là Huỳnh Ngọc Ghênh,
đến từ Mũi Kê Gà gần Bình Tuy. Ông thầy hướng dẫn đầu tiên tên gì, tôi
đố mà biết, “ra lệnh” bọn tôi bầu chọn trưởng lớp và phó lớp. Tụi tôi ngó nhau, “nhất trí” đồng loạt chỉ tên to con, đạo mạo đáng nể:
– Anh Huỳnh Ngọc Ghênh làm trưởng lớp thầy!
Ông thầy ghi vào sổ Thất 3: Trưởng lớp Huỳnh Ngọc Ghênh.
– Còn phó lớp, các em chọn ai?
Cặp mắt mấy thằng nhóc rà qua lại như “radar rà mìn“, rồi chả biết sao, cả đám đồng loạt:
– Anh Hoàng Công Bình thầy!
Ông
thầy lại lui cui ghi Hoàng Công bình làm phó trưởng lớp dưới tên Huỳnh
Ngọc Ghênh. Xong rồi, thầy giao lớp lại cho hai ông Trưởng, Phó mới
toanh rồi ra khỏi lớp, đi về phòng ông hiệu trưởng, tôi quên mất, dường
như là thầy Lê Tá thì phải.
Lớp mới còn ồn ào. Ghênh đứng dậy, lên bục nhìn xuống như một ông tướng cồ lô, ra lệnh:
– Các anh về lại chỗ ngồi! Và giữ trật tự!
Chả
hiểu tại sao cái đám nhóc vô trật tự mới gặp nhau buổi đầu lại tuân
lệnh Ghênh răm rắp. Khi Ghênh vừa về lại bàn đầu thì thầy hướng dẫn lớp
trở lại. Như một cái máy mới ra lò, Ghênh đứng dậy và hô lớn:
– Cả lớp đứng dậy!
Như mấy ông nhà binh, cả lớp đứng dậy cái ào để chào thầy. Khi thầy vào ghế ngồi, Ghênh hô: “Ngồi xuống!”
Cả lớp ngồi xuống êm ru. Buổi học đầu tiên bắt đầu, nề nếp, trật tự,
nghiêm trang. Và bọn nhóc Thất 3 tụi tôi dường như đứa nào cũng thấy
mình đổi đời, lớn hơn thêm. Tui bây giờ là một học sinh trung học trường
Phan Bội Châu số một rồi nha! Từ Tiểu học vô Trung học là một nấc mới
vươn lên từ chuỗi đời thơ ấu.
Thời
gian bào mòn đời người trong cõi tử sinh phù du bèo bọt. Thời gian bào
mòn lại không khốc liệt bằng chiến tranh, bom đạn. Chiến tranh đã tàn
phá và cướp đi không biết bao nhiêu tuổi xuân của lớp tuổi chúng tôi,
người ngã xuống giữa chiến trường, người vùi thân trong tù ngục, người
chết giữa biển đông, người ra đi vì bệnh tật…
Lớp
chúng tôi đã đi chung với nhau từ đệ nhất cấp lên đệ nhị cấp, và sau đó
chia tay trước sân trường Phan Bội Châu. Chiến tranh cuốn hút mỗi đứa
vào một lộ trình sinh tử khác nhau. Đặng Hùng đã chết rất sớm khi chưa
rời ghế Phan Bội Châu trong một trận đá banh, đạp đinh và bị “tetanus”
trong năm đệ tứ, Trần Thành Bang chết trận, Đỗ Hữu Vịnh chết bệnh sau 75
tại Việt Nam, Nguyễn Văn Chúc ngồi xe lăn năm 71 khi dắt đại đội hành
quân vướng mìn VC; Huỳnh Ngọc Ghênh, trưởng lớp, ra khỏi Đại Học Huế,
chui vào Thủ Đức, ra trường làm nghề thẩm vấn tù binh tại Trung Tâm Thẩm
vấn tù binh Biên Hòa, sau 75 bị đưa ra Bắc và chết trong tù. Tin anh em
tù Bắc cho hay Ghênh bị VC hành quyết trong một vụ trốn trại, giờ không
biết mồ mả anh ở phương nào.
Hiện
nay tôi không biết chính xác lớp tôi ai còn, ai mất. Người trưởng lớp
Huỳnh Ngọc Ghênh đã ra đi, ông phó lớp Hoàng Công Bình, sau thời gian
dài làm hiệu trưởng dưới chế độ đen thui… nay đã về hưu. Tôi không biết
làm sao có thể đếm được anh em ai còn ai mất. Đại gia đình Phan Bội Châu
có cái truyền thống rất là hay, là cứ hai năm tổ chức hội ngộ một lần,
và trong các cuộc hội ngộ đó, mình gặp bạn cũ, người xưa, mò tin anh em,
bè bạn… Vui có, buồn có, nước mắt có, hạnh phúc có… Cái gì cũng có,
nhưng người muôn năm cũ thì chắc không còn gì “để nhớ để thương“!
Hè
năm 2006, Lại Thế Thiết và phu nhân không biết đi đâu lại lạc đến chốn
Vancouver và ghé nhà thăm tôi. Trong bữa cơm trưa tại nhà, hai đứa tôi
có “điểm danh” những anh em trong lớp, và Thiết không ngờ lớp
mất quá nhiều. Thôi thì còn được đứa nào mừng đứa đó. Nếu Hội Ngộ PBC
2008 tại DC mà “hàng thần lơ láo” lớp tôi chỉ có mình tôi giữa hàng bánh căn mì Quảng… thì làm sao tôi nuốt cho vô. “Hỡi cô ngồi đổ bánh căn! Cô ngồi múc bột biết chăng tôi buồn!“
Mùa Xuân tóc trắng mắt cay
Nghìn xưa còn đó những ngày liệt oanh.
Đang
ngồi làm việc (tại nhà) thì thấy người bạn post lên Facebook bài báo
“Nhật Báo Người Việt qua 43 Năm.” Mới đó mà tôi đã rời “Người Việt” gần 4
năm rồi. Đây là nơi tôi làm việc lâu nhất kể từ khi sang Mỹ; tổng cộng
cũng khoảng 13 năm. Nói “tổng cộng” là vì có một khoảng ngắt ở giữa, khi
tôi sang làm việc cho đài Á Châu Tự Do, từ 2007 đến 2009. Người post
bài lên Facebook sau đó lại comment: “Viết stt về Người Việt đi, ham
viết về phim diễm tình không vậy.” Ừ, thì viết. (Mà nói cho rõ, nhé: Tớ
chỉ điểm phim một lần, về cờ vua, chứ không phải diễm tình. Hẹn thứ
“lăm” nói chuyện phải quấy.) Tôi vào Người Việt lúc đầu là làm một
việc khác, không dính gì đến báo chí. Nhưng cái khu vực mà tôi thích
lãng vãng nhất là khu vực của ban biên tập. Trong này toàn “những người
nổi tiếng”, và đặc biệt là có rất nhiều người mà tôi nghe tên từ nhỏ,
qua ba tôi và bác tôi, bác Phạm Phú Minh. Lúc đó, khoảng 2002, nhiều
phóng viên của Người Việt, nhất là các “cụ”, vẫn chưa biết dùng
computer. Họ viết bản tin bằng tay, viết ra giấy, rồi có người đánh máy
lại. Tôi vẫn nhớ như in, và rất thích, hình ảnh ấy. Lúc đó tôi vẫn còn
tin rằng, muốn viết hay phải viết… bằng tay! Công việc của tôi lúc đó
tại tờ báo là tham gia vào nhóm kỹ thuật, dưới sự hướng dẫn của anh Phan
Huy Quang, để “vi tính hóa” công việc của tờ báo. Anh Quang rất giỏi
IT. Một người bạn của tôi nói “level” của anh ấy gần như ở mức “khoa học
gia.” Anh làm cho một công ty lớn, và đến Người Việt để giúp thực hiện
chiến lược computerizing công ty Người Việt theo yêu cầu của chú Phan
Huy Đạt, anh trai của anh Quang. Nói đến chiến lược của một công ty,
không thể không nhắc đến người đứng đầu công ty ấy: nhà báo Đỗ Ngọc Yến.
Chữ “đứng đầu” tôi dùng ở đây không nhất thiết phải là người quản trị
công ty ở cấp cao nhất, mà theo nghĩa là linh hồn của tập thể. Tôi
trở thành người của ban biên tập cũng là từ ông Đỗ Ngọc Yến và con gái
ông, Đỗ Bảo Anh, lúc đó đang viết cho tờ Orange County Register, và nay
đang viết cho The Los Angeles Times. Không nhớ vì duyên cớ gì, tôi
hay đi cùng Bảo Anh đến những sự kiện báo chí, cho dù lúc đó tôi là
người kỹ thuật. Một hôm, gần tối, Bảo Anh rủ tôi đến nơi vừa xảy ra một
sự kiện rất gây chú ý trong cộng đồng: Cảnh sát di trú vừa bắt ông Bùi
Đình Thi, một người đến Mỹ theo diện H.O., lý do bắt là vì ông bị cáo
buộc đã tham gia đánh chết bạn tù trong lúc ở tù tại Việt Nam. Khi chúng
tôi đến, ông Thi đã bị bắt đi, chỉ còn lại bà Thi, đang khóc và trong
tình trạng hoảng hốt. Tôi quan sát, rồi tôi hỏi chuyện bà. Tôi dùng chữ
“hỏi chuyện” chứ không phải “phỏng vấn”. Lúc ấy tôi có biết viết báo là
thế nào đâu. Tôi chỉ “hỏi chuyện.” Sau đó tôi và Bảo Anh ra về. Tự nhiên
tôi nghĩ, tôi nên viết câu chuyện này lại. Thế là tôi ngồi vào máy,
viết liền một mạch khoảng 2, 3 tiếng đồng hồ. Sáng hôm sau tôi đưa bài
viết cho Ban Biên Tập. Không nhớ rõ tôi đã đưa nó cho ai và bằng cách
nào. Ban Biên Tập của một tờ báo, theo tôi, là nơi “hách” nhất trong một
công ty báo chí, trong khi tôi là một “thằng kỹ thuật.” Đưa xong, tôi
đi làm chuyện của tôi. Tôi làm việc ở khu vực bên ngoài, cách ban biên
tập một cái vách cao khoảng thước rưỡi. Tôi nghe rõ mồn một cái giọng ồm
ồm của nhà văn Hoàng Khởi Phong, nói trống không: “Địt mẹ, nó viết thế
này thì mấy thằng nhà văn quẳng bút đi là vừa.” Tôi cũng không biết “nó”
là ai, cho đến sáng hôm sau, khi báo in ra. Bài của tôi được đăng nơi
trang nhất tờ báo, mà chúng tôi hay gọi là “trang A1”, ở vị trí thấp một
chút bên tay phải. Bài báo có tựa đề: “Bà Bùi Đình Thi, một tâm hồn đau
đớn bình thản.” Có nhiều người sau đó hỏi tôi tại sao đặt cái tựa như
vậy. Tôi không biết trả lời tại sao, nhưng tôi “cảm” rằng, đó chính là
tâm trạng của bà Thi khi tôi nói chuyện với bà đêm qua. Bài báo này thay
đổi công việc của tôi tại Người Việt. Ông Đỗ Ngọc Yến đến bàn làm việc
của tôi, cười nhẹ nhàng: “Nên mua cho Giao một nhánh hoa hồng cho bài
viết này.” Sau đó, cứ rảnh thì tôi lại viết bài cho Ban Biên Tập. Bài
nào cũng được đăng. Đến một ngày, ông Đỗ Ngọc Yến hỏi: “Giao có thích
vào hẳn ban biên tập không?” Tôi trả lời ngay, không suy nghĩ: “Dạ,
thích.” Vài ngày sau ông lại nói: “Giao suy nghĩ cho kỹ. Ở đây có ban
“sale”, có ban Kỹ Thuật. Giao làm cho ban nào cũng được. Còn vào biên
tập thì… ít tiền lắm.” Hôm sau, tôi trở thành phóng viên của tờ báo, trở
thành đồng nghiệp của các bạn vào trước, rất giỏi và rất “thính” đề
tài, như Vũ Quí Hạo Nhiên (lúc đó đang là sếp bự), Đỗ Tài Thắng. Còn các
“cụ” thì khỏi nói: Vũ Ánh, Lê Thụy, Hoàng Khởi Phong, Hà Tường Cát,
Nguyên Huy, Nguyễn Tuyển, họa sĩ Nguyễn Đồng - Nguyễn Thị Hợp… và nhiều
nữa. Sau này, tôi vẫn hay nghĩ về câu nói của ông Đỗ Ngọc Yến về vụ
“cho Giao một nhánh hoa hồng.” Nội dung bài viết về bà Bùi Đình Thi lúc
ấy có hai luồng ý kiến trong cộng đồng. Có người cho là nội dung bày tỏ
thông cảm cho ông Bùi Đình Thi. Ý kiến này, khi từ miệng của người cực
đoan, thì đồng nghĩa là… Cộng Sản. Người khác thì nói nên cảm thương cho
hoàn cảnh của người vợ. Bối cảnh cộng đồng lúc ấy, và với việc Người
Việt hay bị biểu tình, việc người sáng lập tờ báo khen nội dung bài báo
cho tôi một cảm nhận khác lạ. Về sau, làm việc lâu hơn, nói chuyện nhiều
với các nhân vật “vòng trong” của báo Người Việt, tôi mới hiểu ra. Như
đã nói, công ty Người Việt lúc đó có chiến lược là mọi công việc phải
được thực hiện trên computer. Nhiều ngày liên tiếp, báo in ra bị lỗi về
font chữ. Độc giả phàn nàn nhiều. Nhưng khó chịu nhất là sự phàn nàn
ngay trong nội bộ, từ những người đã quá quen với quán tính cũ, không
muốn thay đổi. Có người từng nói, muốn thay đổi lề thói cũ, bạn cần có
năng lượng của một trái bom nguyên tử. Ví von này không sai. Những người
không muốn thay đổi vịn vào lỗi in trên báo để phàn nàn. Ông Yến nghe
nhiều lần, im lặng không nói gì. Cho đến một hôm, lại có người phàn nàn,
ông Yến đập bàn cái rầm. Tôi đứng ngay đó, thấy cái đập bàn ấy, và cảm
thông vô hạn. Nếu bạn đập bàn bằng cách dơ tay lên thật cao, đập rầm
xuống, thì đó là cái đập bàn của người trịch thượng. Ông Yến thì khác,
khum bàn tay cao hơn mặt bàn chừng 2 tấc, đập bằng các khớp ngón tay,
xuống mặt bàn. Theo cách tôi nhìn, ông biết lỗi in trên vài chục ngàn số
báo trong nhiều ngày liên tiếp là điều khó chấp nhận. Mà ông là “linh
hồn” của tờ báo. Ông có “lỗi” trong đó. Sau cái đập bàn, ông nói rất dứt
khoát với người kia: “Muốn làm điều mới thì phải chấp nhận lỗi. Còn nếu
không làm thì không bao giờ khá. Hãy để yên cho họ [nhóm kỹ thuật] làm
việc.” Sau đó thì mọi chuyện đâu vào đó. Người Việt đã “vi tính hóa” ở
mức độ rất cao vào thời điểm này (nói như thế thì không thể không nhắc
đến “chiến lược gia” của công trình này: Phan Huy Đạt). Hay một
chuyện khác. Có một tờ báo nọ, viết về một cô gái đoạt giải hoa hậu
trong cuộc thi hoa hậu địa phương tại California. Thi hoa hậu thì chắc
hẳn không phải là mối quan tâm của người sáng lập tờ báo. Tin hoa hậu sẽ
nằm ở trang “Địa Phương” trong tờ báo. Với ông Yến thì khác. Sáng đó,
ông đến bàn tôi, tay cầm tờ báo viết về người đoạt giải hoa hậu. Ông rất
khó chịu: “Giao nhìn xem, con bé nó vừa tới tuổi trưởng thành, chuẩn bị
bước vào đời, mà họ viết thế này thì họ giết nó còn gì. Giao xem rồi
viết lại một bài trên Người Việt.” Chuyện là thế này: Cô bé đoạt giải
hoa hậu ấy [đẹp lắm], đang là sinh viên y khoa năm thứ nhất ở một đại
học rất nổi tiếng. Tờ báo “kia” nói rằng cô gian dối, vì chưa hoàn tất
college. Mà thật ra thì đó chỉ là một lớp rất phụ mà cô ấy đang hoàn
tất, cho xong. Nhưng tờ báo kia thì “nâng quan điểm” (chữ tôi học từ các
cụ trong Người Việt) thành chuyện lớn. Tôi liên lạc với cô, viết một
bài đăng trên Người Việt. Giờ này thì chắc cô bé đã lớn, đã có chồng, và
đang làm bác sĩ tại một bệnh viện nào đó trên nước Mỹ. Ông Đỗ Ngọc
Yến là một khối vững chắc, nhưng rất uyển chuyển, linh hoạt, viễn kiến
trên nhiều mặt vĩ mô. Nhưng ông cũng không bỏ sót những tiểu tiết vụn
vặt. Khi ông bệnh nặng, nằm trong bệnh viện, tôi và bạn Đỗ Tài Thắng
vào thăm. Ông nói: “Các bạn nên có thêm tin trên trang sức khỏe. Cộng
đồng mình ít hiểu biết về sức khỏe, lo toan cuộc sống nhiều quá, nên cần
có thêm kiến thức thường thức về y tế.” Dặn dò này không làm tôi ngạc
nhiên. Khi ông lập nên tờ báo Người Việt năm 1978, ông mong tờ báo là
“cầu nói cho cộng đồng bước vào cuộc sống mới” bởi những dịch vụ căn bản
của chính phủ. Đây là điều thiết yếu, vì cộng đồng lúc đó còn rất yếu
về Anh ngữ. Lúc này thì tôi đã bắt đầu quen với một người nữa. Người
mà càng chơi với anh, tôi càng thích: Đinh Quang Anh Thái. Lúc ấy, anh
Thái đã rời đài Á Châu Tự Do (RFA), về làm cho đài Little Saigon Radio
của chị Mai Khanh. Gặp anh lần đầu, tôi gọi là “chú”, vì anh chơi với
bác tôi. Anh nói ngay: “Hay là Giao gọi tôi là anh đi.” Một chiều
cuối năm 2007, tôi, anh Thái và người bạn Vũ Đình Trọng (làm ở Người
Việt, sau sang với Việt Herald, rồi sang báo Sống, và nay thì đang ở…
Người Việt) đi nhậu. Quán Bình Dân trên đường Bushard nhậu rất thích.
Món ăn ngon, toàn giả cầy, nhựa mận, dê, giá bình dân theo đúng tên gọi…
Anh Thái thích ăn ở đây nhưng không bao giờ chịu đi một mình (ai thắc
mắc thì hỏi anh ấy). Tôi và anh Thái ra ngoài hút thuốc. Tự nhiên anh
nói: “Giao còn trẻ, nên đi đây đi đó. Tôi nghĩ Giao nên sang đài Á Châu
Tự Do.” Lúc đó, tuổi nghề còn quá non, có biết Á Châu Tự Do là gì đâu.
Anh Thái giải thích cặn kẽ, xong, nói: “Tôi sẽ là reference.” (Anh Thái
làm reference kiểu này cũng vài lần nữa, nhưng không phải lúc nào cũng
vớ được con cá rán như tôi). Tháng 12, 2007, tôi đầu quân sang RFA. Chính
ở RFA, tôi trở nên thân với “chú Khanh.” Để chú Khanh trong ngoặt chứ
không dễ bị hiểu lầm. Chú Nguyễn Văn Khanh và anh Thái lệch nhau 1, 2
tuổi. Chú Khanh cũng quen bác tôi nên tôi gọi “chú”. Không thấy chú phàn
nàn. Thế là “chú cháu”, cho đến nay. (Hồi tôi mới qua Mỹ, ở
Philadelphia, tôi hay đến quán phở 75 để… uống cà phê. Lúc đó báo Người
Việt gởi báo hàng tuần sang cho tôi đọc. Anh chủ quán phở 75 nói: “Ông
thích báo chí, ông phải gặp Nguyễn Văn Khanh ở D.C. Tay tổ đó.”) Đến
2009, khi đang ở văn phòng RFA tại Bangkok, tôi nhận được email chú
Khanh. Đại khái nội dung: “Giao à, cả thế giới này biết bạn sắp rời RFA
về lại Người Việt. Thế nhưng tôi và bác Diễm không biết gì cả. Chuyện là
thế nào?” “Bác Diễm” tức ông Nguyễn Minh Diễm, lúc đó là Giám Đốc Ban
Việt Ngữ RFA, người mà tôi vô cùng yêu quí và kính trọng. Tôi viết email
trả lời chú Khanh, nói thật là tôi “đang” quyết định sẽ trở lại Người
Việt. Chú Khanh email lại ngay, rằng cho dầu đã đoán trước như thế,
nhưng chú vẫn “té ghế” (sic) khi nhận thư của tôi. Chú tiếc vì chú và
bác Diễm đã chuẩn bị cho tôi một position tại RFA Tiếng Việt. Trưa đó,
tôi rời văn phòng RFA Bangkok, đi ăn cơm bụi. Có một ông chẳng biết gốc
gác nước nào, sà vào bàn tôi, hỏi bằng tiếng Anh: “Coi bói không?”. Tôi
cười, rút cho ông ít tiền rồi nói không cần. Ông bỏ tiền vào túi, nói
vội trước khi rời đi: “Chuẩn bị đổi công việc đấy nhé.” Tuần lễ cuối
cùng tại Bangkok, bác Minh tôi bay sang chơi một tuần. Hai bác cháu nói
chuyện nhiều. Bác tôi nói: “RFA là một định chế lớn. Không có con thì sẽ
có người khác. Còn Người Việt là phên dậu về mặt truyền thông của cộng
đồng tại Little Saigon. Họ cần con hơn.” Thế là đặt dấu chấm hết trên sự
lưỡng lự. Ba tôi, lúc ấy còn khỏe, bay từ Sài Gòn qua thăm tôi. Hai cha
con gặp nhau lần đầu sau mười mấy năm. Tôi nói với ba là tôi sẽ về lại
báo Người Việt. Ba hỏi về làm công việc gì. Tôi nói “chủ bút.” Ba tôi
nói gọn lỏn: “Thế bỗng dưng đi làm chính trị à.” Tôi chưng hửng. Nhưng
càng về sau tôi càng hiểu câu nói ấy. Tôi về lại Người Việt vào tháng
Chín, 2009. Tôi gặp lại các bạn cũ của tôi, cũng quay trở về, thân nhất
là Đỗ Tài Thắng và Đỗ Dzũng, là người do tôi mời về Người Việt trước
đó. Có một chút trục trặc lịch sử với Đỗ Dzũng và tờ báo khác, nhưng
không quan trọng. Quan trọng là Người Việt lại có anh này, một người “ba
đầu sáu tay”, làm việc liên tục nhưng buổi trưa hay “take a nap” ngay
tại bàn, chỉ vài phút là tỉnh. Khi về Người Việt, tôi có đưa ra một
“điều kiện”: Là phải mời Vũ Quí Hạo Nhiên về lại. Đây là một “điều kiện”
mà cả phía ra điều kiện và phía nhận điều kiện đều biết là không cần.
Vì ai cũng nhìn về hướng ấy. Trước đây, Hạo Nhiên là sếp tôi ở Người
Việt. Tôi rời Người Việt 2007. Sang 2008 thì vụ “chậu rửa chân” xảy ra.
Hạo Nhiên phải rời Người Việt. Nay anh ấy quay lại, làm phụ tá cho tôi. Rồi tôi làm được một việc rất hay khác: Mời được Hà Giang về với Người Việt. Tập
thể biên tập như một guồng máy mạnh mẽ đi tới. Ông Nguyễn Minh Diễm từ
Virginia qua California chơi. Ông ghé Người Việt. Về sau, ông nói: “Thật
ra, khi tớ ngồi ở phòng làm việc của cậu, tớ thấy cái không khí tòa
soạn, tớ biết cậu đã thành công.” Cho đến một hôm… Cho đến một hôm, sáng Chủ Nhật, tôi đang ở nhà thì nhận được điện thoại anh Đinh Quang Anh Thái: “Chuyện không hay rồi Giao ơi.” Hai bức thư độc giả với nội dung “không phù hợp” xuất hiện trên báo Người Việt. Người chọn đăng là… Vũ Quí Hạo Nhiên. Lịch
sử lặp lại. Hạo Nhiên lại phải ra đi. Tôi là người mang quyết định của
Người Việt đến cho Hạo Nhiên khi chúng tôi gặp nhau tại quán Denny’s
trên đường Brookhurst. Khuya. Tôi hỏi: “Anh có đoán được chuyện gì
không?” Hạo Nhiên: “Mới đi coi phim ra. Thấy mấy cái missed calls. Đoán
được.” Sau khi Hạo Nhiên xem xong quyết định của Người Việt, tôi hỏi:
“Anh có nghĩ gì không?” Hạo Nhiên: “Tôi đoán trước quyết định này. Tôi
chỉ áy náy với ông thôi. Ngày ông trở lại Người Việt, tôi hứa là tôi sẽ
giúp ông. Mà tôi không làm được.” Hạo Nhiên là chồng của Ysa, tức là
con rể của nhà báo Lê Đình Điểu. Tôi gặp Hạo Nhiên vài lần trước đó, và
trở nên thân khi làm việc cùng anh ở Người Việt. Có lần, tôi nói với
anh: “Biết sao không, bà giáo sư của tui bả bỏ job ở Wall Street, về đi
dạy học, lương còn có một nửa.” Hạo Nhiên nhìn tôi: “Tui thì bỏ công
việc luật sư về làm báo lương còn 1 phần mười.” Nói xong, cái cằm hích
hích, cười. Tôi và Hạo Nhiên thân như anh em. Những ngày đầu trở lại
Người Việt, có một nhà báo viết rất hay, quyết định thôi việc. Là Hoàng
Mai Đạt. Tôi và Hạo Nhiên đến nhà anh Đạt, thuyết phục anh ở lại. Tôi
nhớ Hạo Nhiên nói câu này: “Người Việt là một công ty đáng để anh ở lại.
Hãy nhìn quanh đây, “nhóm Người Việt” là nhóm tử tế nhất [most
decent].” Cũng trong những ngày tháng đầu trong vai trò Chủ Bút, anh
Đinh Quang Anh Thái giúp tôi một công việc chưa từng có, và khó có ai
làm tốt hơn anh Thái: Mang tôi đi giới thiệu với các tổ chức, hội, đoàn,
cá nhân, mà anh nghĩ là quan trọng trong cộng đồng. Tôi đã bước một
bước rất nhanh vào công việc như vậy. Có một lần, nữ phóng viên chiến
trường trước 1975, Kiều Mỹ Duyên, nói với tôi: “Người Việt tính toán
thật hay. Mướn và trả lương cho một chủ bút nhưng được đến… 2 chủ bút.”
Tôi ngớ người hỏi tại sao. Cô Kiều Mỹ Duyên nói: “Chứ chẳng lẽ ông Phạm
Phú Minh không giúp gì Giao sao.” Cô Kiều Mỹ Duyên là người làm business
nên đầu óc bén nhạy. Nhìn lại thời gian 8 năm làm chủ bút Người Việt,
tôi đã hỏi vô số câu hỏi, nhận vô số lời khuyên, có vô số contacts, từ
bác Minh tôi. Bác tôi, như lời bác nói, không phù hợp với công việc nặng
hàng ngày của một nhật báo, nhưng theo tôi, có cái nhìn nhân văn, văn
hóa, một cách hết sức điềm đạm và lượng thứ. Tôi nghĩ cô Kiều Mỹ Duyên
nói đúng, Người Việt trong 8 năm ấy có đến 2 chủ bút (và cùng lúc bác là
chủ bút kiêm chủ nhiệm tạp chí Thế Kỷ 21). “Nhóm Người Việt” là chữ
mà cộng đồng Little Saigon, nhất là giới báo chí, hay nói về một nhóm
người ở công ty Người Việt. Đây là nhóm những người đã quen thân với
nhau, học trung học với nhau, rồi sinh hoạt xã hội cùng nhau từ thập
niên 1960 tại Sài Gòn. Họ gắn kết chặt chẽ qua lý tưởng và sinh hoạt
thanh niên. Và chỉ thế thôi, cùng lý tưởng, họ thành một “nhóm.” Rồi lần
lượt, có người sang Mỹ từ 1975, có người ở tù sau 1975 rồi sang Mỹ theo
diện H.O. Họ lại quy tụ cùng nhau, thành một … nhóm, xoay quanh một
hoạt động phù hợp với lý tưởng của họ, là làm báo. Họ đã là những người
để lại nhiều dấu ấn trong sinh hoạt thanh niên, xã hội, trước 1975. Có
thể kể đến các tên tuổi: Đỗ Ngọc Yến, Đỗ Quý Toàn, Lê Đình Điểu, Trần
Đại Lộc, Hoàng Ngọc Tuệ, Trần Văn Ngô, Nguyễn Đức Quang, Ngô Mạnh Thu,
Hà Tường Cát, Nguyễn Khả Lộc, Phan Huy Đạt, Đỗ Việt Anh, Phạm Phú Minh,
Trần Đình Quân… Trong một lần gọi điện thoại về cho ba tôi ở Sài Gòn,
ba tôi hỏi con có gặp Đỗ Việt Anh không. Tôi nói có. Ba tôi kể: Hồi ông
nội tôi mất giữa thập niên 1980, có một người ghé đến dự đám tang, ghé
nhiều lần trong mấy ngày liền. Ba tôi nói đó là Đỗ Việt Anh. Ba tôi kể,
chú Đỗ Việt Anh nói với ba tôi: “Anh Minh đang ở tù, tôi đến đây chịu
tang thay cho anh ấy.” Lúc đó chú Đỗ Việt Anh cũng vừa ra tù được ít
lâu. Có một lần, đám trẻ chúng tôi tại tòa soạn ngồi xung quanh các
cụ, hỏi về việc ở tù sau 1975. Một ai đó ngồi cộng lại, số năm tù của
các cụ làm ở Người Việt, cộng lại đến khoảng gần… 150 năm. Thế mà Người
Việt vẫn cứ là “cộng sản” thì phải coi lại tự điển về ý nghĩa hai chữ
“khôi hài.” (Tấm hình tôi dùng trong entry này là trang đầu trong 4
trang của số báo đầu tiên của Người Việt, ra ngày 15 tháng 12 năm 1978.
Tôi vẫn nói, rất thật, với nhiều người, rằng đây là số báo hay nhất
trong lịch sử Người Việt).
Cách
đây nửa tháng, thống đốc tiểu bang Cali – ông Gavin Newsom đã ban hành
lệnh giới nghiêm (Curfew Breakers) toàn tiểu bang trong bốn tuần, bắt
đầu từ tối ngày Thứ Bảy (Nov 21, 2020.) Người dân Cali phẫn nộ khi biết
rằng họ bị cấm tụ tập bạn bè trong dịp
Thanksgiving, ngay cả tổ chức đám tang cho thân nhân cũng bị giới hạn
dưới 12 người. Trong khi đó, Thống đốc Gavin Newsom đã đi dự tiệc sinh
nhật bạn ở Hawaii với rất đông người tham dự bữa tiệc đó mà không thực
hiện các biện pháp phòng bệnh như chính ông
đã nhiều lần lên TV khuyến cáo. Việc ông Gavin Newsom đã công khai xin
lỗi không làm công chúng nguôi giận.
Facebooker Tina Phan viết: “… Cảnh
sát trưởng quận Orange và Sacramento đã lên tiếng là cơ quan của họ sẽ
không áp dụng luật cấm giới nghiêm ở trong quận do họ cai quản. Newsom
đúng là một tên thống đốc rẻ tiền và vô tích sự.” Hai ông cảnh sát trưởng
này quả là biết điều. Hy vọng các tiệm ăn của người Việt nhờ vậy mà không bị phá sản.
Tại
Little Sài Gòn, tình trạng vơ vét hàng hóa quay trở lại như thời gian
bị giới nghiêm lần đầu. Người ta thi nhau mua gom giấy toilet, nước uống
đóng chai, gạo… ở các chuỗi chợ Mỹ lớn như Costco, Walmart và các chợ
Việt Nam. Chỉ trong vòng vài ngày, kệ
bán gạo chợ Việt trống lốc, chủ chợ không kịp nhập hàng đủ sức mua của
khách. Một chị làm quản lý trong chợ Việt khu Little Sài Gòn còn công
khai nói “Mua gạo nhiều quá ăn không hết lại năn nỉ người khác ăn giùm
cho coi.”
Nói
thiệt chớ tôi cũng chán ngấy ba cái vụ lock down này lắm rồi nên không
mua sắm, dự trữ thêm cái gì hết. Gì chớ kiểu phải thức sớm trong thời
tiết giá lạnh, đứng vô cái hàng dài dằng dặc hàng cây số trước khi tiệm
mở cửa để chờ đợi mấy tay security cho
vô tiệm mỗi lần vài chục người thiệt nó “oải chè đậu” vô cùng, thà nhịn
còn hơn. Mà lần trước mua mấy bịch rong biển khô, đậu nành, bún khô,
gạo hấp ăn tới bây giờ đã hết đâu, bạ đâu ăn đó, gặm bánh mì, bánh tráng
nhiều hơn, mấy thứ bánh này thì không bao
giờ thấy “khô cạn.”
Thời
gian lock down lần thứ nhất nước Mỹ có ai bị đói vì lock down không?
Xin thưa rằng không. Trường college tôi đang học cứ đều đặn nửa tháng
một lần gởi email kêu học sinh ghi danh nhận thực phẩm phát miễn phí mà
tôi chưa bao giờ ghi danh lấy một lần.
Các nhà thờ, chùa, điểm từ thiện ở Little Sài Gòn và vùng phụ cận cuối
tuần nào cũng có phát thực phẩm miễn phí tôi cũng chưa bao giờ tới nhận.
Không phải tôi “chảnh chó,” mà “Ở nhiều chớ ăn có bao nhiêu.” Tiền mướn
nhà, đổ xăng xe mới là gánh nặng cho nhiều
người trong thời gian dịch vật này.
Có
lẽ dân ta bị ám ảnh nỗi kinh hoàng thời bao cấp của nhà nước Việt cộng ở
Việt Nam đến “thâm căn cố đế” rồi, chắc phải đến thế hệ thứ hai, thứ ba
“Mỹ hóa” mới “gột rửa” được? Còn người Mễ thì ở gần người Việt riết rồi
cũng “lây nhiễm” nỗi sợ này nên họ
cũng ùn ùn mua đồ tích trữ y chang người Việt? Có người giải thích lý
do là Việt Nam “chống dịch” tốt hơn Mỹ. Tôi thì thấy chẳng qua là nhà
nước Việt cộng giấu con số tử vong, nguyên nhân tử vong thật sự mà thôi,
chớ làm gì có chuyện “tốt hơn.” Một nguyên
nhân khác là người dân Việt Nam từ hơn chục năm nay có thói quen ra
đường là đeo khẩu trang kín mít mặt mũi như Ninja vì ô nhiễm môi trường,
ô nhiễm khói bụi quá xá, do đó cũng hạn chế được tình trạng lây lan
virus cúm Tàu trong dân chúng.
Khi
tôi viết bài này thì chỉ còn vài ngày nữa là tới lễ Tạ Ơn và ngày Black
Friday nhưng tình hình cư dân ở đây im ắng hẳn đi. Buổi tối, tôi lái xe
đi một vòng các khu dân cư thấy ít nhà nào có trang trí đèn màu. Trên
Facebook, không thấy bạn bè post hình
chuẩn bị gà Tây, bánh trái, nấu ăn, rượu… nhộn nhịp nữa.
Bất
ngờ là đúng 12 giờ đêm 21 Tháng Mười Một, 2020, khoảng vài trăm người
dân Cali tập trung lại Huntington Pier (Orange County) biểu tình để
chống lệnh giới nghiêm (Curfew Breakers) của Thống đốc Cali dù nhiệt độ
đang rất lạnh. Rất đông người da trắng tham
gia biểu tình. Có người đeo khẩu trang, cũng có rất nhiều người không
đeo khẩu trang, thậm chí chỉ mặc độc quần lót thể thao, mang giày, cởi
trần trong thời tiết lạnh. Người biểu tình cầm cờ Mỹ, cờ Trump, hô vang
khẩu hiệu ủng hộ TT. Trump và giương cao những
tấm bảng ghi chữ “Recall Gavin Newsom.”
Thời
buổi này, tin tức lan truyền phải tính bằng đơn vị “giây” nên
Huntington Pier vừa nổ ra biểu tình thì vài phút sau một chị bạn đã gởi
tin nhắn cho tôi biết. Tuy nhiên, do lạnh quá và địa điểm cũng xa nơi
tôi đang ở nên tôi không tới tham dự. Qua hình
ảnh và video cho thấy người Mỹ tham gia rất đông. Người Việt tỵ nạn cầm
cờ vàng cũng có tham gia, dù số người tham gia ít ỏi. Họ đi bộ một
quãng đường rất dài về hướng Los Angeles. Nhiều người biểu tình phát
biểu trên video là họ thấy việc thống đốc ra lệnh
bắt buộc người dân phải ở trong nhà là vô lý. Sau khoảng một tiếng rưỡi
thì số người biểu tình đã giảm xuống, có lẽ đêm về sáng lạnh hơn nên
những người có tuổi không chịu nổi cái lạnh buốt da?
Tôi
cũng không lạ khi những vụ biểu tình như thế này đều diễn ra ở các
thành phố đông người Mỹ da trắng là Newport Beach, Huntington Beach và
Long Beach. Người Mỹ họ không có các kiểu sợ vớ vẩn của người Việt là
“sợ bị trù,” “sợ bị trả thù,” “sợ mất quyền
lợi,”… không vừa ý người Mỹ trắng họ biểu lộ ý kiến, thái độ ngay.
Con
virus Tàu cộng thật sự có hay không và có đáng sợ như truyền thông Mỹ
la làng hay không? Trải qua thời gian vừa rồi thì tôi khẳng định là có,
và nó không đáng sợ như chúng ta đã quá xá sợ. Nếu nói chết vì cúm thì
năm nào nước Mỹ cũng có số người chết
rất nhiều vì cúm Mỹ, nên Mỹ mới có vụ chích ngừa cúm. Tôi ở miền Nam
Việt Nam hơn nửa đời người chẳng bao giờ biết cúm là gì, dù tôi đọc lịch
sử thế giới thấy dân các nước khác chết vì cúm nhiều lắm. Cho đến khi
tôi bị Việt cộng chuyển ra nhà tù Thanh Hóa
ngoài Bắc (cách Hà Nội khoảng 30 km) thì tôi mới bị trận cúm đầu tiên
trong đời vì ở chung phòng với bạn tù bị cúm. Tôi nghĩ cúm dễ dàng tấn
công người do thời tiết lạnh và khô ở miền Bắc, do sức khỏe tù nhân bị
suy yếu. Tôi nghi bạn tù cúm là họ lây từ người
nhà vô thăm, lây từ chính cai tù, lây từ những nông dân họ tiếp xúc khi
đi lao động ở ngoài chớ tù chính trị bọn tôi không bao giờ tiếp xúc
khoảng cách gần với những nhóm kể trên khi ra ngoài nên không bao giờ bị
cúm.
Tôi
ra đại lộ Bolsa tham dự các buổi “Rally For Trump”, làm video phỏng vấn
đồng hương mà không thèm đeo khẩu trang, người được phỏng vấn cũng
không đeo khẩu trang. Nhiều lần khác, tôi vô tiệm ăn (chủ tiệm quen với
tôi) mà quên đeo khẩu trang, ăn xong đi
ra mới trực nhớ: “Ô! Nãy giờ mình không đeo khẩu trang.” Nhưng tôi vẫn
sống “phẻ mạnh” cho tới bây giờ, không hề có triệu chứng cảm sốt nhức
đầu, nên tôi kết luận chúng ta không cần phải sợ nữa, nhứt là hiện nay
đã có vaccin ngừa virus Tàu cộng rồi.
Tuy
nhiên, hiện nay mọi hoạt động bình thường đều bị ngưng trệ, học hành
ngưng trệ. Cầu mong cho nước Mỹ được “tai qua nạn khỏi” thời buổi chán
ngấy này.
Tác giả
tên thật Trần Năng Khiếu. Trước 1975 là Công Chức Bộ Ngoại Giao VNCH.
Đến Mỹ năm 1994 theo diện HO. Đã đi làm cho đến năm 2012. Hiện là công
dân hưu trí tại Westminster. Tham dự Viết Về Nước Mỹ từ tháng 8/2015. Đã
nhận giải Đặc Biệt 2016. Giải Danh Dự 2017, giải Vinh Danh Tác Phẩm
2018. Đây là bài viết mới của bà.
Ba
tôi mất sớm, để lại cho mẹ một đàn con côi cút. Được bốn năm, thì đất
nước xảy ra cơn chính biến. Những tháng ngày đen tối, mẹ tôi vất vả,
xoay xở buôn bán bấp bênh, trong một xã hội không an bình. Anh Tư tôi
bàn với mẹ tìm đường vượt biên.
Anh Tư và em út, ra đi vào đầu thập niên 1980. Được cô tôi nhanh chân làm “người di tản buồn” năm
1975, bảo trợ hai anh em từ trại tỵ nạn Thái Lan vào Pennsylvania. Mười
năm sau anh Tư bảo lãnh mẹ tôi qua đoàn tụ, được hai năm thì gia đình
chị Hai Nhàn định cư diện HO.24, tại California nắng ấm, mẹ tôi ở với
chị từ ngày đó. Rồi lần lượt người trước rước người sau, chúng tôi đến
Hoa Kỳ theo diện O.D.P. để được quây quần bên mẹ.
****************
Hiệp
Định Genève ngày 20/7/1954 chia đôi đất nước. Ba mẹ tôi vai đeo tay
nải, lưng cõng chị Nhàn theo hàng triệu người miền Bắc di cư, xuống tàu
há mồm vào Nam. Ba tôi tiếp tục nghề “gõ đầu trẻ” một thời
gian, rồi nhập ngũ theo Lệnh Động Viên của chính phủ VNCH. Tôi không nhớ
năm nào, chỉ biết ba tôi thuyên chuyển đến nhiều nơi khác nhau. Chị em
chúng tôi được sinh ra ở những nơi ba đến làm việc, đứa thì ở Biên Hòa,
đứa Bình Dương. Có đứa ở Kontum, thuở thiếu thời mộc mạc như cánh lan
rừng. Đứa thì ở Pleiku, thành phố đầy lính, người dân luôn sống trong
không khí của tiền đồn, của lửa đạn và chiến tranh. Tại phố núi này ba
tôi bị thương, chuyển từ nhà thương Quân Đoàn II về Bệnh Viện Cộng Hòa,
mẹ tôi đi theo để nuôi ba. Được hai tháng, thì Tết Mậu Thân 1968, thừa
lúc mọi người nghỉ Tết không đề phòng, Cộng Sản đã bất ngờ tấn công
những nơi xung yếu và quan trọng của quân lực VNCH. Nhà tôi nằm ngay tầm
giao tranh, cháy thành tro. May mà chị Hai Nhàn dắt chúng tôi chạy
thoát. Ba được giải ngũ. Mẹ trở lại Pleiku, đem chúng tôi vào Sài gòn và
dừng chân tại đây luôn.
Ba
mẹ tôi có mười người con, chết một còn chín, sáu gái ba trai. Sau mẹ,
chị Nhàn là người tôi yêu quý nhất. Mẹ tôi kể, Ba chọn tên Nhàn cho chị,
để vần với tên An của mẹ. Chị Nhàn là cả, nhưng theo người miền Nam,
chúng tôi gọi là chị Hai. Tôi là con thứ năm, có nước da ngăm ngăm, nên
được gọi là Năm Đen.
Chị
Hai hơn tôi tám tuổi, ngày ấy càng lớn trông chị càng xinh đẹp, với đôi
mắt đen và mái tóc dài thả ngang vai. Vì ba tôi là nhà giáo, nên ba
luôn quan tâm vấn đề học vấn cho con cái. Chị Hai Nhàn ở vào cái thời mà
con gái phải chịu ảnh hưởng Nho Giáo “Tam Tòng Tứ Đức” và lập
gia đình ở lứa tuổi đôi mươi, nên mười bảy, mười tám tuổi, chị đã có
nhiều đám mai mối dạm hỏi, vì tính nết đoan trang và siêng năng. Nhưng
ba tôi vẫn cho chị được phép cắp sách đến trường, không phải đi “gánh vác” sớm như các bạn cùng trang lứa.
Sau
này dù chị em chúng tôi đều đã có gia đình riêng. Nhưng những năm tháng
gian nan vất vưởng, chị em đùm bọc nhau để sống, mẹ cũng lao đao vì
cuộc mưu sinh, đã thành vết ký ức in hằn trong tôi.
Ngày
ba tôi mất, chị Nhàn hai mươi, em út mới hai tuổi. Chị thương mẹ vô
cùng, chị bỏ học để đi làm và sát cánh bên mẹ lo toan mọi bề. Đêm đêm
nhìn mẹ ngồi lặng lẽ trước hình ba trên bàn thờ, không gian như chùng
xuống, chị Hai đến bên mẹ an ủi trò chuyện, ôm đôi vai gầy, cầm bàn tay
khẳng khiu của mẹ, chị hứa không đi lấy chồng để ở bên mẹ suốt đời.
Năm
đó mẹ tôi mới bốn mươi hai, có một bác bạn thân của ba, vợ chết từ
ngoài Bắc, chỉ có ba bố con di cư vào Nam. Bác nói với mẹ tôi rằng: “Tôi với anh nhà là chỗ thân tình, không may anh ấy đã ra đi. Tôi muốn được ghé vai gánh bớt gánh nặng cho chị”. Mẹ
tôi nghĩ đến cảnh con anh, con tôi, con chúng ta. Lành ít, dữ nhiều,
nên mẹ cảm ơn bác, rồi ở vậy nuôi đàn con mồ côi cho đến hết đời.
Chị
Hai tôi tốt nghiệp, khóa Tu Nghiệp Công Chức tại Học Viện Quốc Gia Hành
Chánh. Năm 1970 chị trúng tuyển vào làm Thư Ký Bộ Ngoại Giao Việt Nam
Cộng Hòa, nằm trên đường Alexandre de Rhodes Saigon, gần nhà thờ Đức Bà,
nên sáng nào trước khi vào làm việc, chị cũng ghé nhà thờ viếng Mình
Thánh Chúa và cầu nguyện. Chị cần kiệm, không chưng diện, lãnh được bao
nhiêu tiền đưa hết cho mẹ. Hàng tháng Bộ NG bán cho nhân viên, một bao
gạo 50 ký theo tiêu chuẩn Chính Phủ, chị ràng sau xe Honda Dame chở về,
để mẹ nuôi các em. Bốn đứa bé nhất: Giáo 9 tuổi, Hường 7 tuổi, Vy 5
tuổi, Út Trí 3 tuổi, đó là lứa tuổi mà các em cần sự dạy dỗ, giám sát
của người lớn, mà mẹ thì mải buôn bán đầu tắt mặt tối từ sáng sớm tới
chiều muộn mới về, chỉ có chị em chúng tôi thay nhau, đứa lớn coi đứa
bé, nên các em quấn quýt bên chị.
Ngoài
những lúc đi làm, chị dành thời giờ chăm sóc các em, chị ngồi cặm cụi
may cho từng đứa, từ chiếc áo, chiếc quần mới, để ngày cuối tuần, chị
dẫn các em đến công viên chạy tung tăng, hoặc vào sở thú cho các em xem
voi xem khỉ, rồi ôm các em vào lòng mà ứa nước mắt. Ngày Tết Trung Thu,
chị chở ba em nhỏ đến nơi chị làm việc, để lãnh bánh Trung Thu, mà Bộ NG
dành cho con em của nhân viên. Ngày lễ nghỉ, chị hay đổ bánh xèo cho
chúng tôi ăn, đó là món bánh vừa rẻ vừa ngon mà chúng tôi rất thích. Nên
chúng tôi còn gọi là chị Hai bánh xèo.
Vì
nhà tôi ở Bảy Hiền sau chợ Tân Bình, nên thuận tiện việc học hành cho
các em, chỉ được một hai người lên Đại Học, còn lại đều tốt nghiệp cấp
ba. Đó là vốn liếng quý giá cho các em bước chân vào đời. Chúng tôi thật
may mắn được làm em của chị. Nhưng tiếng lành đồn xa, vừa mãn tang ba
đã có hai ba đám ngỏ lời, cũng là chỗ người làng quen biết. Họ rỉ rón
với mẹ: “Tôi thấy cháu vừa được người được nết, nên muốn kết tình thông gia với bà?...”.
Mẹ trả lời: “Cảm ơn bà đã để ý đến con tôi, để tôi dò ý cháu xem”.
Nhưng chị đều từ chối, không nhận lời. Vì còn trách nhiệm với đàn em…
Rồi
một hôm, cậu Năm em họ của mẹ, biết chị Hai tôi đang làm việc tại Bộ
NG, trong Nha Nghiên Cứu Sưu Tầm, phụ trách việc gửi đến các nơi cần
thiết, những cuốn sách “Ngoại Giao Kỷ Yếu”. Có tựa đề: “Hiệp Định về Chấm Dứt Chiến Tranh, Lập Lại Hòa Bình ở Việt Nam” (Ký
tại Paris ngày 27-01-1973) nên cậu đã dẫn một người bạn là Sĩ Quan An
Ninh, đang làm việc tại Bộ Tổng Tham Mưu, đến nhờ chị dẫn vào ông Giám
Đốc, xin cuốn sách đó. Cuộc gặp lần ấy đã kết thành duyên phận giữa chị
Hai tôi và anh Rể. Vì từ đó anh theo cậu đến nhà tôi, để tìm hiểu chị,
mà những đứa em nhỏ bé, đứa thì ôm vai đứa bá cổ, như người anh đi xa
mới về. Vài tháng sau bố anh đến, nói chuyện với mẹ tôi thật lâu. Để đêm
về, tôi thấy chị hay trở mình, đôi lúc thở dài. Rồi mẹ khuyên chị: “Thân
con gái chỉ có một thời! Anh em thì ‘kiến giả nhất phận’. Mai sau các
em khôn lớn, chúng phải lo bổn phận gia đình. Về già con vò võ một mình
cô đơn”. Và chị đã vâng lời mẹ.
Sau này, nói về cuốn sách “Ngoại Giao Kỷ Yếu” mà anh chị quen nhau, đối với chị buồn nhiều hơn vui.
Tại sao? Chị Hai giải thích: Cuốn sách “Hiệp
Định Ba Lê, là một Hiệp Định không có lợi cho miền Nam. Vào giai đoạn
ấy các bên tham chiến và Hoa Kỳ, đều muốn mưu tìm một giải pháp hòa
bình. Tuy nhiên, Sau năm năm trời thương thuyết (1968 tới 1973), nhằm
chấm dứt chiến tranh. Buộc các bên ngưng bắn, để Mỹ rút về nước trong
danh dự. Nhưng thực chất Cộng Sản Việt Nam đã không thi hành nghiêm
chỉnh, không thực hiện những điều khoản đã thỏa thuận. Chỉ vài tháng sau
khi Hiệp Định Paris 27-01-1973 được ký kết, CS Bắc Việt đã vi phạm, xua
quân tấn công Việt Nam Cộng Hòa.
Vì
chủ trương thay đổi chiến lược của chính phủ Hoa Kỳ và quyền lợi riêng
tư, mà Mỹ đã không giữ lời hứa, là sẽ phản ứng mạnh mẽ, nếu Bắc Việt vi
phạm Hiệp Định. Mỹ cũng không giúp VNCH chống đỡ những cuộc tấn công từ
miền Bắc. Không tiếp tục viện trợ vũ khí, đạn dược. Để rồi miền Nam
thiếu súng đạn, thiếu tất cả mọi thứ. Trong khi miền Bắc được tiếp tế
bởi Liên Xô và Trung Cộng. Sự chênh lệch về phương diện quân sự, là điểm
khởi đầu dẫn tới sự cáo chung của miền Nam, đưa đến thảm họa năm 1975”. Gieo bao đau thương cho dân lành. Trong đó có gia đình chị Hai tôi.
**********
Chị
Hai tôi tên là Nhàn, nhưng chị lại vất vả lắm, chị cứ mải miết ở nhà
nuôi các em. Khi bạn bè cùng tuổi đã tay dắt, tay bồng, chị mới lập gia
đình. Giáng sinh năm 1973, chị tôi lên xe hoa theo chồng. Bước chân đi
mà nước mắt lưng tròng, chị quay lại dặn dò:
“Em ơi! Em ở lại nhà, Vườn dâu em đốn mẹ già em thương. Mẹ già một nắng hai sương, Chị đi một bước trăm đường xót xa…” (NB)
Chẳng
bao lâu đất nước đổi chủ. Anh rể phải đi tù, như những người sĩ quan
VNCH khác. Chị lại bồng con đi thăm nuôi chồng trong tù “cải tạo”. Bươn chải trong xã hội mới. Nhưng chị luôn an phận và chấp nhận, để làm tròn bổn phận dâu con trong một gia đình “Tứ đại đồng đường” sống chung một mái nhà “đi thưa về trình”, mà vẫn đầm ấm yên vui.
“Gái có công thì chồng chẳng phụ”.
Sau sáu năm tù đày, anh rể tôi được thả về, anh rất yêu thương quý mến
chị. Nên khi sang đến Mỹ, anh cùng với chị thay chúng tôi phụng dưỡng mẹ
già. Vì thời trẻ mẹ tôi vất vả lo cho đàn con, đã làm ảnh hưởng đến sức
khỏe về già. Nhưng nhờ anh chị chăm sóc chu đáo, mẹ được an vui bên con
cháu trong tuổi hạc.
Bảy
gia đình ở Cali và hai gia đình bên Texas, thành đại gia đình kể cả dâu
rể cháu chắt, năm, sáu chục người. Mỗi dịp lễ, cửa nhà anh chị lại rộng
mở, đón chúng tôi qui tụ về đầy đủ bên mẹ. Chị Hai tôi là đầu tàu, lại ở
Mỹ gần 30 năm, nên quá quen thuộc với những ngày lễ truyền thống, từ
New year, Thanksgiving đến Christmas…. Chị tỉ mỉ gói từng món quà nhỏ,
bánh kẹo hay đồ chơi, rồi đặt ra những trò giải trí, có thưởng, khiến
không khí đêm Giáng Sinh rộn rã tiếng nói cười. Ngày Mother’s Day, hay
Tết chúng tôi tụ họp chúc mừng Mẹ, trong niềm vui đoàn tụ, quây quần bên
bàn ăn, thưởng thức những món Việt Nam tự tay chị Hai nấu như: Phở gà,
hủ tíu Nam Vang, dê giả cầy… Chị đã để hết tâm sức vào làm với cả tấm
lòng yêu thương, nên rất ngon. Chúng tôi cứ áy náy, nhà mình đông quá
làm chị Hai cực. Nhưng chị nói: “Một năm có vài ngày lễ, các em về đầy đủ, thấy mẹ vui là chị mừng. Hãy trân quý những giây phút đoàn viên này”.
Đặc
biệt những đứa cháu lớn lên tại Mỹ, cứ mong đến ngày Thanksgiving để
được ăn gà tây bác Hai nướng. Có năm chị tính đổi món khác, nhưng các
cháu phản đối, rồi nhao nhao lên nói: - Con thích ăn Turkey bác Hai nướng. Con thích nhân nhồi trong con gà hơn…. Mà thật, năm nào con gà nướng của chị cũng được con cháu, chiếu cố tận tình, chỉ chừa lại bộ xương. Hôm nào đầy đủ mặt “bá quan văn võ”, Lễ Tạ Ơn chị phải nướng hai con gà mới đủ.
Tôi
còn nhớ năm 2014, mùa lễ Thanksgiving đầu tiên mới qua Mỹ. Ông xã tôi
vừa xin được việc Assembler trong hãng điện tử vài tháng, cũng được tặng
một con gà tây 19 lbs, như mọi người. Ổng khệ nệ bưng con gà bự tổ
chảng về nhà, loay hoay với con gà mãi, không biết phải làm sao? Tôi bèn
gọi điện thoại hỏi chị Hai, thì may quá chị cười rồi bảo: “Còn hai
ngày nữa mới tới ngày lễ, trước nhất em bỏ nó vào ngăn đá. Sáng sớm mai
lấy ra ‘xả đá’, ngày mốt mang qua đây, chị sẽ chỉ cho em cách chế biến
thành món thật ngon mà em chưa từng được ăn”.
Đúng
ngày lễ tôi đem con gà đến. Chị bảo tôi ngâm trong nước lạnh, cho đến
khi thịt thật mềm.Thấy chị rinh con gà nặng chịch mà ái ngại, tôi vụng
về đỡ lấy tính làm, nhưng coi bộ được phục vụ mọi người là niềm vui của
chị, tôi đành làm “thợ vịn”. Vừa làm chị vừa chỉ cho tôi hết những bí quyết và kinh nghiệm mà chị đã nướng con “gà gô” này nhiều lần.
Chị
bảo tôi lấy sẵn một chén muối và năm trái chanh. Rồi chị xát muối vào
thân con gà chà thật kỹ, xong xả nước âm ấm, làm như vậy nhiều lần cho
hết chỗ muối. Sau đó tiếp tục xát chanh khắp thân gà, nhất là ở (nách)
bên dưới cánh, chị dùng ngón tay kỳ cọ như tắm cho em bé, tôi thấy ghét
nổi lều bều trên mặt nước đen ngòm, như người ở dơ lâu ngày không tắm.
Xát chanh xả nước lạnh nhiều lần như vậy, khi nào ra nước trong mới
được. Chị nói: “Da gà tây dầy lắm không sợ rách. Thân nó lớn bằng
một con heo sữa, mà không bao giờ được tắm như heo, nên gà tây sau khi
nhổ lông, ghét tích lũy nhiều ngày để lại mùi hôi rình. Tôi tính như vậy là chị rửa hết gần một tiếng đồng hồ, thật công phu.
Trong
khi chị Hai kỳ cọ, massage cho con gà, thì tôi bóc hành lột tỏi, rồi
thái mỏng được một chén nhỏ. Xé gói gia vị có tên Bag’n Season- Original
Chicken để sẵn. Kế đến múc ba muỗng gia vị trong lọ, có tên Perfect
Pinch-Original Chicken, thêm hai muỗng soup nước mắm, một lon Cocorico,
một lon nước soup gà. Cho hết các thứ hỗn hợp Đông, Tây này vào một tô
lớn quậy đều, sẽ tạo nên một sự hòa hợp hương vị thơm ngon.
Đợi
con gà ráo nước. Chị đặt nằm ngửa tênh hênh trên một cái khay, xối hết
tô nước hỗn hợp lên con gà. Sau đó khoảng mười lăm phút, lại múc nước
dưới khay rưới từ ức xuống, cho tới quá trưa gà thấm đều. Chị mở oven
lên 350 độ F, rồi đặt con gà vào lò cho đến khi nóng chảy mỡ, thì múc
nước juices từ con gà tiết ra dội lại khắp con gà, vớt hành tỏi bỏ lên
ức gà cho thơm, khoảng 30-40 phút rưới một lần. Cho đến khi gà vàng đều,
kéo khay ra khỏi lò lật úp gà xuống để nướng phía lưng.
Phần
tôi được chị phân công làm nhân nhồi trong bụng con gà. Tôi quay lạp
xưởng cho chảy mỡ, rồi bỏ hành hương thái mỏng vào phi cho thơm, cho tôm
khô đã ngâm sẵn vào, sau đó cho giò lụa thái hột lựu đảo đều, thêm chút
nước mắm. Khi xôi vừa chín tới, liền trộn nhân vào, ghế nhiều lần cho
ngấm đều, thành xôi thập cẩm.
Sau
cùng chị mang gà ra lần cuối, lật ngửa con gà để nhồi nhân vào bụng, ém
chặt lại, đút lò nướng tiếp, cho đến khi con gà thành màu vàng nâu rất
đẹp. Chị nói gà đã chín rồi, hai chị em khiêng gà ra khỏi lò. Như vậy là
chị nướng một con gà khoảng năm tiếng đồng hồ.
Chị
đặt con gà vào khay mới, múc hết nước ở khay cũ ra tô, để dùng làm nước
sốt, ăn với khoai tây nướng, hoặc bắp hộp trộn cheese. Con gà tây nóng
hổi hấp dẫn được đặt chễm chệ trên bàn, giữa các món ăn của mọi người
đóng góp. Nào là: Khoai tây nghiền trắng, cạnh Salads xanh, carrots đỏ,
bánh mì vàng óng bơ. Còn thêm mấy món Việt Nam, chả giò, nem nướng…. Để
phòng ai không ăn quen thức ăn Mỹ. Nhưng đắt hàng nhất là miếng ức gà,
chị ướp sao mà ngon, mà bùi như miếng gan heo, không còn hôi mùi gà tây.
Buổi
tối Thanksgiving hôm ấy thật ấm cúng bên mẹ, chúng tôi nói lên lòng
biết ơn. Nhờ Anh Tư bảo lãnh đợt đầu cho ba người. Còn ba đứa sau mẹ đậu
quốc tịch, anh chị Hai bỏ thời giờ đi làm giấy tờ, tôi là đứa con cuối
cùng đến Mỹ trong chín đứa con của mẹ. Đối với tôi bữa tiệc “Tạ Ơn” đầu
tiên trên đất nước Hoa Kỳ, Thật ý nghĩa và sâu sắc, từ món gà tây đút
lò, chị Hai đã tỉ mỉ chỉ bảo, làm em nhớ lại những ngày chúng em còn thơ
dại, đã được chị chăm sóc dạy dỗ. Trong hoàn cảnh ấy khiến tôi xúc động
đến trào nước mắt.
Tạ
ơn Thiên Chúa đã cho chúng con đến được xứ sở này. Cảm ơn ba mẹ, đã
sinh ra, nuôi nấng dạy dỗ chúng con nên người. Cảm ơn anh chị em đã cùng
tôi lớn lên trong gia đình đông đúc. Cảm ơn anh chị Hai đã cho chúng em
sống chung, những ngày tháng còn ngỡ ngàng mới định cư. Cảm ơn anh rể
đã san sẻ tình thương của anh cho chúng em, ngay từ những ngày đầu tiên
anh mới quen chị. Đến nhà để tìm hiểu gia cảnh, mà anh đã dang tay ôm
hết những đứa em bé nhỏ, côi cút của chị vào lòng và thương yêu như ruột
thịt, anh đã đánh trúng vào tâm lý của chị Hai, đã làm chị của em cảm
động, để rồi cùng anh nắm tay dìu dắt chúng em cho tới ngày nay.
Cảm
ơn đất Nước Hoa Kỳ đã cưu mang gia đình tôi, từ những ngày cơ cực, cùng
hàng triệu người Việt tỵ Nạn, để được sống tự do, được học hỏi, để có
công ăn việc làm ổn định. Cảm ơn những người bạn làm cùng sở, và những
người bản xứ chung quanh, đã đối xử tử tế với tôi.
***************
Lễ
Thanksgiving năm nay mẹ tôi không còn nữa. Mẹ đã bỏ chúng con ra đi
thanh thản, an nhiên tự tại, trong ngôi nhà ấm cúng tại thành phố
Westminster, trong vòng tay hiếu thảo của anh chị Hai và bên tiếng khóc
tiếc thương, của đàn con cháu đông đúc nơi xứ người.
Chị
Hai ơi! Em xin thay mặt tất cả các anh chị em, cám ơn chị với trăm ngàn
lời, nói sao cho vừa. Chúng em luôn thương yêu chị thật nhiều. Chắc
trên thiên đàng, mẹ rất hài lòng với người con gái lớn của mẹ. Xin mẹ
cầu cùng Chúa, phù hộ cho chị em chúng con nhiều hơn.
More
than 120 of the 196 Republican members of the House of Representatives
signed their names to an amicus brief on Thursday in support of a Texas
lawsuit filed with the U.S. Supreme Court that seeks to overturn Joe
Biden’s victory in the presidential election and keep Donald Trump in
office for a second term.
The lawsuit, which the Supreme Court
rejected Friday evening, looked to throw out the results in four states
won by Biden: Georgia, Michigan, Pennsylvania and Wisconsin.
Filed
by Texas Attorney General Ken Paxton, the suit had been joined by 17
other states that voted for Trump. It relied on a dubious statistical
analysis to claim that Biden could not possibly have legally received
over 7 million votes more than Trump, and seeks to disenfranchise votes
cast in the four states, while leaving vote totals intact in all others.
Responding
to the lawsuit in a brief filed Thursday, Pennsylvania Attorney General
Josh Shapiro called the attempt to overturn the will of the voters
“seditious.”
“The court should not abide this seditious abuse of
the judicial process, and should send a clear and unmistakable signal
that such abuse must never be replicated,” the brief stated.
The
decision by Republican lawmakers to sign the amicus brief has set off a
firestorm of controversy, with critics accusing them of an attempt to
subvert democracy.
In a Friday editorial,
the Orlando Sentinel’s editorial board apologized for its endorsement
of Rep. Michael Waltz, one of the Republicans who signed the brief.
“We
apologize to our readers for endorsing Michael Waltz in the 2020
general election for Congress. We had no idea, had no way of knowing at
the time, that Waltz was not committed to democracy.”
Whether the
brief comes to be viewed as a scarlet letter, forever tarnishing the
careers of the lawmakers who signed it, or a point of honor in future
elections, remains to be seen. For now, here’s a list of the Republicans
who lent their names to an effort to throw out the votes of more than
10 million Americans to keep Trump in office.
Alabama
Rep. Mo Brooks, R-Ala. (Tom Williams/CQ-Roll Call via Getty Images)
Rep. Gary Palmer, Fifth Congressional District
Rep. Mo Brooks, Fifth Congressional District
Rep. Bradley Byrne, First Congressional District
Rep. Robert Aderholt, Fourth Congressional District
Arizona
Rep. Andy Biggs, Fifth Congressional District
Rep. Debbie Lesko, Eighth Congressional District
Arkansas
Rep. Rick Crawford, First Congressional District
Rep. Bruce Westerman, Fourth Congressional District
California
House Minority Leader Kevin McCarthy, R-Calif. (Caroline Brehman/CQ-Roll Call via Getty Images)
Rep. Kevin McCarthy, 23rd Congressional District
Rep. Ken Calvert, 42nd Congressional District
Rep. Doug LaMalfa, First Congressional District
Rep. Tom McClintock, Fourth Congressional District
Colorado
Rep. Ken Buck, Fourth Congressional District
Rep. Doug Lamborn, Fifth Congressional District
Florida
Rep. Matt Gaetz, First Congressional District
Rep. Ted Yoho, Third Congressional District
Rep. Gus Bilirakis, 12th Congressional District
Rep. Mario Diaz-Balart, 25th Congressional District
Rep. John Rutherford, Fourth Congressional District
Rep. Daniel Webster, 11th Congressional District
Rep. Michael Waltz, Sixth Congressional District
Rep. Ross Spano, 15th Congressional District
Rep. Neal Dunn, Second Congressional District
Georgia
Rep. Doug Collins, R-Ga. (Drew Angerer/Pool via Reuters)
Rep. Doug Collins, Ninth Congressional District
Rep. Rick W. Allen, 12th Congressional District
Rep. Earl Carter, First Congressional District
Rep. Drew Ferguson, Third Congressional District
Rep. Austin Scott, Eighth Congressional District
Idaho
Rep. Russ Fulcher, First Congressional District
Rep. Mike Simpson, Second Congressional District
Illinois
Rep. Mike Bost, 12th Congressional District
Rep. Darin LaHood, 18th Congressional District
Indiana
Rep. James Baird, Fourth Congressional District
Rep. Jim Banks, Third Congressional District
Rep. Trey Hollingsworth, Ninth Congressional District
Rep. Greg Pence, Sixth Congressional District
Rep. Jackie Walorski, Second Congressional District
Iowa
Rep. Steve King, R-Iowa. (Joshua Roberts/Reuters)
Rep. Steve King, Fourth Congressional District
Kansas
Rep. Ron Estes, Fourth Congressional District
Rep. Roger Marshall, First Congressional District
Louisiana
Rep. Steve Scalise, First Congressional District
Rep. Mike Johnson, Fourth Congressional District
Rep. Ralph Abraham, Fifth Congressional District
Rep. Clay Higgins, Third Congressional District
Maryland
Rep. Andy Harris, First Congressional District
Michigan
Rep. Jack Bergman, First Congressional District
Rep. Bill Huizenga, Second Congressional District
Rep. Tim Walberg, Seventh Congressional District
Rep. John Moolenaar, Fourth Congressional District
Minnesota
Rep. Tom Emmer, Sixth Congressional District
Rep. Jim Hagedorn, First Congressional District
Mississippi
Rep. Michael Guest, Third Congressional District
Rep. Trent Kelly, First Congressional District
Missouri
Rep. Vicky Hartzler, R-Mo. (Bill Clark/CQ Roll Call)
Rep. Sam Graves, Sixth Congressional District
Rep. Vicky Hartzler, Fourth Congressional District
Rep. Jason Smith, Eighth Congressional District
Rep. Ann Wagner, Second Congressional District
Rep. Blaine Luetkemeyer, Third Congressional District
Montana
Rep. Greg Gianforte, at-large district
Nebraska
Rep. Jeff Fortenberry, First Congressional District
Rep. Adrian Smith, Third Congressional District
New Jersey
Rep. Jeff Van Drew, Second Congressional District
New York
Rep. Elise Stefanik, 21st Congressional District
Rep. Lee Zeldin, First Congressional District
North Carolina
Rep. Dan Bishop, Ninth Congressional District
Rep. Ted Budd, 13th Congressional District
Rep. Virginia Foxx, Fifth Congressional District
Rep. Richard Hudson, Eighth Congressional District
Rep. David Rouzer, Seventh Congressional District
Rep. Gregory Murphy, Third Congressional District
Ohio
Rep. Jim Jordan, R-Ohio. (Stefani Reynolds/Pool/AFP via Getty Images)
Rep. Jim Jordan, Fourth Congressional District
Rep. Bob Gibbs, Seventh Congressional District
Rep. Bill Johnson, Sixth Congressional District
Rep. Robert E. Latta, Fifth Congressional District
Rep. Brad Wenstrup, Second Congressional District
Oklahoma
Rep. Kevin Hern, First Congressional District
Rep. Markwayne Mullin, Second Congressional District
Pennsylvania
Rep. John Joyce, 13th Congressional District
Rep. Fred Keller, 12th Congressional District
Rep. Mike Kelly, 16th Congressional District
Rep. Dan Meuser, Ninth Congressional District
Rep. Scott Perry, 10th Congressional District
Rep. Guy Reschenthaler, 14th Congressional District
Rep. Glenn Thompson, 15th Congressional District
South Carolina
Rep. Jeff Duncan, Third Congressional District
Rep. Ralph Norman, Fifth Congressional District
Rep. Tom Rice, Seventh Congressional District
Rep. William Timmons, Fourth Congressional District
Rep. Joe Wilson, Second Congressional District
Tennessee
Rep. Tim Burchett, Second Congressional District
Rep. Chuck Fleischmann, Third Congressional District
Rep. Mark Green, Seventh Congressional District
Rep. David Kustoff, Eighth Congressional District
Rep. John Rose, Sixth Congressional District
Rep. Scott DesJarlais, Fourth Congressional District
Texas
Rep. Dan Crenshaw, R-Texas. (Chip Somodevilla/Pool via Reuters)
Rep. Dan Crenshaw, Second Congressional District
Rep. Kevin Brady, Eighth Congressional District
Rep. Michael Burgess, 26th Congressional District
Rep. Michael Cloud, 27th Congressional District
Rep. Mike Conaway, 11th Congressional District
Rep. Bill Flores, 17th Congressional District
Rep. Louie Gohmert, First Congressional District
Rep. Lance Gooden, Fifth Congressional District
Rep. Kenny Marchant, 24th Congressional District
Rep. Randy Weber, 14th Congressional District
Rep. Roger Williams, 25th Congressional District
Rep. Ron Wright, Sixth Congressional District
Rep. Jodey Arrington, 19th Congressional District
Rep. Brian Babin, 36th Congressional District
Virginia
Rep. Ben Cline, Sixth Congressional District
Rep. Rob Wittman, First Congressional District
Rep. H. Morgan Griffith, Ninth Congressional District
Washington
Rep. Dan Newhouse, Fourth Congressional District
Rep. Cathy McMorris Rodgers, Fifth Congressional District