Thursday, April 29, 2021

”CON NHÌN RA, NÀO GIẢI PHÓNG GÌ ĐÂU”

 

Lại nói về ngày 30 tháng Tư, mà nhiều người vẫn gọi là Tháng Tư Đen, được mệnh danh là ngày Giải phóng miền Nam.
Bản chất của ngày 30/4 chỉ là ngày chấm dứt cuộc nội chiến “huynh đệ tương tàn”, “nồi da xáo thịt” mà thôi. Nghĩa là anh em trong một nhà bắn giết lẫn nhau. Vì trước đó Mỹ đã rút hết quân ra khỏi Việt Nam, hòa bình được ký kết theo Hiệp định Paris năm 1973. Vậy thì có gì đáng tự hào để khoe khoang rùm beng hết năm này đến năm khác về cuộc anh em tàn sát lẫn nhau ấy?
Nhìn về hoàn cảnh lịch sử của cuộc chiến tại Việt Nam từ sau Hiệp định Paris năm 1973. Mỹ đã hoàn toàn cắt đứt mọi nguồn viện trợ cho VNCH, họ đã phải đơn thương độc mã chiến đấu với cả phe XHCN viện trợ và hậu thuẫn cho miền Bắc, thì không thua mới lạ.
Còn miền Bắc thì sao? Từ các loại vũ khí tối tân nhất của Liên Xô và TQ liên tục rót vào như máy bay, xe tăng, súng to súng nhỏ và đạn dược các loại, cho đến quân trang quân dụng và nhu yếu phẩm, đều được phe XHCN viện trợ và trang bị tận răng.
Bên cạnh đó có hàng ngàn cố vấn quân sự của Liên Xô về điều khiển tên lửa và lái máy bay sang Việt Nam hỗ trợ, cùng với hàng chục ngàn binh lính TQ đến bảo vệ những khu vực trọng yếu và làm đường sá, để cho miền Bắc dồn hết quân lực vào đánh nhau với miền Nam.
Có thể nói Việt Nam lúc đó đã trở thành bãi chiến trường để thử vũ khí cho các cường quốc, trong đó lấy sinh mạng người Việt làm vật hy sinh. Quá đau đớn.
Nhìn vào lịch sử của các cuộc nội chiến, như cuộc nội chiến Nam-Bắc nước Mỹ 1861–1865, sau khi các tiểu bang miền Bắc chiến thắng, hai bên bắt tay giải hòa, và “bên thắng cuộc” sau đó không hề tổ chức mừng chiến thắng rầm rộ như Việt Nam mấy chục năm nay.
Cộng sản TQ sau khi chiến thắng Quôc Dân đảng của Tưởng Giới Thạch năm 1949, buộc quân Tưởng phải chạy ra trú ngụ tại Đài Loan. Nhưng sau đó hàng năm phía TQ cũng không tổ chức mừng chiến thắng.
Trước đây Nhà Nguyễn cũng không kỷ niệm ngày chiến thắng quân Tây Sơn, mặc dù họ cũng thống nhất đất nước, thu giang sơn về một mối.
Hàng năm “Bên thắng cuộc” càng tổ chức mừng chiến thắng để khoe khoang thành tích chém giết đồng bào mình bao nhiêu thì càng khoét sâu nỗi đau của hàng triệu người bấy nhiêu. Điều đó càng đi ngược lai chủ trương Hòa hợp và hòa giải dân tộc mà đảng và nhà nước vẫn tuyên truyền và rêu rao lâu nay.
Trong khi hàng chục vạn sinh mạng binh lính đôi bên còn phơi xác đâu đó trên các bãi chiến trường xưa mà chưa được hồi hương với gia đình và thân nhân.
Trong khi hàng triệu người dân bị tàn phế và mang trong mình những vết thương do hậu quả chiến tranh không thể lấy gì bù đắp được. Vậy thì chiến thắng và vinh quang nỗi gì?
Trong khi nhân dân miền Nam đang sống hạnh phúc, tự do thanh bình, từ thành thị đến nông thôn đang hưởng không khí hòa bình và xây dựng đất nước, thì bỗng dưng chiến tranh ập đến với tên gọi là “giải phóng”. Nhà cửa bị đốt cháy, làng mạc bị trở thành bãi chiến trường, cầu cống đường sá bị phá sập, cảnh đầu rơi máu chảy lại diễn ra. Thì đó là giải phóng cái gì?
Có một bài thơ gửi mẹ, được cho là của một người lính miền Bắc tử trận tại chiến trường miền Nam, được phía đối phương nhặt được, có những câu như sau:
“Từ buổi con lên đường xa mẹ
Theo anh em sang Lào rồi dẫn bước vào Trung
Non xanh nước biếc chập chùng
Sớm nắng biển chiều mưa rừng gian khổ
Tuổi hai mươi cuộc đời như hoa nở
Từ hòa bình đâu ngại bước gian nguy
Mấy tháng trời đêm nghỉ ngày đi
Giày vẹt gót áo sờn vai thấm lạnh
Những chiều Trường Sơn núi rừng cô quạnh
Mẹ hiền ơi con chợt nhớ quê mình
Khói lam chiều dàn mướp lá lên xanh
Con bướm nhỏ, mái đình xưa nhớ quá
Ở nơi đây tuy đất người xa lạ
Nhưng miền Nam cũng cùng một quê hương
Vẫn bóng dừa xanh vẫn những con đường
Thơm hương lúa ngạt ngào
Vẫn khói lam chiều, con trâu về chuồng, tiếng tiêu gợi nhớ
Đã qua buổi ban đầu bỡ ngỡ
… … …
Con nhìn ra nào giải phóng gì đâu
Buổi chợ đông vui đồng lúa xanh màu
Mái chùa cong buông hồi chuông tín mộ
Lớp học tưng bừng từng đàn trẻ nhỏ
Đang nhịp nhàng vui hát bản đồng ca
Và trong vườn luống cải vàng hoa
Đàn bướm nhỏ đua nhau về hút mật
Xóm dưới làng trên niềm vui ngây ngất
Sao người ta bắt con đốt xóm phá cầu
Phải gài mìn gieo tang tóc thương đau
Đã có nhiều lần tay con run rẩy
Khi gài mìn để sau bỗng thấy
Xác người lăn trong máu đổ chan hòa
Máu của ai? Máu của bà con ta
Của những người như con như mẹ”
Và tác giả bài thơ kết thúc với nỗi niềm day dứt khôn nguôi:
“Đêm hôm ấy mắt con tràn lệ
Ác mộng về con trằn trọc thâu canh”.
Thao Ngoc 28/4
Nguồn: Fb Thao Ngọc

VỌNG CỔ BUỒN... Tiểu Tử

Tôi vượt biên một mình rồi định cư ở Pháp. Năm đó tôi mới 49 tuổi, vậy mà đi tìm việc làm đến đâu người ta cũng chê là tôi già! Vì vậy, một hôm, khi chải tóc, tôi nhìn kỹ tôi trong gương. Tôi bỗng thấy ở đó có một người có vẻ như quen nhưng thật ra thì rất lạ: mắt sâu, má hóp, mặt đầy nếp nhăn trên trán, ở đuôi mắt, ở khóe môi, mái tóc đã ngả bạc cắt tỉa thô sơ như tự tay cắt lấy. Từ bao lâu nay tôi không để ý, bây giờ soi gương vì bị chê già, tôi mới thấy rằng tôi của hồi trước "Cách mạng thành công" và tôi của bây giờ - nghĩa là chỉ sau có mấy năm sống dưới chế độ gọi là ưu việt - thật không giống nhau chút nào hết. Tôi già thiệt, già trước tuổi. Cho nên, tôi nhìn tôi không ra. Từ đó, mỗi ngày tôi tập nhìn tôi một lần, nhìn kỹ, cho quen mắt !
Một người bạn làm việc lâu năm ở Côte d' Ivoire (Phi Châu) hay tin tôi đã qua Pháp và vẫn còn thất nghiệp, bèn giới thiệu tôi cho Công ty Đường mía của Nhà nước. Không biết anh ta nói thế nào mà họ nhận tôi ngay, còn gởi cho tôi vé máy bay nữa!
Xưa nay, tôi chưa từng quen một người da đen gốc Phi Châu nào hết. Và chỉ có vài khái niệm thô sơ về vùng Phi Châu da đen như là: ở đó nóng lắm, đất đai còn nhiều nơi hoang vu, dân chúng thì da đen thùi lùi, tối ngày chỉ thích vỗ trống, thích nhảy tưng tưng v.v.. Vì vậy, tôi hơi ngán. Nhưng cuối cùng rồi tôi quyết định qua xứ da đen để làm việc, danh dự hơn là ở lại Pháp để tháng tháng vác mặt Việt Nam đi xin trợ cấp đầu nọ, đầu kia
Nơi tôi làm việc tên là Borotou, một cái làng nằm cách thủ đô Abidjan gần 800km! Vùng này toàn rừng là rừng. Không phải là rừng rậm rì cây cao chớn chở như ở Việt Nam.
Rừng ở đây cây thấp lưa thưa, thấp thấp cỡ mươi, mười lăm thước coi khô hóc. Không có núi non, chỉ có một vài đồi trũng, nhưng đồi không cao và trũng không sâu
Nhà nước phá rừng trồng mía. Ruộng mía ngút ngàn! Nằm ở trung tâm là khu nhà máy, khu cơ giới, khu hành chánh, khu cư xá v.v.. Khu này cách khu kia cỡ vài cây số.
Muốn về thủ đô Abidjan, phải lái xe hơi chạy theo đường mòn xuyên rừng gần ba chục cây số mới ra tới đường cái tráng nhựa. Từ đó chạy đi Touba, một quận nhỏ với đông đảo dân cư. Từ đây, lấy máy bay Air Afrique về Abidjan, mỗi ngày chỉ có một chuyến.
Phi trường Touba nhỏ xíu, chỉ có một nhà ga xây cất sơ sài và một phi đạo làm bằng đất đỏ, mỗi lần máy bay bay lên đáp xuống là bụi bay đỏ trời !
Tôi hơi dài dòng ở đây để thấy tôi đi "làm lại cuộc đời" ở một nơi hoang vu hẻo lánh mà cảnh trí thì chẳng có gì hấp dẫn hết! Thêm vào đó, tôi là người Á Đông duy nhứt làm việc chung với Tây trắng (chỉ có năm người) và Tây đen (đông vô số kể).
Ở đây, thiên hạ gọi tôi là " le chinois" - thằng Tàu - Suốt ngày, suốt tháng tôi chỉ nói có tiếng Pháp. Cho nên, lâu lâu thèm quá, tôi soi gương rồi nói chuyện với tôi bằng tiếng Việt, trông giống như thằng khùng! Chưa bao giờ tôi thấy tôi cô đơn bằng những lúc tôi đối diện tôi trong gương như vậy.
Một hôm, sau hơn tám tháng " ở rừng" , tôi được gọi về Abidjan để họp (Đây là lần đầu tiên được về thủ đô!).
Anh tài xế đen đưa tôi ra Touba. Chúng tôi đến phi trường lối một giờ trưa.
Sau khi phụ tôi gởi hành lý, anh tài xế nói:
- Tôi ra ngủ trưa ở trong xe. Chừng Patron (ông chủ) đi được rồi tôi mới về.
Ở xứ đen, họ dùng từ "Patron" để gọi ông chủ, ông xếp, người có địa vị, có tiền, người mà họ nể nang v.v Nghe quen rồi, chẳng có gì chói lỗ tai hết!
Tôi nói:
- Về đi! Đâu cần phải đợi!
Hắn nhăn răng cười, đưa hàm răng trắng toát:
- Tại Patron không biết chớ ở đây lâu lâu họ lại hủy chuyến bay vào giờ chót, nói tại máy bay ăn-banh ở đâu đó. Máy bay cũng như xe hơi vậy, ai biết lúc nào nó nằm đường.
Rồi hắn đi ra xe. Tôi ngồi xuống một phô-tơi, nhìn quanh: hành khách khá đông, nhiều người ngồi với một số hành lý như thùng cạc-tông, bao bị, va-ly v.v Không phải họ không biết gởi hành lý, nhưng vì những gì họ đã gởi đã đủ số ký-lô giành cho mỗi hành khách, nên số còn lại họ xách tay, cho dầu là nhiều món vừa nặng vừa cồng kềnh!
Không khí nóng bức. Mấy cái quạt trần quay vù vù, cộng thêm mấy cây quạt đứng xoay qua xoay lại, vậy mà cũng không đủ mát. Thiên hạ ngủ gà ngủ gật, tôi cũng ngã người trên lưng ghế, lim dim
Trong lúc tôi thiu thiu ngủ thì loáng thoáng nghe có ai ca vọng cổ. Tôi mở mắt nhìn quanh rồi thở dài, nghĩ: "Tại mình nhớ quê hương xứ sở quá nên trong đầu nghe ca như vậy" . Rồi lại nhắm mắt lim dim. Lại nghe vọng cổ nữa. Mà lần này nghe rõ câu ngân nga trước khi "xuống hò" : "Mấy nếp nhà tranh ẩn mình sau hàng tre rũ bóng đang vươn lên ngọn khói á lam à chiều"
Đúng rồi ! Không phải ở trong đầu tôi, mà rõ ràng có ai ca vọng cổ ngoài kia. Tôi nhìn ra hướng đó, thấy xa xa dưới lùm cây dại có một người đen nằm võng. Và chỉ có người đó thôi. Lạ quá ! Người đen đâu có nằm võng. Tập quán của họ là nằm một loại ghế dài bằng gỗ cong cong.. Ngay như loại ghế bố thường thấy nằm dưới mấy cây dù to ở bãi biển họ cũng ít dùng nữa.
Tò mò, tôi bước ra đi về hướng đó để xem là ai vừa ca vọng cổ lại vừa nằm võng đong đưa. Thì ra là một anh đen còn trẻ, còn cái võng là loại võng nhà binh của quân đội Việt Nam Cộng Hòa hồi xưa. Tôi nói bằng tiếng Pháp:
- Bonjour!
Anh ta ngừng ca, ngồi dậy nhìn tôi mỉm cười, rồi cũng nói " Bonjour" . Tôi hỏi, vẫn bằng tiếng Pháp:
- Anh hát cái gì vậy?
Hắn đứng lên, vừa bước về phía tôi vừa trả lời bằng tiếng Pháp :
- Một bài ca của Việt Nam. Còn ông? Có phải ông là le chinois làm việc cho hãng đường ở Borotou không?
Tôi trả lời, vẫn bằng tiếng Pháp:
- Đúng và sai! Đúng là tôi làm việc ở Borotou. Còn sai là vì tôi không phải là người Tàu. Tôi là người Việt Nam.
Bỗng hắn trợn mắt có vẻ vừa ngạc nhiên, vừa mừng rỡ, rồi bật ra bằng tiếng Việt, giọng đặc sệt miền Nam, chẳng có một chút lơ lớ:
- Trời ơi! Bác là người Việt Nam hả?
Rồi hắn vỗ lên ngực:
- Con cũng là người Việt Nam nè!
Thiếu chút nữa là tôi bật cười. Nhưng tôi kềm lại kịp, khi tôi nhìn gương mặt rạng rỡ vì sung sướng của hắn. Rồi tôi bỗng nghe một xúc động dâng tràn lên cổ. Thân đã lưu vong, lại "trôi sông lạc chợ" đến cái xứ "khỉ ho cò gáy" này mà gặp được một người biết nói tiếng Việt Nam và biết nhận mình là người Việt Nam, dù là một người đen, sao thấy quý vô cùng. Hình ảnh của quê hương như đang ngời lên trước mặt
Tôi bước tới bắt tay hắn. Hắn bắt tay tôi bằng cả hai bàn tay, vừa lắc vừa nói huyên thuyên:
- Trời ơi! Con mừng quá! Mừng quá! Trời ơi! Bác biết không? Bao nhiêu năm nay con thèm gặp người Việt để nói chuyện cho đã. Bây giờ gặp bác, thiệt con mừng " hết lớn" bác à!
Rồi hắn kéo tôi lại võng:
- Bác nằm đi! Nằm đi!
Hắn lại đống gạch "bờ-lóc" gần đấy lấy hai ba viên kê bên cạnh võng rồi ngồi lên đó, miệng vẫn không ngừng nói:
- Con nghe thiên hạ nói ở Borotou có một người Tàu. Con đâu dè là bác. Nếu biết vậy con đã phóng Honda vô trỏng kiếm bác rồi! Đâu đợi tới bây giờ
Hắn móc gói thuốc, rút lòi ra một điếu, rồi đưa mời tôi:
- Mời bác hút với con một điếu.
Hắn đưa gói thuốc về phía tôi, mời bằng hai tay.. Một cử chỉ mà từ lâu tôi không còn nhìn thấy. Một cử chỉ nói lên sự kính trọng người trưởng thượng. Tôi thấy ở đó một "cái gì" rất Việt Nam.
Tôi rút điếu thuốc để lên môi. Hắn chẹt quẹt máy, đưa ngọn lửa lên đầu điếu thuốc, một tay che che như trời đang có gió. Tôi bập thuốc rồi ngạc nhiên nhìn xuống cái quẹt máy. Hắn nhăn răng cười:
- Bác nhìn ra nó rồi hả?
Tôi vừa nhả khói thuốc vừa gật đầu. Đó là loại quẹt máy Việt Nam, nho nhỏ, giẹp lép, đầu đít có nét cong cong. Muốn quẹt phải lấy hẳn cái nắp ra chớ nó không dính vào thân ống quẹt bằng một bản lề nhỏ như những quẹt máy ngoại quốc. Hắn cầm ống quẹt, vừa lật qua lật lại vừa nhìn một cách trìu mến:
- Của ông ngoại con cho đó! Ổng cho, hồi ổng còn sống lận.
Rồi hắn bật cười:
- Hồi đó ổng gọi con bằng "thằng Lọ Nồi".
Ngừng một chút rồi tiếp:
- Vậy mà ổng thương con lắm à bác!
Hắn đốt điếu thuốc, hít một hơi dài rồi nhả khói ra từ từ. Nhìn cách nhả khói của hắn tôi biết hắn đang sống lại bằng nhiều kỷ niệm Tôi nói:
- Vậy là cháu lai Việt Nam à?
- Dạ. Má con quê ở Nha Trang.
- Rồi má cháu bây giờ ở đâu?
Giọng của hắn như nghẹn lại:
- Má con chết rồi. Chết ở Nha Trang hồi Việt cộng vô năm 1975.
- Còn ba của cháu?
- Ổng hiện ở ParisTụi này nhờ có dân Tây nên sau 1975 được hồi hương. Con đi quân dịch cho Pháp xong rồi, về đây ở với bà nội. Con sanh ra và lớn lên ở Sài Gòn, về đây, buồn thúi ruột thúi gan luôn!
Tôi nhìn hắn một lúc, cố tìm ra một nét Việt Nam trên con người hắn. Thật tình, hắn không có nét gì lai hết. Hắn lớn con, nước da không đến nỗi đen thùi lùi như phần đông dân chúng ở xứ này, nhưng vẫn không có được cái màu cà phê lợt lợt để thấy có chút gì khác khác. Tóc xoắn sát da đầu, mắt lồi môi dầy
Tôi chợt nói, nói một cách máy móc:
- Thấy cháu chẳng có lai chút nào hết!
Hắn nhìn thẳng vào mắt tôi, giọng nghiêm trang:
- Có chớ bác. Con có lai chớ bác.
Hắn xòe hai tay đưa ra phía trước, lật qua lật lại:
- Bên nội của con là nằm ở bên ngoài đây nè.
Rồi hắn để một tay lên ngực, vỗ nhè nhẹ về phía trái tim:
- Còn bên ngoại của con, nó nằm ở bên trong. Ở đây, ở đây nè bác.
Bỗng giọng hắn nghẹn lại:
- Con lai Việt nam chớ bác!
Trong khoảnh khắc, tôi xúc động đến quên mất màu da đen của hắn, mà chỉ thấy trước mặt tôi, một thanh niên Việt Nam, Việt Nam từ cử chỉ tới lời lẽ nói năng. Tôi vói tay vỗ nhẹ lên vai hắn mấy cái, gật đầu nói:
- Bác thấy. Bây giờ thì bác thấy!
Hắn mỉm cười:
- Ở đây người ta nói con không giống ai hết, bởi vì con hành động cư xử, nói năng không giống họ. Bà nội con cũng nói như vậy nữa! Còn con thì mỗi lần con nhìn trong kiếng, con vẫn nhận ra con là người Việt Nam. Bác coi có khổ không?
Rồi nó nhìn tôi, một chút trìu mến dâng lên trong ánh mắt:
- Bây giờ con gặp bác rồi, con thấy không còn cô đơn nữa. Gặp một người giống mình, ở cái xó xa xôi hẻo lánh này, thiệt là Trời còn thương con quá!
Tôi im lặng nghe hắn nói, nhìn hắn nói mà có cảm tưởng như hắn đang nói cho cả hai: cho hắn và cho tôi. Bởi vì cả hai cùng một tâm trạng
Hắn vẫn nói, như hắn thèm nói từ lâu:
- Nhớ Sài Gòn quá nên con hay ca vọng cổ cho đỡ buồn. Hồi nãy bác lại đây là lúc con đang ca bài " Đường về quê ngoại " đó bác.
- Bác không biết ca, nhưng bác rất thích nghe vọng cổ.
Giọng nói của hắn bỗng như hăng lên:
- Vọng cổ là cái chất của miền Nam mà bác. Nó không có lai Âu lai Á gì hết. Nó có cái hồn Việt Nam cũng như cá kho tộ, tô canh chua. Bác thấy không? Bởi vậy, không có gì nhắc cho con nhớ Việt Nam bằng bài ca vọng cổ hết.
- Bác cũng vậy.
Tôi nói, mà thầm phục sự hiểu biết sâu sắc của hắn. Và tôi thấy rất vui mừng có một người như vậy để chuyện trò từ đây về sau
Có tiếng máy bay đang đánh một vòng trên trời. Chúng tôi cùng đứng lên, hắn nói:
- Nó tới rồi đó. Con phải sửa soạn xe trắc-tơ và rờ-mọt để lấy hành lý. Con làm việc cho hãng Air Afrique, bác à.
Rồi hắn nắm tay tôi lắc mạnh:
- Thôi, bác đi mạnh giỏi. Con tên là Jean. Ở đây ai cũng biết " Jean le vietnamien " hết. Chừng về bác ghé con chơi, nghen.
Bỗng, hắn ôm chầm lấy tôi siết nhẹ, rồi giữ như vậy không biết bao nhiêu lâu. Tôi nghe giọng hắn lạc đi:
- Ghé con nghe bác Ghé con
Tôi không còn nói được gì hết. Chỉ vừa gật gật đầu, vừa vỗ vỗ vào lưng hắn như vỗ lưng một người con
Khi hắn buông tôi ra, tôi thấy hai má của hắn ướt nước mắt. Tôi vội vã quay đi, lầm lũi bước nhanh nhanh về nhà ga mà nghĩ thương cho "thằng Jean le vietnamien" . Hồi nãy, nó ôm tôi, có lẽ nó đã tưởng tượng như là nó đang ôm lại được một góc trời quê mẹ
Trên máy bay, tôi miên man nghĩ đến "thằng Jean" rồi tự hứa sẽ gặp lại nó thường. Để cho nó bớt cô đơn. Và cũng để cho tôi bớt cô đơn nữa!
Bây giờ, viết lại chuyện thằng Jean mà tôi tự hỏi:
"Trong vô số người Việt Nam lưu vong hôm nay, còn được bao nhiêu người khi nhìn trong gương vẫn nhận ra mình là người Việt Nam?"
"Và có được bao nhiêu người còn mang mểnh trong lòng bài ca vọng cổ, để thấy hình ảnh quê hương vẫn còn nằm nguyên trong đó?"
TIỂU TỬ

30-4-2021 5pm Asian Village 9191 Bolsa Ave Westminster, CA 92683 Tưởng Niệm Tháng 4 đen


 

Tháng 4 đen

Xin kính chuyển đến Quý Vị, Quý NT và CH...
Để ngâm ngùi, thương tiếc, tưởng nhớ đến một quê hương yêu dấu đã rơi vào tay giặc thù phương bắc.
Tưởng niệm Quốc hận 30 Tháng Tư, Năm thứ 46.
Tưởng niệm và Tri ân Quân, Dân, Cán, Chính, Cảnh Việt Nam Cộng Hòa đã vì nước hy sinh...
Tri ân và quan tâm đến Thương Binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa,
đang sống những ngày cuối đời, trong cơ cực, nghèo khổ và bệnh tật tại quê nhà..
Trân trọng..
BMH ///
Washington, D.C 
Sinh viên Pháp để tang VNCH ngày 27-4-75
Ngày Mất Quê Hương.jpg
Đây là một tấm ảnh rất cảm động ghi lại cuộc biểu tình của sinh viên Việt Nam tại Paris ngày 27/4/75, ba ngày trước khi Saigon sụp đổ. Lúc đó trong nước chúng ta vẫn chưa biết đất nước sẽ đi về đâu, nhưng tại Âu châu, nhất là tại Pháp mọi người đã biết số phận của VNCH. Các bạn sinh viên Việt Nam đều đã để tang cho một Dân Tộc, một Đất Nước, lá Đại Kỳ VNCH đã được rước đi khắp quận 13, thành phố Paris. Bức ảnh được mot sinh viên tốt nghiệp KTS tại Pháp trước 75 scan lại từ một tờ báo Pháp mà anh đã cất giữ từ ngày đó.
Tôi cũng không ngờ, khi chụp tấm hình anh chị em sinh viên Paris vào một ngày cuối tháng Tư, 1975, ngày mà họ cấp bách làm một cuộc xuống đường qua các dãy phố thành phố Paris, để ủng hộ miền Nam Việt Nam và tưởng nhớ tới những chiến sĩ thân yêu đang hy sinh trong giai đoạn mịt mù khói lửa này, lại là một tấm hình lịch sử, đánh dấu sớm ngày tang thương của đất nước. Chỉ sớm trước có 3 ngày.
Phải, trước đó, ròng rã suốt tháng Ba, hình ảnh trên TV cho thấy người dân Ðà Nẵng chạy loạn, hình ảnh các chiến trận hoang tàn, rồi cuộc rút lui chiến thuật bỏ đứt vùng cao nguyên, rồi việc Tổng Thống Thiệu từ chức, v.v… đã dồn dập chiếm trọn giờ tin tức trên đài truyền hình, khiến cho người sinh viên Việt, sống xa quê nhà có cảm tưởng như đang ngồi trên lửa bỏng.
Tổng Hội Sinh Viên tại Paris do anh Trần Văn Bá làm chủ tịch lúc đó, đã quyết định phải làm một cái gì để nâng đỡ tinh thần bên quê nhà, mong ước chuyển về bên ấy chút tâm hiệp với các chiến sĩ đang khốn đốn vì bom lửa đạn. Họ, những người sinh viên thuộc vùng Paris và những vùng lân cận Orsay-Antony, Nanterre, đã kêu gọi nhau cùng tổ chức “Một Ngày Cho Quê Hương”.
Trước tiên, phải là một cuộc xuống đường để ủng hộ miền Nam.
Ngày 27 tháng Tư, mọi người hẹn nhau tại Cư Xá Sinh Viên Quốc Gia trên đường Bertholet. Cư xá là một khách sạn 7 tầng, Hotel Lutèce, được sinh viên âu yếm gọi là Nhà Lý Toét, nằm ngay trong khu La Tinh, trung tâm của các ngôi trường đại học lớn của thủ đô Paris.
Hotel Lutèce được chính phủ VNCH thuê dài hạn từ nhiều năm, để những sinh viên tá túc trong những năm đầu khi họ từ Việt Nam qua Paris du học, giống như một ký túc xá.
Sinh viên đồng lòng thúc đẩy anh em xuống đường trong tinh thần tưởng nhớ những chiến sĩ đã hy sinh tại quê nhà để bản thân mọi người được tiếp tục trau dồi việc học nơi xứ người.
Từng thước vải đen được trải ra, những dòng chữ “Vinh Danh Các Chiến Sĩ Ðã Nằm Xuống Cho Tự Do,” “Miền Nam Tự Do Bất Diệt,” “Ngày Ðại Tang,” v.v… được viết bằng tiếng Pháp, chữ trắng trên nền vải đen.
Mỗi người tự chít cho mình vành khăn trắng trên trán, phần để nói lên tâm nguyện của mình, phần để nhận diện nhau, tránh sự trà trộn trong lúc diễn hành của những phần tử “không quốc gia,” muốn phá hoại.
Ðúng 3 giờ trưa, anh em sinh viên bắt đầu cuộc tuần hành trong thầm lặng qua các dãy phố của Quận 5, khu đại học. Biểu ngữ được giương cao, bát nhang, lá quốc kỳ màu vàng ba sọc đỏ được căng rộng bốn góc, dẫn đầu cuộc tuần hành dài cả trăm người.
Hoàn toàn trong im lặng, không hoan hô, đả đảo. Một sự chịu đựng đầy tôn nghiêm và trật tự. Khởi đầu đoàn người bắt đầu đi từ đường Gay Lussac, một đại lộ sát nách với Ðiện Panthéon, nơi chôn cất những vĩ nhân của nước Pháp như Voltaire, Victor Hugo, Marie Curie, v.v… Họ đi dọc xuống tới vườn Luxembourg, rồi quẹo mặt ra đường Boulevard St. Michel, đi ngang trước cửa trường La Sorbonne, ngôi trường Văn Khoa và Luật Khoa nổi tiếng của Paris. Ðoàn người qua chiếc cầu Pont St. Michel, sau đó đổ ra đại lộ Rivoli rồi trực chỉ nhắm công trường La Concorde đi tới.
Chữ La Concorde có nghĩa là “Ðồng Tâm”. Anh em sinh viên, những đứa con của miền Nam, đang thực sự hướng về quê nhà, đang thực sự đồng tâm chia sẻ nỗi điêu đứng của đất nước trong giai đoạn tàn tạ khốn đốn này.
Bên đường, tiếng la lối của nhóm thiên tả cũng nhiều, tiếng khích lệ từ những người lớn lái xe qua “sao không làm sớm hơn?” cũng không ít.
Anh chị em sinh viên vẫn âm thầm tiến bước. Ban báo chí của tổng hội trao tay cho những người qua đường những tờ bươm bướm in bằng máy roneo nói lên tình trạng của một nước tự do nhỏ bé đang bị cả khối Cộng Sản phụ nhau lấn chiếm.
Cuộc tuần hành, không có giấy phép của Tòa Đô Chính. Tình trạng đất nước đang ở giai đoạn khẩn trương, không còn thì giờ để xin phép qua thủ tục hành chánh rườm rà. Vả lại đơn xin chắc chắn cũng sẽ bị Tòa Ðại Sứ Bắc Việt và cánh tả Pháp thiên Cộng phản đối, ngăn chặn.
Bởi vậy phải tính chuyện liều mạng tổ chức một cuộc tuần hành chớp nhoáng, trong trường hợp bị chặn lại, cũng sẽ có tiếng vang trong giới báo chí, vẫn sẽ có những phản ứng thuận lợi về hình ảnh hiền hòa của một miền Nam đang bị xâm chiếm, trái ngược với những thỏa hiệp trong Hiệp Ðịnh Paris đã được ký kết ngay tại thành phố này.
Cuộc tuần hành tuy không hợp lệ, nhưng lại là một thành công. Thành công ở chỗ đã không bị giải tán trong suốt lộ trình. Cơ quan công lực thành phố Paris thấy những khuôn mặt sinh viên trẻ Việt Nam tuần hành đông đảo, nhưng nghiêm túc, trong trật tự, không la hét, đập phá nên họ lẳng lặng theo sát, cuối cùng, cấp trên của họ đã tiếp xúc thẳng tại chỗ với người đại diện của Tổng Hội Sinh Viên là anh Trần Văn Bá. Sau khi đã biết rõ chủ đích ôn hòa và lộ trình của đoàn người, chính họ lại đích thân hộ tống đoàn tuần hành, giúp giải tỏa những khúc kẹt xe do cuộc xuống đường gây nên để giao thông có thể tránh và rẽ qua những hướng khác, một cách nhã nhặn êm thấm.
Tôn chỉ của xã hội Pháp là “Liberté – Égalité – Fraternité” (Tự Do – Bình Ðẳng – Nhân Ái) quả thật đã được tôn trọng một cách dân chủ.
Riêng đối với niềm tin của những con dân đất Việt, hồn thiêng sông núi, vong linh các chiến sĩ của tiền nhân, hình như đã chứng giám và hỗ trợ cho lòng thiện tâm của lớp trẻ, nên màn đầu của chương trình “Một Ngày Cho Quê Hương” đã có được một cuộc tuần hành êm ả, thành công.
Màn sau của cuộc biểu tình đã được dự trù là sau khi đã tới được công trường La Concorde rồi, sinh viên sẽ tới ngay trước cổng Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ, nằm tại một góc của công trường La Concorde (cuối đường Rivoli) để phản đối chính sách Mỹ đã dồn miền Nam vào hoàn cảnh tang thương hiện tại.
Nhưng khi đoàn sinh viên tới sát khu Tòa Ðại Sứ Mỹ, thì nhân viên công lực Pháp, có sĩ quan cao cấp hiện diện, đã chặn đoàn biểu tình lại. Họ nhã nhặn nói: “Chúng tôi không thể để các bạn tới gần hơn nữa.”
Tôn trọng luật lệ xứ người, anh chị em sinh viên đã dàn hàng ngang tại một góc công trường La Concorde, chênh chếch đối diện với Tòa Ðại Sứ Mỹ, trang nghiêm làm nghi thức tưởng niệm các chiến sĩ và cất cao bài quốc ca miền Nam để kết thúc cuộc biểu dương tấm lòng chia sẻ nỗi đau thương với đất nước.
Tiếng hát của 300 người trẻ tuy đông đảo nhưng nghe vẫn như mất hút, lạc lõng bơ vơ giữa cái không gian bao la của một công trường rộng lớn. Lạc lõng bơ vơ như thân phận côi cút của một mảnh đất nhỏ bé đang bị bỏ rơi, nằm bên kia quá nửa vòng trái đất.
Ðoàn biểu tình sau đó kéo nhau từng nhóm nhỏ về tụ tập tại trường Chính Trị Kinh Doanh của trường Ðại Học Assas, nằm bên hông vườn Luxembourg. Giảng đường to lớn của trường đại học có khuynh hướng thân hữu này luôn luôn rộng mở cho những người con của miền Nam tự do.
Tại đây, anh chị em sinh viên của cả ba khu đại học đã làm một đêm không ngủ, có hội thảo, có ca hát. Những bài hát quê hương, tranh đấu được anh em sinh viên tự hát an ủi nhau trong giờ phút khốn đốn của miền Nam nước Việt.
Ba ngày sau, đâu ngờ, Sài Gòn thất thủ.
Thôi rồi, thế là mất hết, mất Sài Gòn, mất quê hương, mất luôn ngày về của lớp trẻ vẫn hằng mơ ước một ngày có thể đóng góp phần trí tuệ của mình cho quê hương thân yêu miền Nam.
Tran Dinh Thuc
[Ảnh] Sài Gòn, những khoảnh khắc trong ngày 30/4/1975 - ảnh 20
Chiếc nón lính Bắc cộng ngày 30.4.1975. Chụp tại cầu Thị Nghè.
Inline image
Quân Bắc cộng chạy vào Dinh Độc Lập trưa 30/4/75

 Đón người thân tù cải tạo từ miền Bắc trở về tại ga Saigon.(Saigon 1988 - Đón người thân tù cải tạo từ miền Bắc trở về ...)


Ngưòi trong ảnh là Đại tá Nguyển Công Vĩnh trước ở Sư đoàn 5.
Năm 1993, Ông định cư tại Hoa Kỳ, và đã từ trần năm 2017.
Hưởng Đại Thọ 90 tuổi.
(BMH)
Người về sau 13 năm tại miền Bắc: Ngày đi tóc vẫn còn xanh,nay về tóc râu đã bạc,hom hem trong bộ áo tù màu xám.Người vợ sau 13 năm gian khổ mỏi mòn,tóc cũng đã hoa râm,răng cũng rụng dần nhưng vẫn còn chút xuân sắc của một thời mệnh phụ.Người con,cằn cỗi với tháng năm trong một xã hội phân biệt đối xử vì cha anh là tù"cải tạo", nức nở ôm tay cha già,sau anh là em anh cũng đang lau nước mắt.
Những giọt nước mắt này phải chăng để mừng đời "giải phóng" hay ứa ra từ nỗi đớn đau của những người thua cuộc?
Bạn có thể quên vì bạn chưa sống trong trại "cải tạo" bị đầy đọa của các "quản giáo"..
Anh có thể quên vì anh ở nước ngoài từ 1975.
Em có thể quên vì em sanh ra sau 1975.
Nhưng tôi,tôi không quên được dù tôi muốn quên đi. Bức hình này làm tôi ứa nước mắt mỗi khi nhìn.Ở đó tôi thấy thân phận bạn bè tôi,đồng đội tôi,vợ con tôi và bản thân tôi của một thời dĩ vãng.
Chỉ vì tôi là người trong cuộc !
Xem bức hình dưới đây để thông cảm sự thương đau của lớp người "thua cuộc", nhưng còn những hoàn cảnh tang thương hơn nữa là những người về không ai tiếp đón, bước xuống xe, từ xa nhìn ngôi nhà cũ hay chỗ vơ con đang ở nhưng không dám vô ngay, cứ đứng từ xa mà ngắm thật lâu với cảm giác vừa hân hoan vừa hồi hộp đau xót, có thể là vợ, là con... nhưng xin nguyện cầu đừng thấy chiếc nón cối nào trong nhà...Saigon 1988 - Đón người thân tù cải tạo từ miền Bắc trở về ...

Những Hình Ảnh Sau Cùng Của Ngày 30 Tháng 4 Năm 1975

Đàn bò vào thành phố.flv - YouTube

www.youtube.com › watchNhiều hình ảnh nhân vật csvn
nhung khoanh khac quy gia ngay 30/4 anh 5
Trốn chạy cs
nhung khoanh khac quy gia ngay 30/4 anh 8
nhung khoanh khac quy gia ngay 30/4 anh 7
nhung khoanh khac quy gia ngay 30/4 anh 11
Posted on April 30, 2019 by dongsongcu
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, hầu như tất cả các báo và phương tiện truyền thông trên thế giới đều loan tin về miền Nam Việt Nam bị thảm bại trước sự xâm lăng của quân cộng sản miền Bắc.
Tờ Daily Mail của Anh in hai chữ thật lớn “THE END – Kết Thúc”, và tờ báo lớn nhất của Hoa Kỳ là New York Times với hàng tựa đề lớn trên trang đầu tiên “MINH SURRENDERS, VIETCONG IN SAIGON; 1,000 AMERICANS AND 5,500 VIETNAMESE EVACUATED BY COPTER TO U.S. CARRIERS – Minh đầu hàng, Việt cộng vào Sài Gòn; 1,000 người Hoa Kỳ và 5,500 người Việt Nam được giải cứu bằng trực thăng ra hàng không mẫu hạm của Hoa Kỳ.” Một tấm hình đã đoạt giải thưởng báo chí cho thấy cảnh một số người Việt đang chen chúc nhau để lên chiếc trực thăng đang đậu trên sân thượng của một tòa nhà ở Sài Gòn. Các tờ báo lớn khác của Hoa Kỳ như The Washington Post và The Register cũng đăng tin tương tự.

Đúng vậy, đây là một dấu chấm hết của một cuộc chiến tranh bảo vệ miền Nam Việt Nam, được sự giúp đỡ của đồng minh Hoa Kỳ và nhiều quốc gia khác, trước cuộc xâm lăng của miền Bắc, được trợ giúp bởi khối cộng sản quốc tế do Nga và Trung Cộng điều khiển, với quyết tâm xâm lăng như Lê Duẩn đã tuyên bố “Ta đánh Mỹ là đánh cả cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc.” Một câu nói chứng tỏ dã tâm của kẻ xâm lăng, và một bức hình cho thấy người bạn đồng minh vẫn cố giúp đỡ người dân Việt Nam cho đến giờ phút sau cùng.
Thành ngữ có câu “Một bức hình có giá trị hơn ngàn lời nói” quả nhiên là đúng như thế.
Gia đình của các nhân viên làm việc cho chính phủ Hoa Kỳ được giải cứu bằng trực thăng ở những địa điểm khác nhau trong thành phố.
Những người dân hốt hoảng tìm phương cách thoát khỏi tai họa cộng sản bằng cách leo vào các căn cứ của người Hoa Kỳ để hy vọng được cứu thoát.
Và rồi, những gì phải đến đã đến, khi chiếc xe tăng của quân cộng sản Bắc Việt ủi xập cổng, tiến vào dinh Độc Lập
sau khi Dương Văn Minh lên tiếng trên đài phát thanh kêu gọi toàn thể quân đội Việt Nam Cộng Hòa buông súng đầu hàng.
Trong bất cứ một cuộc tranh đua hay chiến tranh nào thì cũng phải có hồi kết cuộc. Người xưa có câu “Không đem thắng bại để luận anh hùng” mà trong cơn nguy biến thì mới rõ ai là kẻ hèn nhát và ai là người anh hùng. Kẻ hèn nhát Dương Văn Minh đã tuyên bố đầu hàng cộng sản Bắc Việt, và bức hình trên cho thấy hình dạng hèn nhát, cúi đầu chịu nhục của Dương Văn Minh trước quân xâm lăng.
Trong nguy khốn mới rõ mặt anh hùng. Trung Tá cảnh sát Nguyễn Văn Long đã tự sát trước tượng đài Thủy Quân Lục Chiến để bảo toàn danh dự của một một sĩ quan bị bắt buộc phải buông súng đầu hàng quân địch.
Một số đơn vị quân đội vẫn can đảm chiến đấu cho đế giờ phút chót.
Hình ảnh kiêu hùng của những người lính chiến đấu trong những giờ phút cuối cùng của cuộc chiến đã được
ghi nhận bởi các ký giả ngoại quốc đã được đài truyền hình CBS của Hoa Kỳ trình chiếu.
Nét hân hoan trên gương mặt của kẻ “thắng cuộc” lần đầu tiên được nhìn thấy sự phồn vinh của miền đất tự do và những tiện nghi của người dân thành phố.
Và họ đã “Vào” để “Vơ Vét Về” làm quà cho thân nhân của họ ở miền Bắc đói nghèo dưới sự toàn trị của đảng cộng sản.
Và rồi cả ba miền nước Việt bị nhuộm đỏ và trở nên một nhà tù vĩ đại nhất trong vùng Đông Nam Á.
Đối với những người am hiểu sự tàn ác của cộng sản thì họ phải tìm cách vượt thoát trước khi bị ràng buộc bằng gông cùm, xiềng xích trong các nhà tù của cộng sản. Tuy nhiên, chỉ một số ít đã may mắn vượt thoát nhờ những trực thăng của Hoa Kỳ và các tàu của Hải Quân VNCH cũng như một vài tàu buôn.
Một số chiến hạm của Hoa Kỳ đậu ngoài khơi, trong phạm vi hải phận quốc tế, để chờ đón những người tìm cách vượt thoát bằng đường biển. Những chiếc trực thăng của Không Quân VNCH đáp xuống Hàng Không Mẫu Hạm của Hoa Kỳ được đẩy xuống biển để dành chỗ cho những chiếc khác có thể đáp xuống và cũng để có chỗ cho người tị nạn, bởi vì trị giá của những chiếc trực thăng này không thể so sánh với trị giá của con người. Đó là điều khác biệt giữa lòng nhân đạo của đồng minh Hoa Kỳ và sự tàn ác của cộng sản Việt Nam.
Trong khi người bạn đồng minh Hoa Kỳ tìm cách cứu giúp thì đảng cộng sản Việt Nam lại tìm đủ mọi phương pháp tàn nhẫn để đày đọa những người “thua cuộc” trong các trại lao động khổ sai mà họ gán cho nhãn hiệu “trại cải tạo”. Biết bao nhiêu bi hùng ca được kể lại bởi những tù nhân sống sót và con số tử vong, cho đến ngày nay, vẫn không thể xác định được. Ngoài ra còn có biết bao nhiêu nấm mồ nơi rừng thiêng nước độc chưa được thân nhân của họ tìm ra để đem về cải táng, để ít ra họ cũng được yên nghỉ nơi phần đất quê nhà, gần với tổ tiên, gia quyến.
Những tháng, năm, sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, hàng trăm ngàn người đã tìm cách vượtt biển đi tìm tự do trên những chiếc thuyền mong manh, bất chấp hiểm nguy của sóng biển và hải tặc đang chờ đón họ ở một vùng biển cả mênh mông. Họ “đi tìm Tự Do trong cái chết.” Có ai biết được đã bao nhiêu người đã vùi thân trong lòng biển cả?
Tất cả sự việc trên đều khởi đi từ cái bắt tay của Lê Đức Thọ và Henry Kissinger trong cuộc “mua bán” miền Nam nước Việt tại Paris, thủ đô của nước Pháp, ngày 23 tháng 1 năm 1973. Cái gọi là “Hiệp Định Hòa Bình Paris – Paris Peace Accords” là bản án “tử hình” cho miền Nam Việt Nam, bởi vì nó chỉ là hình thức để che đậy sự “mua đứt” miền Nam của cộng sản Bắc Việt, vì bản chất của cộng sản là luôn luôn hứa hẹn để đạt được thỏa ước, rồi sau đó sẽ vi phạm để chiến thắng. Cố tổng thống VNCH, Nguyễn Văn Thiệu, đã để lại cho chúng ta một nhận xét rất chính xác về thủ đoạn này: “Đừng nghe những gì cộng sản nói, hãy nhìn những gì cộng sản làm.”
Đã hơn bốn mươi năm qua, kể từ ngày 30 tháng 4 năm 1975, chúng ta đã học được bài học lịch sử gì để đối đầu với cộng sản? Và nhất là với câu hỏi “Chúng ta sẽ phải làm gì để xóa bỏ chủ nghĩa cộng sản để đem lại Tự Do, Hòa Bình và Nhân Quyền thực sự cho quê hương Việt Nam yêu dấu của chúng ta?” 
Góp gió thành bão, mỗi người một chút, không ngừng nghỉ đấu tranh trong phạm vi của mình để góp phần vào việc giải thể đảng cộng sản Việt Nam. Điều quan trọng là chúng ta không nản lòng, không ngừng nghỉ. Quý vị nghĩ sao về câu nói của Mục Sư Martin Luther King:
If you can’t fly then run, if you can’t run then walk, if you can’t walk then crawl, but whatever you do you have to keep moving forward.
Nếu bạn không thể bay thì hãy chạy, nếu bạn không thể chạy thì hãy bước, nếu bạn không thể bước thì hãy bò, nhưng dù bằng cách nào đi chăng nữa bạn cũng phải tiếp tục tiến về phía trước.
Lâm Viên

*Những Ngày Cuối Cuộc Chiến tại Miền Nam Việt Nam
Nhìn Ra Bốn Phương : Những Ngày Cuối Cuộc Chiến tại Miền Nam Việt Nam - (30/4/1975 ) - Vũ Hoàng Lân (phổ biến) (nhinrabonphuong.blogspot.com)