Saturday, August 17, 2019

30 Tháng Tư: Truyện Một Cây Cầu Tác giả: Lê Nguyên Hằng & Nguyễn Thạch Hãn


Đã 40 năm sau trận Đại Hồng Thủy, những người bỏ nước ra đi tỵ nạn vẫn không quên bản thân mình đã chịu đựng bao nhiêu khổ đau mất mát. Đại nạn đó to hơn cả “sóng thần”, tàn phá hơn cả một trận động đất, ghê gớm hơn một bệnh dịch lây lan giết người hàng loạt một cách nhanh chóng, tàn bạo hơn nạn thổ phỉ cướp của giết người đốt phá nhà cửa làng mạc. Bởi vì những thiên tai chỉ xảy ra một lần trong một thời gian ngắn ngủi, rồi qua đi nhanh chóng, những mất mát chỉ là sinh mạng và vật chất. Cuộc xâm chiếm của người miền Bắc không những làm tan nát bao nhiêu sinh mạng, gia đình, tài sản mà luôn cả luân lý, đạo đức, văn hóa, nghệ thuật và phong cách của người miền Nam.
Khi chúng ta leo lên con thuyền vượt biển là đã chấp nhận lấy tính mạng để thách đố với định mệnh. Dù gặp bất cứ tình huống nào ở cuối con đường vẫn tốt hơn là ở lại với Cộng Sản. Ra đi là mất tất cả, những gì còn lại chỉ là một ý chí quyết làm lại từ đầu. Chúng ta những người định cư trên đất Mỹ được hít thở không khí tự do, được thấy mình vẫn còn là một con người với đầy đủ bổn phận và quyền lợi chính đáng. Với hai bàn tay cần cù và khối óc nhẫn nại, chịu khó, chẳng bao lâu cuộc sống trở nên ổn định. Nhưng vật chất là cái gì dễ kiếm lại được, còn mất mát tinh thần, gia đình người thân, cha mẹ, vợ con, anh em, bạn bè, người tình thì làm sao đây? Chúng tôi muốn kể hầu quý vị chuyện tình của một người lính tha hương về tìm lại cố nhân.

*
Tôi đứng ngay tại Ngã Ba Hàm Rồng nhìn dáo dác chung quanh. Buổi trưa nắng chang chang. Thỉnh thoảng một cơn gió nổi lên cuốn theo những đám bụi đỏ mù trời. Tôi dụi mắt mấy lần cố tìm những gì thân quen của một quá khứ yêu dấu xa xưa. Người tài xế của hãng du lịch chạy đến bên tôi thắc mắc:
- Anh kiếm cái gì thế ? Con đường trước mặt đi về hướng Phú Nhơn đến tận Ban Mê Thuột, bên trái là ngõ về quận lỵ Phú Thiện và tỉnh Phú Bổn, còn đằng sau là con đường mình mới từ Pleiku ra đây. Anh muốn đi đâu thì cứ cho tôi biết, tôi sẽ đưa anh đến nơi đến chốn.
Không lưu tâm gì đến anh tài xế, tôi vẫn đứng yên đó thầm nghĩ:
- Dù đã lâu lắm rồi nhưng làm sao quên được. Mình đã để lại một đoạn đời hoa bướm, một mối tình đầu tha thiết nơi rừng núi này. Quang cảnh chung quanh vẫn vậy, nhưng con đường trải nhựa có thêm nhiều ổ gà, vắng người qua lại và hàng quán xơ xác tiêu điều hơn xưa.
Rồi tôi trả lời bâng quơ:
- Tôi đang chụp hình.
- Tôi đâu thấy anh mang máy hình?
- Ồ, chụp hình trong đầu ấy mà.
Nguời tài xế há hốc mồm ra ngạc nhiên, anh ta nói lẩm bẩm trong miệng nhưng đủ cho tôi nghe rõ:
- Mấy ông nội Việt Kiều thật là lẩm cẩm.
Tôi leo lên xe và hối người tài xế chạy về phía quận Phú Nhơn. Chiếc xe mướn của hãng du lịch tương đối còn mới, lồng lộn lao về phía trước, lúc nghiêng qua trái, lúc lách qua phải để tránh những ổ gà và khúc đường bể chưa được sửa chữa. Mà có lẽ sẽ chẳng bao giờ được sửa chữa nữa. Hàng trăm thứ chuyện quan trọng hơn người ta còn chẳng thèm để ý tới, xá gì một con đường nhỏ ở một thành phố xa xôi hẻo lánh này. Để mặc tài xế đánh vật với chiếc xe và con đường, tôi thả hồn chìm về dĩ vãng...
Ngày ấy đã xa lắm rồi…
*
Tôi, một Thiếu Úy trẻ măng vừa đổi về đơn vị mới thành lập. Tiểu Đoàn tân lập, từ sĩ quan đến binh lính, hầu hết là những thành phần khó xài từ các đơn vị khác bị tống về đây. Dĩ nhiên tôi cũng ở trong đám người bất hảo đó. Từ miền biển bị đưa lên miền núi và chỉ huy một đám quân hỗn tạp gồm đủ mọi tầng lớp. Tôi còn đang tập những bước đi chập chững của nghề chỉ huy thì bị quăng ra chiến trường. Ngày ấy, cũng trên con lộ này, tôi dẫn hai con Gà Cồ Đại Pháo 105 ly để yểm trợ cuộc hành quân trực thăng vận tái chiếm quận lỵ Phú Nhơn mà Bắc Quân vừa mới tràn ngập đêm hôm trước.
Ngã ba này bình thường chỉ có vài quán cóc lèo tèo để bán đồ ăn thức uống cho khách của xe đò chạy đường Pleiku - Phú Bổn hay Pleiku – Ban Mê Thuột. Hôm đó dân chạy loạn từ Phú Nhơn ra rất đông, từ những làng Thượng, hoặc mấy khu dinh điền và những người làm ăn buôn bán chung quanh quận lỵ. Đồng bào thấy lính đi tái chiếm quận, họ rất mừng rỡ, người hỏi thăm, người cho quà bánh. Để đáp lại tấm thạnh tình, những người lính tặng lại dân chúng thuốc lá và những đồ hộp Quân Tiếp Vụ. Họ ở quận nhỏ xa xôi cũng nghèo khổ như lính vậy thôi.
Từ sáng sớm, lo đốc thúc tải đạn, sửa soạn xe cộ, đại bác, hàng trăm thứ phải làm cho một cuộc trực thăng vận, cho nên bao tử đã cồn cào. Phi cơ câu súng đại bác phải xin từ căn cứ Mỹ ở Quy Nhơn lên, nên chờ cũng còn lâu. Tôi rủ anh chàng Chuẩn Uý Trung Đội Phó kiêm Đề Lô vào quán bên đường kiếm cái gì lót bụng. Dân quận lỵ bu lại hỏi thăm tình hình, đánh nhau có lâu không? chừng nào có thể về quận được? Toàn những câu hỏi mà chỉ có Trời mới trả lời được.
- Mấy anh ấy đi giải toả quận Phú Nhơn phải không ông chủ.
- Tôi đoán vậy, cô thử hỏi mấy ổng coi.
Tôi quay lại, người vừa hỏi là một thiếu nữ độ đôi mươi, nàng mặc chiếc áo dài trắng học trò, trông rất hiền thục, đang hỏi thăm người chủ quán, tôi hỏi lại cô gái:
- Sao cô đoán tụi này đi giải tỏa Phú Nhơn?
- Em mới từ Tuy Hòa lên Pleiku hôm qua. Sáng nay đáp xe đò vô quận, không ngờ kẹt từ sáng đến giờ.
- Cô cũng ở quận Phú Nhơn sao?
- Em dạy ở trường tiểu học Phú Nhơn, còn nhà em ở Tuy Hòa.
- Cô nên về Pleiku kiếm chỗ ngủ đỡ qua đêm nay.
- Em không có ai quen ở Pleiku cả, vả lại em nóng lòng không biết nhà cửa, trường ốc ra sao?
- Cô có lo lắng thì cũng chẳng làm gì được, tốt hơn hết là kiếm chỗ nào nghỉ đỡ qua đêm nay, chờ giải tỏa xong mới về được.
- Đám học trò của em chạy ra đây cũng đông lắm, em không thể bỏ chúng được. À này các anh đừng pháo vào trường học nghe.
Tôi vỗ vai Châu Đề Lô vừa cười vừa nói:
- Cái đó cô phải nhờ ông Châu mới được, ổng chỉ đâu là nơi đó thành bình địa.
Châu vội lên tiếng:
- Trường của cô giáo tụi này không dám đụng tới đâu.
Tôi chế diễu Châu:
- Bạn hứa một mình chứ không có tôi can dự trong đó đâu nghe. À nãy giờ mình nói chuyện mà quên giới thiệu. Tôi tên Lập, anh bạn này tên Châu. Còn quý danh cô là...
- Em tên là Quỳnh Hoa, các anh hứa là phải giữ lời đó nghe!
Tôi chọc ghẹo Quỳnh Hoa:
- Nếu thế thì Quỳnh Hoa phải đền cái gì mới được chứ?
Tôi nhìn người con gái nước da trắng hồng, mịn màng như trứng gà bóc, đôi môi đỏ như cánh hoa đào, cặp mắt to đen láy trông thật thông minh lanh lẹ, mái tóc thề phủ xõa ngang lưng, nụ cười tươi với hàm răng đều đặn như những hạt bắp vừa đủ lớn. Nhìn Quỳnh Hoa đứng giữa đám học trò nhà quê lem luốc bẩn thỉu, tôi có cảm tưởng nàng là bà tiên giáng trần, đang cầm cây đũa thần gõ trên đầu đám chúng sinh đầy đau khổ. Nàng rất bạo dạn tuy hơi lo lắng, nhưng không có cái e lệ như những cô gái kinh thành. Tôi thầm hỏi:
- Bông hoa vương giả này sao lại mọc ở chốn rừng không mông quạnh này nhỉ?
Quỳnh Hoa thấy tôi nhìn cô chăm chú, có vẻ mắc cỡ đôi má càng hồng hào thêm. Còn đang phân vân chưa biết trả lời ra sao, Châu vội đề nghị:
- Thôi bữa nào giải tỏa xong, đãi tụi này một bữa cơm dân dã được không Quỳnh Hoa?
- Em nấu ăn dở lắm, nhưng em sẽ đãi các anh một chầu bún bò Huế, được không?
Tôi làm bộ nuốt nước miếng:
- Ôi chao, chưa thấy mùi sả mà đã thèm nhỏ giãi rồi.
Có tiếng trực thăng từ xa vọng lại, chúng tôi từ giã Quỳnh Hoa rồi vội vã đốc thúc anh em binh lính để cuộc di chuyển được mau chóng. Bình, anh chàng tài xế xe jeep của tôi chạy lại hỏi:
- Mình cần về hậu cứ lấy thêm gì nữa không Ông Thầy?
- Chắc đủ rồi, vả lại cũng không còn kịp nữa.
Tôi móc túi đưa cho Bình một ít tiền lẻ và nói:
- Em vào trong quán mua vài gói mì và một hộp trà, tối nay mình ăn mừng chiến thắng.
Bình cầm tiền, nheo mắt chọc tôi:
- Cái cô hồi nãy coi bộ chịu đèn Ông Thầy lắm rồi đó nghe.
Tôi thấy thích thú trong lòng nhưng cũng giả vờ chống chế:
- Con gái đời nay đẩy đưa lắm, đừng tưởng bở.
Trời bắt đầu đổ mưa khi trực thăng vừa bốc hai khẩu đại bác. Tôi nhìn bầu trời đen nghịt mà lo lắng cho những giờ phút gian lao nguy hiểm sắp tới bởi vì tôi vừa phải chiến đấu với địch quân vừa phải yểm trợ cho quân bạn ngay từ phút đầu trong thời tiết mưa gió bão bùng này. Những cơn mưa trên miền núi thường dai dẳng và mang theo gió lạnh thấm đến tận xương tủy của những người lính pháo thủ, vừa thiếu ăn vừa phải làm việc cực nhọc. Tôi thầm hỏi liệu đêm nay trực thăng có kịp đổ quân để bảo vệ hai con gà cồ của mình không?
Hai khẩu đại bác cùng với 4 túi đạn 105 ly và chiếc xe Jeep được thả xuống một ngọn đồi trọc. Dưới cơn mưa tầm tã, đất đỏ lầy lội, đám pháo thủ thoăn thoắt làm việc, hì hục đẩy hai khẩu pháo lại gần nhau, khuân vác đạn dược, dựng cây truyền tin, nhắm hướng súng. Chỉ trong vòng nửa tiếng đồng hồ, những trái đạn đầu tiên đã được phóng đi liên tục để dọn bãi đáp cho hai tiểu đoàn bộ binh đổ bộ xuống mục tiêu.
Trận tái chiếm quận Phú Nhơn hôm đó đã thành công hoàn toàn nhưng Châu Đề Lô đã bị thương nặng, một mảnh đạn B40 của địch quân đã chọc một lỗ lủng lớn ở bụng của hắn. Toán pháo binh được di chuyển về phía sau quận hành chánh để sẵn sàng yểm trợ cho lực lượng bảo vệ quận.
Một buổi sáng, sau khi sửa sang tuyến phòng thủ tạm ổn định, tôi ghé thăm Quỳnh Hoa. Ngôi trường chỉ bị thiệt hại nhẹ. Anh em quân nhân trong quận đang giúp một tay sửa sang những chỗ bị trúng đạn. Tôi đến bên lớp học của Quỳnh Hoa, nàng đang say sưa tập hát cho các em nhỏ. Có tiếng một em bé báo động:
- Thưa cô có ông lính tới kiếm.
Nàng quay lại, gật đầu chào. Tôi ướm thử xem nàng còn nhận ra tôi không:
- Ông lính kính chào cô giáo, cô giáo còn nhớ ông lính này không?
Nàng không thể nhịn cười được lối diễu cợt của tôi, nhưng cũng chẳng chịu thua:
- Ông lính đi đâu mà lạc vô đây?
- Ông lính đi lạc vào thiên thai đó ạ. - Ông lính tỉnh lại đi, đây là chốn trần gian, làm gì có nàng tiên nào đâu.
- Chứ Quỳnh Hoa không phải là tiên sao?
Nàng nghe tôi khen không khỏi e thẹn:
- Anh Lập làm Quỳnh Hoa mắc cỡ quá hà! Người ta xấu như ma mà so sánh với tiên, anh có mơ ngủ không đấy? Anh Châu có khỏe không anh Lập?
- Châu bị thương nặng đang nằm ở quân y viện Pleiku.
- Trời ơi, có nguy hiểm lắm không anh?
Thấy mặt Quỳnh Hoa biến sắc, tôi thấy hơi ghen tỵ với bạn mình, nhưng vội trấn an:
- Chắc không đến nỗi nào, nhưng phải nằm nhà thương một thời gian.
- Hôm nào anh có đi thăm anh Châu cho em đi theo với nghe.
Tôi tự nhủ thầm sao nàng dễ xúc động như vậy nên hứa đại cho xong chuyện:
- Cuối tuần tôi phải về hậu cứ nhân tiện ghé đón Quỳnh Hoa đi thăm ông Châu luôn thể, được không?
- Gia đình ảnh đã biết tin chưa vậy anh Lập?
- Gia đình ảnh ở Pleiku đã được thông báo rồi.
Tôi hỏi thăm qua loa về tình trạng trường ốc và nơi ở của nàng rồi vội vã cáo lui, hẹn gặp lại sáng thứ bảy. Quỳnh Hoa hiện ở trọ tại nhà bà Hiệu Trưởng, một người bạn cũ của gia đình nàng. Chồng bà cũng là một cựu quân nhân giải ngũ, có tiệm tạp hóa ngoài chợ.
Sáng thứ bảy, tôi cho tập họp trung đội, giao doanh trại cho Ông Thượng Sĩ Thường Vụ rồi hối đám quân xa chuẩn bị xe cộ về hậu cứ lãnh lương thực và đạn được. Tôi gọi Bình vào văn phòng rồi dặn:
- Bình à, coi lại xe cộ, xăng dầu đầy đủ, bữa nay mình về hậu cứ đồng thời ghé thăm ông Châu luôn thể. À hôm nay có một người bạn xin quá giang nữa nghe.
- Ai vậy ông thầy?
- Cô giáo bữa mình gặp ngoài ngã ba Hàm Rồng đó nhớ không chú mày.
- Ồ, vậy em phải rửa xe cho thật sạch mới được.
- Lính tác chiến mà chú mày làm như lính kiểng ở thành phố không bằng, không sợ tụi hậu cứ nó cười sao?
- Sức mấy mà tụi nó dám cười thầy trò mình.
Tôi ghé lại nhà Quỳnh Hoa, nàng đã chờ sẵn, vẫn chiếc áo dài trắng hôm nào. Nét mặt vui vẻ, nụ cười tươi như hoa trông mới duyên dáng làm sao! Nàng bước ra cửa đón tôi:
- Chào anh, mời anh vào trong nhà uống miếng nước đã.
- Chào cô Quỳnh Hoa, cám ơn cô để khi khác, thôi chúng ta lên đường kẻo trễ.
Đến hậu cứ, tôi nhận tiếp liệu rồi hẹn tất cả tập trung lúc 2 giờ chiều để trở ra Phú Nhơn. Tôi chở Quỳnh Hoa vào bệnh viện. Châu vẫn còn thiếp trong giấc ngủ mê, khuôn mặt trắng bệch, hơi thở yếu ớt. Bà mẹ của Châu nhìn thấy chúng tôi thì không cầm nổi nước mắt. Bà bắt đầu thút thít khóc. Tôi tự hỏi trong những ngày qua người mẹ đau khổ này đã đổ bao nhiêu nước mắt cho đứa con yêu dấu của mình. Chiến tranh thật tàn nhẫn! Nó như một con quỷ luôn luôn cười cợt trên sự đau khổ của con người. Nó lấy xác chết làm chiến lợi phẩm. Quỳnh Hoa nhìn thấy Châu, bỗng hai hàng lệ tuôn trào. Tôi đưa chiếc khăn tay, nàng cầm lấy, che lên mắt và đi vội ra ngoài. Tôi không ngờ nàng quá nhạy cảm và thương tâm như vậy đối với một người bạn mới quen. Tôi an ủi bà mẹ của Châu mấy câu rồi vội vã đi tìm Quỳnh Hoa. Nhìn nàng đứng dựa chiếc cột ngoài hành lang bệnh viện, đôi vai rung lên từng hồi, có lẽ nàng đã quá xúc động. Tôi chẳng biết làm sao để an ủi nàng. Miệng lưỡi cứng đơ, chân tay thừa thãi, tôi lặng lẽ đến bên nàng, mắt tôi cũng bắt đầu nhòa lệ, tôi ôm lấy đôi vai bé bỏng của nàng. Quỳnh Hoa quay mặt lại và úp mặt vào vai tôi khóc nức nở như một đứa con nít. Có lẽ những đau khổ thầm kín lâu nay được dịp tuôn ra theo dòng nước mắt. Tôi để mặc nàng khóc cho vơi mối thương tâm. Một vài người đi ngang dòm chúng tôi với đôi mắt dò hỏi rồi bỏ đi. Chuyện khóc lóc có lẽ quá bình thường ở nhà thương. Một lúc sau nàng im lặng, chỉ còn những tiếng nấc nghẹn ngào. Tôi an ủi nàng:
- Em đừng khóc nữa, anh Châu chắc không đến nỗi nào đâu, mẹ ảnh nói bác sĩ cho hay ảnh đã qua cơn hiểm nghèo rồi chỉ chờ bình phục thôi.
Nàng thì thầm bên tai tôi:
- Em nhớ ba em hồi đó, cũng nằm ở bệnh viện này trong cơn hấp hối, nên em không cầm nổi nước mắt, xin anh tha lỗi cho em.
- Anh xin lỗi em, không ngờ cuộc thăm viếng này đã gợi cho em những đau đớn như vậy.
- Anh đừng nói vậy, anh không có lỗi gì cả, chỉ vì em tủi thân đó thôi.
Khi đã tỉnh trí, nhìn thấy một bên vai áo tôi ướt đẫm nước mắt, có lẽ thấy hơi ngượng ngùng nên Quỳnh Hoa đẩy nhẹ tôi ra và lí nhí mấy lời xin lỗi. Tôi vội dìu nàng ra xe và rủ ra ngoài phố kiếm gì ăn. Tôi dẫn Quỳnh Hoa vào quán như một đôi tình nhân gắn bó bên nhau. Những cặp mắt nhìn soi bói của đám thực khách mà quá nửa là lính tráng khiến nàng bối rối, ngượng ngùng.
Tôi nhìn nàng với đôi mắt nồng nàn, thầm cám ơn Thượng Đế đã cho tôi có dịp làm quen với người con gái dễ thương và thùy mị như vậy.
Sự hiện diện của Quỳnh Hoa trong đời sống cô đơn và đầy hiểm nguy ở nơi tiền đồn bất trắc khiến tôi thấy những gánh nặng trên vai bỗng nhẹ hẳn đi. Quỳnh Hoa là một dòng suối ngọt, một bóng mát, một hy vọng, một nơi yên tĩnh, êm đềm cho linh hồn và thể xác mệt mỏi của tôi trong cuộc chiến tàn nhẫn đầy máu và nước mắt này. Tôi vẫn chưa hiểu tường tận mối đau lòng của nàng khi thăm Châu trong bệnh viện nên muốn tìm hiểu thêm:
- Quỳnh Hoa ở Phú Nhơn lâu chưa?
- Độ gần một năm thôi, em ra trường sư phạm cấp tốc rồi xin đổi về đấy ngay.
- Sao em không xin dạy ở gần nhà có phải tiện hơn không?
- Ngày xưa, ba em làm Quận Trưởng Phú Nhơn. Người đã bỏ cả cuộc đời để xây dựng và cải tiến cái quận đèo heo hút gió này. Thời Đệ Nhất Cộng Hòa, dân chúng từ miền ven biển và từ ngoài Bắc di cư lên đây lập nghiệp rất đông, đã được chính quyền tận tình giúp đỡ. Nhưng rồi trong một cuộc đi thăm đồn điền của một xã phía tây quận lỵ, ba em đã lọt vào ổ phục kích và bị sát hại. Em lớn lên, muốn tiếp nối cái hoài bão của ba em là nâng cao dân trí để họ có thể hiểu được ý nghĩa của sự tự do, dân chủ, công bình và lẽ phải.
Tôi thầm nghĩ những mỹ từ tự do, dân chủ thật quá mơ hồ đối với những người lính tác chiến, với đám dân quê nghèo thất học ở đây. Gia đình, vợ con, miếng cơm manh áo, mạng sống có lẽ gần gũi hơn. Tôi thấy vừa kính nể vừa thương hại người con gái mới lớn mang trong lòng một hoài bão quá lý tưởng, quá to lớn.
Sau nhiều lần đi thăm Châu, chúng tôi thấy gần gũi nhau hơn. Tôi tìm thấy ở nàng một niềm vui, một ước mơ, một mái ấm gia đình cho tương lai. Vùng đất hoang vu này trở nên tươi mát đáng yêu bởi vì chỗ nào cũng thấy đoá hoa quỳnh nở rộn ràng.
Chúng tôi đã yêu nhau, có núi rừng và con sông nhỏ chảy qua quận lỵ làm chứng. Con sông thật hiền hoà và dễ thương như người tôi yêu. Bên bờ sông những hàng cây phượng vĩ nở đỏ rực mỗi mùa hè. Mùa mưa nước phù sa đỏ ửng từ trên ngàn chảy cuồn cuộn xuống ngập gần hết cây cầu sắt nhỏ bắc qua sông. Cây cầu nhỏ sơ sài có vài nhịp, bề ngang chỉ đủ cho một chiếc xe đò qua lại. Mùa nắng, nước cạn trơ những bãi cát trắng tinh. Người ta đào cát thành những vũng nước trong, gánh về để uống. Giữa lòng sông nước trong vắt chảy lững lờ, nhìn thấy cát và sỏi tận dưới đáy. Mấy chàng pháo thủ thường ra tắm sông để được chiêm ngưỡng những nàng thôn nữ cao nguyên ngực no tròn và tự nhiên một cách vô tư.
Tôi yêu núi rừng cao nguyên, mỗi buổi sáng thức dậy đứng trên đồi nhìn chung quanh chỉ thấy một màu xanh thẫm, mênh mông như biển cả. Tôi yêu con sông bé nhỏ, tôi yêu cây cầu sắt cũ kỹ đưa người qua sông, tôi yêu hàng phượng vĩ học trò, tôi yêu sân trường tiểu học Phú Nhơn, tôi yêu con đường nhựa bé bỏng chạy qua quận lỵ và băng qua núi rừng cao nguyên. Tôi yêu và yêu rất nhiều, bởi vì ở đâu cũng thấy hình bóng của nàng.
Tôi yêu vô cùng những buổi chiều hai đứa dẫn nhau ra bờ sông, lang thang dưới những hàng cây xanh um, hoặc ngồi trên thành cầu nhìn dòng nước hững hờ trôi. Nàng ngồi bên tôi, đong đưa hai bàn chân trắng muốt, cười nói vô tư như một thiên thần. Trời đất, vũ trụ, thời gian như ngừng hẳn, ôi đẹp đẽ và thanh bình đất nước tôi!
Ở đó, bấy giờ, không nghe tiếng súng nổ, không nghe tiếng gầm gừ của máy bay phản lực, không gian hoàn toàn yên tĩnh.
Chúng tôi đã dệt những giấc mộng tương lai đơn sơ và êm đềm.
- Quỳnh Hoa ơi, mai này chiến tranh chấm dứt, anh sẽ cất một căn nhà bên bờ sông này, em sẽ tiếp tục dạy học, còn anh sẽ biến vùng đất màu mỡ này thành một đồn điền trù phú, em có chịu không?
- Anh trồng cho em một vườn trái cây mít, ổi, xoài, đu đủ, mảng cầu nghe anh.
- Ừ, anh sẽ trồng bất cứ cây gì em muốn.
- Anh hứa thương em và chiều chuộng em như ngày xưa ba yêu thương và chiều chuộng em nghe.
- Anh hứa.
- Anh đừng bỏ em, như ba đã bỏ em một mình, em sợ lắm.
- Không, anh sẽ không bỏ em một mình.
- Nghe anh nói thơ mộng và sung sướng qúa, cám ơn Trời Phật đã cho em gặp anh. Có lẽ ba đã run rủi cho chúng mình gặp nhau. Lập ơi, em thương anh lắm, anh biết không?
- Sao em thương anh nhiều dữ vậy?
- Không biết nữa, có lẽ em thấy anh giống ba em. Anh chiều chuộng em, anh là người lớn, bao dung, đại lượng, biết rộng, hiểu nhiều. Anh biết không, hôm em gặp anh đi hành quân, em thấy anh oai hùng quá, giống như ba em ngày xưa. Mấy ông lính thương anh lắm phải không?
- Không, mấy ông ấy ghét anh lắm.
- Cái mặt xạo, ai mà ghét anh. Anh nhiều đào lắm phải không? nói cho em nghe đi.
- Có mình em thương anh thôi, thiệt đó.
Tôi ngồi bên nàng, uống từng giọt tình yêu ngọt ngào, nghe trái tìm mình đập từng điệu nhạc run rẩy trên lối vào thiên đường chỉ có hai đứa chúng tôi. Nàng đã dạy cho tôi biết mơ mộng, thấy đời đáng yêu hơn, những thứ đó tôi đã đánh mất từ khi mới lớn, từ khi bước chân vào quân ngũ, tôi vẫn nghĩ tuổi trẻ của tôi đang đi vào ngõ cụt với những giấc mơ hãi hùng. Đời tôi thật trống rỗng nếu không có nàng. Tôi thấy yêu thương nàng quá đỗi. Quỳnh Hoa vẫn còn vẽ những giấc mơ của nàng nhưng tôi không còn nghe gì cả, chỉ thấy cánh môi hồng mấp máy, hơi thở thơm tho mùi mía lùi phà trên mặt tôi. Bất chợt, tôi ôm và hôn nàng say đắm, người nóng bừng như có dòng điện chạy ào ạt từ tim lên đầu. Nàng đẩy nhẹ tôi ra:
- Coi kìa, người ta cười mình đó.
- Ai mà dám cười mình.
Nàng đánh trống lảng, bâng quơ hỏi tôi:
- Anh ơi, cây cầu này có tên không anh.
- Anh cũng chẳng biết nữa, hay là mình đặt cho nó một cái tên làm kỷ niệm nghe.
- Em cho anh đặt đó.
- Ừ, hay là mình gọi là Cây Cầu Biên Giới nghe em.
- Cái tên nghe cũng hay đấy, nhưng mà nghe có vẻ chia ly quá. Giống như trong bài “Chiều Mưa Biên Giới” của Nguyễn Văn Đông vậy.
Tôi phì cười:
- Mới thương nhau mà em đã nghĩ đến chuyện chia ly rồi.
- Nhưng mà em sợ lắm, thời buổi chiến tranh... Lỡ mai này, anh bỏ em ở đây một mình, em buồn lắm đó.
- Không, anh sẽ không bỏ em một mình, anh sẽ xin với mẹ để cưới em, chúng ta sẽ mãi mãi bên nhau.
Nàng reo lên sung sướng như một đứa con nít, mắt sáng ngời những tia hy vọng, rồi ôm lấy tôi. Ôi mùi thơm ngọt ngào, tôi làm bộ đẩy nhẹ nàng ra:
- Coi chừng người ta thấy, họ cười mình đó.
- Ai cười hở mười cái răng!
Thật không ngờ, nơi rừng rú hoang vu nguy hiểm này ai nghe đến cũng rợn tóc gáy. Bạn bè, người thân, lâu không gặp nhau, hỏi tôi bây giờ ở đâu, tôi trả lời ở quận Phú Nhơn tỉnh Cheo Reo, ai cũng lè lưỡi chọc tôi bộ hết đất rồi sao lên miền Thượng ở vậy, tôi chỉ cười khì. Bây giờ tôi đã có lý do để trả lời họ...bởi vì tôi mê hoa quỳnh, thế thôi.
- Anh làm gì ngồi thừ ra thế, hãy nói tiếp về tương lai của chúng mình cho em nghe đi.
- Anh đang sung sướng quá nên làm một bài thơ kỷ niệm.
- Ồ, anh biết làm thơ nữa sao? Hãy đọc em nghe đi, em sẽ thưởng cho anh.
- Ừ, anh đọc thơ con cóc, em đừng cười nghe. Em biết thơ con cóc không? Con cóc trong hang, con cóc nhảy ra.
Nàng đọc tiếp:
- Con cóc ngồi đó, con cóc nhảy đi... với anh !!! Em thích thơ con cóc lắm. Em sẽ làm con cóc như trong chuyện cổ tích gì đó, anh học trò có người vợ cóc xấu xí, đêm đêm hiện nguyên hình là một nàng tiên săn sóc cho chồng. Ban ngày là một con cóc lẽo đẽo theo chồng.
- Nếu em là một nàng Tiên cóc, anh sẽ bỏ em vào ba lô mang theo khi đi hành quân để lúc nào em cũng ở bên anh.
- Anh phải đọc thơ cóc cho em nghe. Ơ, nếu vậy mấy ông lính sẽ gọi anh là người điên đó.
- Điên vì em, thì anh cũng chịu.
Nàng bá cổ tôi nũng nịu:
- Thôi đừng đánh trống lảng, đọc thơ con cóc cho em nghe đi anh.
- Ừ, anh đọc nghe, cấm cười đó, đứa nào cười anh khóa miệng lại cho mà coi.
Chiều về thấp thoáng bên sông,
Thấy Quỳnh thơm ngát thấy lòng xôn xao.
Nàng cười rũ rượi, hai tay đánh liên hồi vào vai tôi. Một ngày như mọi ngày trôi qua, trong thung lũng tình yêu, bên cây cầu biên giới, nỗi chết đã chịu tạm rút lui, để nhường chỗ cho tình yêu hoa bướm ngọt ngào. Tôi lấy con dao găm đeo bên mình khắc câu thơ trên thành cầu sắt để đánh dấu một chặng đường yêu đương…
*
- Anh muốn vào chợ hay đến nhà ai ở quận Phú Nhơn?
Tiếng người tài xế kéo tôi về thực tại. Giấc mơ thật ngắn ngủi, như cuộc tình của chúng tôi.
- Anh cho tôi lại trường tiểu học.
Quang cảnh không thay đổi mấy, thời gian như ngừng trôi ở quận lỵ nhỏ bé này. Ngôi trường còn nguyên đó, phố chợ đìu hiu y như xưa, hàng rào kẽm gai chung quanh doanh trại nơi tôi đóng quân vẫn hiện hữu, nhưng chẳng ai biết đến một người con gái đẹp như hoa quỳnh đã từng in dấu chân nơi chốn này. Hình ảnh ngày xưa vẫn còn đủ chỉ thiếu một người. Tôi hối người tài xế chạy ra phía cây cầu.
Chiếc cầu sắt nhỏ bé đầy dấu kỷ niệm, tôi như trong giấc mơ, chàng Tú Uyên ngày xưa khi tỉnh giấc không thấy người đẹp trong tranh đâu nữa, chắc cũng ngỡ ngàng như tôi hôm nay thôi. Tôi bước lên cầu, ngồi đúng vào chỗ ngày xưa chúng tôi đã từng có một thời mơ mộng. Tôi ngồi bệt xuống, hai chân đong đưa, mắt nhìn xa xăm trên những ngọn phượng vĩ bên sông, cố tìm chút nắng vàng ngày xưa của một buổi chiều tà. Tìm mãi cũng chẳng thấy đâu, không có một dấu tích gì của nàng.
Nơi thành cầu này, tôi đã hôn những nụ hôn đầu tiên trong đời, vẽ những giấc mơ đầu tiên trong đời và làm những bài thơ con cóc đầu tiên trong đời. Đúng là cây cầu chia ly như nàng đã nói. Bây giờ nàng ở đâu, hay đã bỏ xác trên tỉnh lộ số 7 trên đường di tản về Tuy Hoà. Ồ phải rồi, tôi phải tìm lại bài thơ con cóc, có lẽ đó là kỷ niệm duy nhất còn lại của tôi với nàng. Tôi dò từng tấc sắt trên thành cầu, bài thơ còn đó nhưng đã dài thêm hai câu:
Chiều về chiều vẫn một mình,
Trách người năm cũ bỏ tình bơ vơ.

Tôi bay về Hoa Kỳ lòng buồn miên man, bao nhiêu háo hức của ngày trở lại Việt Nam đã tiêu tan đâu mất chỉ còn lại sự mệt mỏi và chán chường.
Tôi đã đi mọi nơi, để tìm tung tích của Quỳnh Hoa nhưng cũng không có tin tức gì. Ngày ấy nếu tôi không bị kẹt ngoài Huế, chắc chúng tôi đã chết bên nhau hay cùng nhau lênh đênh trên con tàu vượt biển. Thời gian thấm thoát trôi mau, mỗi lần đi đâu, thấy bóng dáng mái tóc thề và chiếc áo dài trắng lòng tôi lại xôn xao như ngày nào bên chiếc Cầu Biên Giới.
Lê Nguyên Hằng & Nguyễn Thạch Hãn

Hoàng Kiều và "nền văn hoá bệnh hoạn"


Trong hơn 20 năm qua, Hoàng Kiều làm ăn ở Trung Quốc và Việt Nam nhiều hơn là ở Mỹ, người Việt có câu “sống ở đâu, quen văn hóa nơi đó” câu nói này quả thật không sai với trường hợp ông Hoàng Kiều. Dưới chế độ giáo dục của khối Cộng Sản, kể từ khi mở cửa ra thế giới bên ngoài, cả Trung Quốc lẫn Việt Nam, đều lâm vào tình trạng “văn hóa hỗn tạp”, do yếu kém về giáo dục, và kiểm soát báo chí không cho phép đăng những tin tức “nhạy cảm”, nền báo chí bị kiểm duyệt đã phải đi tìm “nguồn độc giả” bằng cách tạo ra những tai tiếng (scandal) của giới có tiền bạc hay giới showbiz để câu view, kiếm độc giả và thúc đẩy quảng cáo...
***
Nhân vụ lùm xùm của ông Hoàng Kiều với những lời tuyên bố vung vít, một số bạn trẻ từ Sài Gòn đã than phiền với tôi rằng “chú khen văn hóa của VNCH ngày xưa đẹp, lão Hoàng Kiều cũng xuất thân từ nền văn hóa đó, cháu thấy… ngứa mắt thì đúng hơn”.
Lời than phiền không phải không có lý, nhìn những gì ông Hoàng Kiều làm hiện nay, hoàn toàn không khác gì những cô gái muốn được nổi tiếng để kiếm tiền, trong khi bản thân ông ta là một người hái ra tiền nhiều và được gọi là “tỷ phú”.
Tôi không quen biết Hoàng Kiều, nhưng quen thân với Mai Lỹnh, em ruột Hoàng Kiều người vừa qua đời năm ngoái, Mai Lỹnh và Lưu Hồng Sơn (chồng cũ “Tuyết Ngựa” trung tâm Mưa Hồng) là 2 người đã từng vào Việt Nam rất sớm để làm ăn, định nhập xe hơi cũ từ Mỹ về Việt Nam ở thập niên 90, cuối cùng cả hai đều bị nhà sản tống vào tù hơn 10 năm.
Mai Lỹnh từng kể tôi nghe về Hoàng Kiều, từ lúc làm Janitor (người làm vệ sinh) trong ngân hàng máu khá nhỏ ở Hoa Kỳ, sau đó sang lại ngân hàng máu này để kinh doanh, rồi từ đó “phất” lên, Hoàng Kiều từ thập niên 90 đã bay đến Thượng Hải, nhập máu từ Trung Quốc, rồi cung cấp cho một số bệnh viện lớn ở Hoa kỳ, và nhờ vậy Hoàng Kiều đã trở thành “tỷ phú”.
Suốt hơn 20 năm Hoàng Kiều làm ăn ở Trung Quốc, sau đó trong vài chuyến về Việt Nam, bị người quen, quan chức nhà sản chiêu dụ, thế là Hoàng Kiều đầu tư vài triệu bạc (hình như là 6 triệu USD), cuối cùng mất trắng, phải chạy về Mỹ và thề rằng sẽ không bao giờ đầu tư trong Việt Nam, chỉ về ăn chơi mà thôi, mặc dù Hoàng Kiều còn vài căn nhà trong Việt Nam vẫn chưa bị… cướp.
Tóm lại, trong hơn 20 năm qua, Hoàng Kiều làm ăn ở Trung Quốc và Việt Nam nhiều hơn là ở Mỹ, người Việt có câu “sống ở đâu, quen văn hóa nơi đó” câu nói này quả thật không sai với trường hợp ông Hoàng Kiều.
Dưới chế độ giáo dục của khối Cộng Sản, kể từ khi mở cửa ra thế giới bên ngoài, cả Trung Quốc lẫn Việt Nam, đều lâm vào tình trạng “văn hóa hỗn tạp”, do yếu kém về giáo dục, và kiểm soát báo chí không cho phép đăng những tin tức “nhạy cảm”, nền báo chí bị kiểm duyệt đã phải đi tìm “nguồn độc giả” bằng cách tạo ra những tai tiếng (scandal) của giới có tiền bạc hay giới showbiz để câu view, kiếm độc giả và thúc đẩy quảng cáo.
Do đó những con người sống dưới 2 thể chế này, kể từ khi được “mở bao tử”, thì chỉ biết làm thế nào để kiếm thật nhiều tiền, bất kể luật pháp, bất kể đạo đức xã hội, bất kể luân lý gia đình, miễn kiếm ra tiền, và từ đó, những trò “khôn vặt”, những “chiêu thức được nổi tiếng”, những “lừa bịp” xuất hiện đầy rẫy khắp nơi.
“Mưa lâu thấm đất”, hơn 20 năm qua, tôi tạm gọi những điều trên là nền “văn hóa bệnh hoạn” đã trở thành quen thuộc với 2 xứ sở này, những người sống trong xã hội như vậy họ xem những điều đó là bình thường, những chuyện vô đạo đức, những chuyện “trời ơi đất hỡi” được họ xem là... không có gì sai trái.
Hoàng Kiều làm ăn trong xã hội như vậy nhiều năm, nên trong mắt của ông ta đó là chuyện bình thường, sử dụng một cô gái trẻ bằng tuổi cháu của mình, biến thành “người tình” rồi “chia tay”, cuối cùng thì dùng hình ảnh, sự kiện giữa ông ta và cô gái này, trong nỗ lực cố gắng tạo ra “hiệu ứng đám đông” để quảng bá cho những sản phẩm dược thảo của ông ta.
Cách “chơi” của ông ta quả thật phù hợp với những xứ sở như Trung Quốc và Việt Nam, những nơi mà nền báo chí bị kiểm duyệt các “thông tin nhạy cảm” và “xả cảng” cho những các tai tiếng của giới có tiền bạc và showbiz.
Đương nhiên, cách “chơi” của Hoàng Kiều không phải là điển hình của nền giáo dục nghiêm túc, mà chỉ là điển hình cho thứ “văn hóa bệnh hoạn” ở các xứ sở mà ông ta đã từng làm ăn lâu năm và bị ảnh hưởng.
Đối với nhiều người trẻ trưởng thành trong môi trường như vậy, đôi khi Hoàng Kiều trở thành “thần tượng” trong mắt họ, và các mác “tỷ phú” của Hoàng Kiều lại càng khiến cho họ “đào sâu” nền “văn hóa bệnh hoạn” đó nhiều hơn nữa, ai chạm đến thì họ sẵn sàng sừng cổ “có làm được như Hoàng Kiều không mà… chém Gió”.
Thật sự nếu các bạn trẻ nhìn ra bên ngoài, những “tỷ phú” của các nền văn minh tân tiến, cái họ làm và để lại là những giá trị lâu bền cho xã hội và cho tương lai của cộng đồng nhiều hơn, những tỷ phú lâu đời như Warren Buffet, cho đến những tỷ phú thời đại như Bill Gate, Mark Elliot Zuckerberg, Tim Cook, ngoại trừ tạo ra hàng trăm ngàn việc làm trên thế giới, họ luôn tìm kiếm những giá trị lâu dài cho nhân loại nhiều hơn là sử dụng những “chiêu thức” như Hoàng Kiều, ngay cả những “tỷ phú” trùm ma túy như “El Chapo”, kiếm tiền bằng những trò “bàng môn tả đạo”, nhưng còn biết xây trường học miễn phí, bệnh viện miễn phí cho người nghèo, những giá trị để lại của họ, dù làm ăn “chính đạo”, hay làm ăn theo “bàng môn tả đạo”, đều bắt nguồn từ nền giáo dục căn bản bình thường của các xã hội văn minh, không “lệch lạc” như nền “văn hóa bệnh hoạn” đã và đang dẫn dắt các xã hội như ở Việt Nam và Trung Quốc hiện nay.
Hoàng Kiều, Phạm Nhật Vượng, Dr Thanh thậm chí là Cường “Dollar” chỉ là những kẻ làm giàu bằng “quan hệ” với quan chức, làm giàu bằng sự ‘khôn vặt” của con buôn, chứ không phải làm giàu bằng trái tim của một con người biết đóng góp cho các giá trị lâu bền của xã hội, do đó khi họ biến mất khỏi xã hội, cái họ nhận được chỉ là những thứ “danh tiếng” không tốt đẹp như “già dịch”, “khôn lỏi”, “điếm đàng”, “keo kiệt”, chứ không thể nào để lại được tiếng thơm cho đời.
Thế nhé các bạn trẻ, vào đời kiếm ăn, hay lăn vào xã hội để sinh tồn, đôi khi có những nguyên tắc mang tính trừu tượng, nhưng lại là những “dấu ấn” mà các bạn để lại cho đời, những nguyên tắc này tuy không hề trói buộc các bạn cái gì, nhưng sẽ ghi nhận lại giá trị của các bạn để lại trong xã hội, và đó người ta gọi là “xã hội văn minh”, hoàn toàn khác biệt với “xã hội bệnh hoạn” mà các bạn đang phải sống một cách chật vật. 


Thân ái.
Trần Nhật Phong
danlambaovn.blogspot.com
— with Chim Trời.

Tuesday, August 13, 2019

Tường trình buổi gây quỹ tại Atlanta, Georgia, August 11, 2019 - Nam Lộc

Kính thưa quý vị và các anh chị,
Tôi xin chân thành cám ơn hội JFFV đã cho tôi cơ hội được tham gia vào các buổi nhạc hội gây quỹ Công Lý Cho Nạn Nhân Formosa để tiếp tay cho những hoạt động vô cùng ý nghĩa và khẩn thiết liên quan đến thảm trạng môi trường và biển cả cùng tương lai của các ngư phủ thuộc những vùng bị ảnh hưởng ở Trung Phần VN.
Tôi cũng xin hân hoan tường trình cùng quý vị rằng, sau buổi nhạc hội diễn ra tại San Jose ngày Chủ Nhật mùng 4 tháng Tám, 2019 thì qua tuần lễ sau, tức là Chủ Nhật 11 tháng Tám, 2019 vừa qua thì tôi lại hân hạnh được điều khiển chương trình gây quỹ cho JFFV do các thiện nguyện viên cự ngụ tại thành phố Atlanta, Georgia tổ chức.
Chương trình này đặc biệt đã có sự hiện diện của Đức Giám Mục Nguyễn Thái Hợp, ngài đến từ Việt Nam. Và cạnh đó BTC còn hân hạnh được tiếp đón quý vị lãnh đão tinh thần cùng gần 500 đồng hương tham dự.
Ngoài phần chia sẻ đầy chân tình và thân mật của Đức Cha Nguyễn Thái Hợp, cùng lời chào mừng và kêu gọi tha thiết của BTC, cộng với các hình ảnh qua phần video tường trình công tác và cập nhật tin tức của hội JFFV, thì khán thính giả đã được thưởng thức một chương trình ca nhạc thật đặc sắc. Mọi người đã cùng hăng hái và hào hứng hát chung những ca khúc đấu tranh với ca nhạc sĩ Việt Khang, và rất yêu thích giọng hát trữ tình của nữ ca sĩ Y Phương qua các nhạc phẩm thính phòng. Ngoài ra phần trình diễn của ca đoàn cùng các nghệ sĩ địa phương và ban nhạc Hoa Đăng đã làm tăng thêm giá trị nghệ thuật của buổi nhạc hội.
Tuy nhiên sôi nổi và lôi cuốn không kém vẫn là phần bán đấu giá các tặng phẩm do quý vị mạnh thường quân ủng hộ, đặc biệt là 3 tác phẩm nghệ thuật rất là ý nghĩa do nhiếp ảnh gia Nguyễn Thu Tiên trao tặng BTC.
Buổi nhạc hội gây quỹ được chấm dứt vào lúc nửa đêm với số tiền đóng góp đã lên đến gần $100 ngàn dollars.   
Một lần nữa thành thật cảm ơn BTC và xin tường trình cùng toàn thể quý vị và các anh chị.

Nam Lộc
PS: Xin đính kèm tấm ảnh kỷ niệm của Đức Cha Nguyễn Thái Hợp chụp cùng Ban Tổ Chức và một số quan khách. Đồng thời cuộc phỏng vấn chị Phó Hội Trưởng JFFVcủa Phố Bolsa TV FYI:  (https://www.youtube.com/watch?v=DwpGfS9ff40&feature=youtu.be)

Video 2 Video 3 Video 4
 Kính thưa ông Nguyễn Tấn Thọ,
Lâu lắm không gặp ông kể từ ngày bà Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn của ông mất chức và dự án "định cư Thương Phế Binh" mà ông và bà Janet phô trương ra công chúng đã chìm vào quên lãng.
Cám ơn ông, bất chợt chuyển bài viết của một vị nào đó cho tôi. Xin minh xác rõ, đây là bản tin láo khoét. Tôi không nằm trong Ban Tổ Chức hay là thành viên của hội Công Lý Cho Nạn Nhân Formosa (JFFV) như bọn phao tin giả vừa phổ biến, mà chỉ là một người điều khiển chương trình chuyên nghiệp được mời tham dự mà thôi. Tuy nhiên không phải ai mời tôi cũng cộng tác nếu đó không phải là một việc làm có ý nghĩa.
Có điều gì thắc mắc xin ông liên lạc trực tiếp với hội JFFV thay vì dựa vào tên tuổi của tôi để được mọi người chú ý như bọn "sán lãi" vẫn thường làm.
Hy vọng lần sau ông nên phối kiểm kỹ lưỡng trước khi phổ biến, kẻo lại bị hố như vụ "định cư Thương Phế Binh VNCH" ngày trước.
Chúc ông luôn sáng suốt và khỏe mạnh,
Nam Lộc
PS: Xin ông đọc bài nhận xét dưới đây để học thêm được các hoạt động mới nhất của tôi:
 
Xin chuyển và mời đọc bài bút ký của NS Nam Lộc về chuyến đi thăm người Việt tị nạn ở Phi Luật Tân trong tháng 7/2019 vừa qua của tổ chức VOICE và một số “tự nguyện viên” có tấm lòng nhân ái. Đọc xong bài bút ký, tôi vừa xúc động vừa buồn! 
Xúc động vì thấy còn biết bao đồng bào ruột thịt của mình vẫn còn đang sống vất vưởng,  nghèo khó  ở Thái Lan, Phi Luật Tân, Mã Lai v.v.  Những người tị nạn bị quên lãng, sống cuộc đời bất hạnh, bấp bênh, đầy lo sợ, trốn tránh trên xứ người mà không biết tương lai sẽ đi về đâu! Nhất là hoàn cảnh của anh Huỳnh Phong!
Xúc động vì thấy rằng vẫn còn có những tấm lòng bác ái của nhiều người Việt thuyền nhân tị nạn may mắn đi trước - nay đã thành công trên các nước Úc, Mỹ, Canada …và họ đã không quên!  Những Anla, những Mai và nhiều, nhiều người khác đã đồng hành với tổ chức VOICE, đã đem tình thương, nụ cười, tài chánh đến cứu giúp và xoa dịu nỗi đau của những người tị nạn kém may mắn nơi xứ người. 
Thật sự, tổ chức VOICE và những người Việt với tấm lòng đầy nhân ái này đang là một ánh sáng trong đường hầm, một niềm HY VỌNG mà người tị nạn trông chờ.  Hy vọng để cho họ tiếp tục sống còn chờ ngày được đi định cư.
Buồn vì thấy những con người vô cảm, những con người cơ hội, luôn tìm thời cơ để đánh phá, chỉ trích việc làm nhân ái của tổ chức VOICE.  Những con người  không làm từ thiện, không giúp đỡ người khốn cùng nhưng sẵn sàng chê trách, bôi bác ai dám làm công việc phụng sự bác ái!   Đây có phải là chiêu bài tự đánh bóng mình lên bằng cách chê bai việc làm của người khác?  Hay đang đánh phá dưới sự chỉ đạo của thế lực nào đó ở sau lưng?... Vì nếu, những con người này thực sự quan tâm đến những mảnh đời tị nạn kém may mắn kia, sao họ không tự trải nghiệm, tự tìm sự thực bằng cách đi qua các trại tị nạn Thái Lan, Phi Luật Tân để tận mắt, tận tay giúp cho một người tị nạn đi?
Tôi nhớ lại ngay cả Mẹ Teresa Calcuta - một đời làm từ thiện - dù nhận được nhiều tôn vinh, bà cũng là mục tiêu của không ít chỉ trích.  Cầu mong tổ chức VOICE và những ân nhân (cựu thuyền nhân tị nạn) hãy tiếp tục công việc cứu giúp đầy nhân ái này.  Đừng bận tâm với những lời đánh phá tiêu cực, ác độc của ai kia, vì trời luôn có mắt, những kẻ gieo ác nghiệp sẽ có ngày nhận lãnh cái hậu quả mà họ đã gây ra.
Xin mượn lời nói của Mẹ Teresa:  “ Không phải tất cả chúng ta (VOICE và thiện nguyện viên) đều làm được những điều vĩ đại. Nhưng chúng ta (VOICE và TNV) có thể làm những điều nhỏ nhặt với tình yêu vĩ đại.
ps. Bài bút ký dưới đây đã được post lên Facebook
LTN

Sunday, August 11, 2019

Đoàn Kết Hay Đấu Tố - Sức Mạnh Ghê Tởm Của Đồng Tiền

Bài Cậy Đăng Không Trả Tiền Số 2


Nhóm cộng đồng Miền Nam California vẫn tiếp tục tổ chức đấu tố nhưng cùng lúc vẫn tung hô đoàn kết và cần đoàn kết. Họ không bao giờ hiểu rằng đấu tố một chiều sẽ không bao giờ giải quyết được vấn đề. Các buổi đấu tố của họ từ trước đến nay cũng chỉ bằng ấy khuôn mặt, bằng ấy giọng điệu từ ngày bầu cử cộng đồng, rồi tung hô chúc tụng lẫn nhau, rồi rủ nhau vận động tranh cử cho những người từ trên trời rớt xuống và nói là “sẽ đại diện cho cộng đồng Việt Nam.”
Họ phản đối bản lên tiếng của tôi về đề nghị của Hội Đồng Liên Tôn, nhưng chỉ mập mờ câu này với câu kia, mà không dám thảo luận thẳng thắn về nội dung chính của bản lên tiếng, đó là nguồn cội chính của vấn đề chia rẻ và cấu xé trong cộng đồng hiện nay. Họ nghĩ rằng không nhắc đến vấn đề là tự nhiên nó biến mất. Nếu họ thực sự quan tâm đến vấn đề đoàn kết trong cộng đồng, họ nên nhìn thẳng vào những nguyên nhân gốc cội của sự chia rẻ này, như bầu cử cộng đồng gian lận, tiệc tùng với Đại Sứ CSVN hay hùa nhau gây rối tại TP Westminster một cách mù quáng. Họ không hiểu rằng những hành động chui đầu vào cát để tự lừa dối mình không thể che dấu được những xấu hỗ cho chính nghĩa của cộng đồng và cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ cho người dân Việt Nam tại quê nhà.
Đối với những vấn đề không thể trả lời đó, hầu hết những nhân vật trong nhóm cộng đồng này đều can dự trực tiếp hay gián tiếp và do sự mâu thuẫn đó, họ không đủ can đảm để nhìn nhận vấn đề. Họ hoặc là đừng nói đến chuyện đoàn kết, hoặc trả lời thẳng thắn về hậu quả những việc làm của họ hầu giúp cho cộng đồng có thể tháo gỡ những gánh nặng vì những hệ lụy đó.

Họ hăng say đấu tố người khác, nhưng không một lời lên tiếng về hiện tượng ông Hoàng Kiều đang vung tiền ra để sĩ nhục và lũng đoạn cộng đồng. Cũng chính những người tự xưng là lãnh đạo cộng đồng này đã để đồng tiền che mắt họ và không còn thấy đâu là giới hạn của chính nghĩa, nhân phẩm hay tư cách của cộng đồng.
Vì đồng tiền, họ để cho anh Lý Tống được chôn cất tại một nơi hoang vu, cô đơn, hiu quạnh, không bia mộ, không được một “mộ phần bên cạnh chiến hữu của tôi.” Chính họ cũng đã gọi anh Lý Tống là chiến hữu của họ cho đến lúc hạ huyệt. Sau cuộc trình diễn đình đám, sau khi quay phim máy ảnh chấm dứt, tình nghĩa của họ cũng tạm ngưng ở đó. Mọi người hãy tìm đến nơi chôn cất anh Lý Tống thì sẽ hiểu rõ hơn nỗi nhục này của linh hồn anh Lý Tống và của cộng đồng.
Họ luôn luôn xưng tụng là triệt để chống cộng trong thành trì chống cộng tại Little Saigon, nhưng khi ông Hoàng Kiều thách thức cộng đồng hãy biểu tình để chống văn công cộng sản trình diễn trong buổi văn nghệ miễn phí của ông ta, cấp lãnh đạo của họ lại đi điều động đoàn xe bus 60 xe để đưa 3,000 người đi “chống biểu tình” hay “chống những người chống cộng.” Khi nhân vật Hoàng Kiều này sĩ vã chính nghĩa của cuộc đấu tranh chống cộng ngay trước mặt họ rằng “khi xưa có hơn một triệu quân còn không chống được, thế bây giờ còn chống cái gì nữa,” hay là “việt cộng đang hát đây nè, chống đi” cũng chính những người cựu chiến sĩ này vỗ tay hoan hô theo lời yêu cầu của ông Hoàng Kiều để có đoạn phim chứng tỏ có người đồng ý với ông ta về sự sĩ nhục đó. Đồng tiền đã làm cho họ quên rằng họ đang ngồi đối diện hay đứng bên cạnh một nhân vật quá nguy hiểm cho cộng đồng.
Trong một cảnh tượng khác, cũng nhóm cựu chiến sĩ này sum xuê quần áo chỉnh tề đứng quanh để ôm vai bá cổ một ông già mặc áo may-o ngồi ăn nhồm nhoàm như là một đám trẻ về thăm ông ngoại. Họ không còn biết vai vế, tuổi tác, tư cách hay quân giai gì hết. Đồng tiền đã biến họ thành một con người khác bình thường trong binh phục chiến sĩ ngày xưa của họ.
Bây giờ nhóm lãnh đạo cựu chiến sĩ hay cộng đồng này đang đưa đón nhân vật Hoàng Kiều này tung tiền ra để vận động bãi nhiệm các vị dân cử gốc Việt tại TP Westminster. Họ nghĩ rằng đồng tiền có thể giải quyết được mọi vấn đề cá nhân và tranh chấp của họ mà bất kể để tư cách, đạo đức hay chính nghỉa của cộng đồng. Cũng giống như Vua Lê Chiêu Thống ngày xưa cầu cứu nhà Mãn Thanh đem quân sang xâm lấn nước Nam với hy vọng lấy lại ngôi vua cho chính mình mà bất kể đến hậu quả cho quê hương và dân tộc. Đồng tiền sẽ không mua được lòng dân trong khu Little Saigon như nhóm người này nghĩ.
Đã đến lúc cộng đồng cần phải lên tiếng thẳng thắn và mạnh mẽ với nhóm người cỗng rắn cắn gà nhà này để giảm thiểu được phần nào sự chà đạp nhân phẩm của cộng đồng bằng đồng tiền. Cộng đồng đang đương đầu với những hậu quả khốc liệt sắp tới, không phải vì kết quả bầu cử, nhưng là sức mạnh ghê tởm của đồng tiền.

Tỷ Phú Hoàng Kiều và Mối Đe Dọa Cho Cộng Đồng Luật Sư Nguyễn Quốc Lân

Đây là loạt bài Cậy Đăng Không Trả Tiền về những vấn đề gây tranh cãi trong cộng đồng. Các báo chí Việt ngữ hầu hết không muốn đăng vì nhiều lý do khác nhau. Tôi mong các bạn hãy tiếp tay phổ biến bài viết này trong khả năng của các bạn để giải quyết bế tắc này.
Một Lời Xin Lỗi
Sau khi bài Cậy Đăng Không Trả Tiền Số 2 được phổ biến, một số quí vị cựu quân nhân đã than phiền rằng bài viết đã vơ đũa cả nắm với hành động của một số nhân vật cựu quân nhân với các đoàn thể cựu chiến sĩ Quân Lực VNCH và làm xấu đi hình tượng của các cựu chiến sĩ QLVNCH. Quí vị này giải thích rằng nhóm cựu quân nhân này vẫn thường đi cùng với NV Phát Bùi, nhóm cộng đồng Miền Nam Cali hay Liên Ủy Ban Chống Cộng không có liên hệ gì đến các tổ chức Liên Hội Cựu Chiến Sĩ và họ không có tổ chức, nội quy hay bầu cử đại diện mà chỉ là một nhóm cựu quân nhân tự động tham gia các sinh hoạt cộng đồng mà không có thảo luận, cân nhắc hay phối hợp với các tổ chức Liên Hội Cựu Chiến Sĩ.

Nếu đây là đúng sự thật, tôi thành thật xin lỗi quí vị cựu chiến sĩ QLVNCH đã bị liên lụy trong vấn đề này. Thay vào đó, tôi sẽ gọi nhóm người này là những người mặc đồ lính để tránh liên lụy đến các tổ chức và danh dự của các thành phần QLVNCH.
Lý do sự phân biệt này rất là quan trọng là vì nhóm người mặc đồ lính này đang cấu kết với ông Tỷ Phú Hoàng Kiều để mang tiền và các tư tưởng thân cộng sản vào khu Little Saigon để thao túng, bôi nhọ và chống phá mọi thành phần kháng cự lại sự đe dọa này. Cụ thể là những hiện tượng sau đây.

Buổi Văn Nghệ Chống Lại Cộng Đồng Tỵ Nạn Việt Nam
Ông Hoàng Kiều đã tổ chức buổi trình diễn văn nghệ miễn phí để qui tụ hơn 5,000 người, nói là để giải trí, nhưng thực ra là để thách thức tinh thần chống chộng của cộng đồng Việt Nam bằng những hành động cụ thể như mời các ca sĩ cộng sản từ Việt Nam đã bị cộng đồng người Việt tại nhiều nơi lên tiếng phản đối, nhưng lại sắp xếp cho đoàn xe bus 60 chiếc với 3,000 người đi từ Quận Cam để chống biểu tình, chống những người chống cộng và vinh danh những thành phần ca sĩ mà đã và đang ngang nhiên vinh danh chế độ CSVN, Hồ Chí Minh và những tư tưởng thuần túy là của chế độ CSVN. Trong buổi trình diễn văn nghệ này, ông Hoàng Kiều vẫn không ngần ngại vỗ ngực biểu diễn màn trình diễn gọi là “chửi” đối với các thành phần chống cộng, tập thể QLVNCH và những giá trị chống cộng trong cộng đồng người Việt tỵ nạn tại hải ngoại. Để hỗ trợ cho màn trình diễn “chửi” này, ông Hoàng Kiều còn mời lên sân khấu đứng cùng với ông ta những thành phần đang gây rối trong cộng đồng như NV Phát Bùi, NV Tài Đỗ, ông Bùi Đẹp trong nhóm người mặc đồ lính và nhóm người đang tiến hành chiến dịch bãi nhiệm các vị dân cử gốc Việt tại TP Westminster. Nhìn hình ảnh này, người ta thấy ngay đây là nhóm chỉ đạo của lực lượng cõng rắn cắn gà nhà.

Nhóm người hỗ trợ ông Hoàng Kiều trong trường hợp này không phải là bị ngỡ ngàng hay bị “bắt cóc bỏ dĩa.” Thực ra, họ đã biết trước một cách rất rõ ràng là ca sĩ Võ Hà Trâm đã bị cộng đồng Việt Nam chống đối và đe dọa biểu tình để phản đối từ khắp nơi trước đó như trước các buổi trình diễn văn nghệ tương tự tại San Jose và Houston. Để đối phó với sự phản đối này, chính ông Hoàng Kiều đã tuyên bố sẽ sắp xếp đoàn người 3,000 người trong 60 xe bus để chống biểu tình và chống người chống cộng. Biết trước như vậy, NV Phát Bùi, NV Tài Đỗ và nhóm người mặc đồ lính vẫn mặc nhiên ra sức sắp xếp cho nhóm người chống biểu tình được hoàn tất mục đích. Tai hại của nỗ lực “vô tiền khoán hậu” này là đã tạo nên một bằng chứng rõ ràng cho ông Hoàng Kiều và các thành phần thân cộng có bằng chứng là lực lượng 5,000 người này với một vài vị dân cử gốc Việt đã đồng lòng với tư tưởng thân cộng, chống người chống cộng và bôi nhọ các cựu chiến sĩ trong QLVNCH, một ảnh tượng khác hẵn với hình ảnh biểu tình của vài chục người hay vài trăm người tại các nơi có đông người Việt Nam.
Diễn Hành Tết
Tai hại trước mắt là nhóm người nịnh hót ông Hoàng Kiều này gồm có NV Phát Bùi và nhóm người mặc đồ lính này đang làm đơn xin tổ chức Diễn Hành Tết vào năm tới tại Westminster và trong đơn có ghi rõ là toàn bộ tài chánh sẽ do ông Hoàng Kiều tài trợ. Hãy thử tưởng tượng trong chương trình văn nghệ vừa qua, ông Hoàng Kiều đã có thể thao túng và điều khiển không những hơn 5,000 người Việt Nam, mà cả những thành phần cao cấp trong giới lãnh đạo cộng đồng và dân cử gốc Việt đã hoan hỉ đón nhận ông Hoàng Kiều thóa mạ cộng đồng Việt Nam cùng với chính nghĩa và danh dự của QLVNCH. Đợi đến khi một cuộc trình diễn về văn hóa Việt Nam trước diễn đàn trên toàn thế giời và trong dịp lễ quan trọng nhất trong cộng đồng Việt Nam trong dịp Diễn Hành Tết thì tai hại cho cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại không thể nào lường trước được.

Buổi họp Hội Đồng Thành Phố Westminster để xét duyệt đơn xin Diễn Hành Tết sẽ được tổ chức vào ngày thứ tư, 14 tháng 8 lúc 7 giờ tối tại Phòng Họp Hội Đồng Thành Phố. Cộng đồng Việt Nam từ mọi thành phần cần tham gia để lên tiếng.
Chiến Dịch Bãi Nhiệm Các Dân Cử Gốc Việt
Bên cạnh đó, Ông Hoàng Kiều đã tuyên bố và thực sự bỏ tiền ra để tài trợ toàn bộ và không giới hạn cho nhóm người “cõng rắn cắn gà nhà” này để tiếp tay với một nhóm cư dân tại TP Westminster đang tiến hành chiến dịch bãi nhiệm các vị dân cử gốc Việt tại TP Westminster. Tiền bạc có thể không thay đổi được lòng người và suy tư của người Việt tỵ nạn biết suy nghĩ, nhưng chắc chắn sẽ gây ra biết bao tai hại cho danh dự, uy tín và chính nghĩa của cộng đồng người Việt tỵ nạn không những tại TP Westminster mà cả khu Little Saigon hay cả tại hải ngoại trong suốt quá trình nhiều tháng sắp tới.

Chiến dịch vận động bãi nhiệm này đã chính thức được bắt đầu. Cộng đồng Việt Nam trong khu vực Little Saigon đang phải đối phó với sự đe dọa của sức mạnh ghê tởm của đồng tiền. Việc từ chối ký tên của mỗi cư dân vào mẫu giấy bãi nhiệm trong TP Westminster sẽ là một tuyên bố xác thực nhất đối với sức mạnh của đồng tiền ghê tởm này.
Kết Luận
Cộng đồng người tỵ nạn Việt Nam tại khu Little Saigon cần phải có những hành động thực tế để đối phó với các đe dọa nghiêm trọng trước mắt. Các lực lượng cựu quân nhân trong QLVNCH cần lên tiếng để bảo vệ danh dự và bình an trong cộng đồng. Người Việt Nam từ mọi thành phần cần phải lên tiếng để bảo vệ chính nghĩa, danh dự và sự an bình của cộng đồng nghiêm trọng nhất từ hơn 40 năm qua. Chỉ có sự im lặng của mỗi người chúng ta mới có thể để cho sức mạnh của đồng tiền này có tác dụng.

Saturday, August 10, 2019

Tấm Lòng Vàng Của Một Cô Giáo - Reader Digest 8/2019



·     Nghề dạy học là một nghề khiêm tốn, nhưng hết sức quan trọng. Có những thầy cô giáo tạo được ảnh hưởng lâu dài, ảnh hưởng đến cả đời của học sinh. Câu chuyện dưới đây là một ví dụ điển hình về những thầy cô giáo tạo được sự khác biệt đến cuộc đời của học sinh. Chúng tôi mượn tựa đề “Tấm Lòng Vàng” của nhà văn Nguyễn Công Hoan để miêu tả câu chuyện.

Hồi năm 1968, tôi còn là một học sinh ở trường trung học Levon & Sophia Hagopian Armenian ở Beirut. Vào lúc ghi danh theo học lớp 10, tôi phải đến văn phòng hiệu trưởng nói với người thư ký rằng cha mẹ tôi không có đủ tiền để đóng học phí. Mặc dù lúc đó tôi là một học sinh giỏi, đứng đầu lớp, nhưng tôi vẫn bị đuổi đi, cho về nhà. Sự việc này làm tôi đau lòng vô cùng, tôi rất thích đi học, và muốn có mặt ở trường ngay từ ngày đầu niên học.
Tôi về nhà, không được đi học nữa. Mỗi ngày tôi phải phụ với cha tôi làm việc trong xưởng vá bánh xe hơi. Cha tôi chỉ kiếm đủ tiền nuôi gia đình, gồm mẹ tôi và ba đứa con, ông không có tiền để đóng học phí cho tôi.
Một ông già trông thấy tôi ở tiệm sửa xe, và thắc mắc không hiểu vì sao tôi không đi học. Tôi nói với ông rằng tôi phải bỏ học vì không có tiền đóng học phí. Ông đề nghị để ông gọi điện thoại cho một vị hiệu trưởng trường khác, không phải trả học phí, để tôi có thể tiếp tục đi học. Mặc dù trường sau này ở rất nhà tôi, nhưng tôi vẫn không bỏ lỡ cơ hội theo học tiếp, tôi lấy xe buýt đi rất lâu để đến trường tiếp tục học. Tôi nói với ông hiệu trưởng rằng tôi đã được thu xếp không phải đóng học phí, hay chỉ đóng với giá đặc biệt. Nhưng tôi vô cùng kinh ngạc khi vị hiệu trưởng sỉ vả, mắng nhiếc tôi, và nói rằng không hề có chuyện học miễn phí, hay mặc cả tiền học.Tôi lập tức quay đầu trở về, và đi thẳng đến nơi sửa xe của cha tôi.
Ba ngày sau, một người bạn cùng lớp với tôi ở trường Sophia Hagopian đến gặp tôi. Ông hiệu trưởng sai nó đến gặp tôi và nói tôi nên quanh trở lại trường. Khi đến trường, tôi nói với người thư ký học vụ rằng tôi không có tiền đóng học phí. Nhưng bà ấy báo cho tôi biết tiền học phí của tôi đã được trả hết rồi, và tôi có thể đi học bình thường với bạn bè như trước. Tôi hỏi bà thư ký ai đã đóng tiền học cho tôi, để tôi có thể cám ơn con người tử tế ấy. Nhưng bà thư ký nói rằng người đóng học phí cho tôi muốn giữ kín tên của họ.
Tôi vào lớp học mà trong đầu cứ quanh quẩn suy nghĩ mãi xem ai là người đã đóng học phí cho tôi. Ai là người đã có tấm lòng vàng cho tôi cơ hội may mắn này. Tôi quanh trở lại văn phòng hiệu trưởng và năn nỉ bà thư ký học vụ xin bà vui lòng cho biết ai đã đóng học phí cho tôi. Vì tôi năn nỉ qúa, bà thư ký dặn tôi rằng bà sẽ tiết lộ danh tánh người đóng học phí cho tôi với điều kiện tôi phải giữ bí mật, và không được đến cám ơn người ấy. Nếu không, bà thư ký học vụ có thể bị mất việc vì không giữ bí mật tin tức. Bà cho tôi biết người có lòng tốt đóng học phí cho tôi chính là cô giáo dạy Anh Văn, cô Olivia Balian.
Bà thư ký học vụ kể cho tôi nghe rằng khi niên học bắt đầu, bà thấy ghế ngồi của tôi ở trong lớp bị bỏ trống, không thấy tôi đi học. Bà hỏi thăm vì lý do gì. Bà thư ký học vụ nói rằng cha mẹ em học sinh này không có tiền đóng học phí, nên em đó phải nghỉ học. Bà Balian nói với ông Hiệu trưởng yêu cầu nhà trường trừ tiền học phí cho học sinh đó vào tiền lương hàng tháng của bà.
Trong suốt cả niên học, tôi ngồi học trong lớp của cô Balian, suy nghĩ về tấm lòng tử tế của cô, mà không thể nói lời cảm ơn. Một năm sau, gia đình tôi được sang định cư ở Hoa Kỳ. Ở đây, tôi lấy được hai văn bằng Master, một ở trường Columbia University, và một ở trường Pepperdine University.
Tôi không bao giờ quên được tấm lòng tử tế, rộng lượng của cô giáo Balian. Gần 40 năm sau, tôi quanh trở lại Beirut lần đầu tiên, và tặng $4.5 triệu đô la cho Quỹ Giáo Dục Kirk Kerkorian’s Lincy Foundation, cấp học bổng cho 28 trường học của người Armenian hoạt động ở Beirut. Một trong những trường tôi đến thăm, có trường trung học cũ của tôi. Khi trao tấm chi phiếu vài trăm ngàn đô la cho ông Hiệu trưởng, tôi dặn dò ông chớ bao giờ đuổi học sinh về nhà vì em đó không có tiền đóng học phí. Bởi vì không ai có thể biết được trong tương lai em bé đó sẽ trở thành con người như thế nào. Em học sinh đó có thể trở thành một bác sĩ, một nhà ngoại giao tài giỏi, hay trở thành một tỉ phú tặng tiền rất nhiều cho các trường học.
Trong lúc lưu lại Lebanon, tôi đi thăm cô giáo cũ của mình, là cô Balian. Bây giờ cô đã nghỉ hưu, không còn đi dậy nữa. Cô đang sống một mình trong một căn hộ nhỏ bên ngoài Beirut. Cô hết sức vui mùng khi gặp lại tôi. Cuối cùng thì tôi cũng có dịp ngỏ lời cảm ơn cô vì sự tử tế, rộng lượng của cô trong nhiều năm tôi đi học. Nhưng cô rất khiêm tốn,không màng để ý đến việc tôi cảm ơn cô, cô tìm cách đổi đề tài câu chuyện đi hướng khác. Tôi ngỏ lời xin được giúp đỡ cô về mặt tài chánh, hay làm một buổi lễ vinh danh cô vì cô đã dành nhiều năm để dậy dỗ học sinh gốc Armenian. Nhưng cô từ chối tất cả mọi đề nghị của tôi.
Tôi viết câu chuyện này để tôn vinh cô giáo của tôi, bà Olivia Balian. Bà qua đời vào năm 2017. Nhưng cũng nhân dịp này tôi xin được nói ra một điều là người ta có thể tạo ra sự khác biệt rất lớn cho cuộc đời của một người khác. Nếu không có cô giáo Balian, tôi đâu có dịp học tiếng Anh, và có lẽ chẳng bao giờ có cơ hội sang Hoa Kỳ, để rồi trở thành một nhà xuất bản nhật báo Anh Ngữ The California Courier. Rất có thể tôi đã suốt đời làm việc trong tiệm vá bánh xe của cha tôi ở Beirut.
Nguyễn Minh Tâm dịch theo Reader’s Digest tháng 9/2019  

  Born in 1950 in Aleppo, Syria, Harut Sassounian has garnered the highest respect as a syndicated columnist, TV commentator, political analyst, author, documentary producer, lecturer and human rights activist. He served as a non-governmental delegate on human rights to the United Nations in Geneva for 10 years, as well as heads the United Armenian Fund, which provides $650 million of humanitarian assistance to Armenia. Harut Sassounian holds graduate degrees from both Columbia University and Pepperdine University and speaks five languages: English, Armenian, Arabic, Turkish and French.

Wednesday, August 7, 2019

THANK YOU, PHILIPPINES! Bạn đã chở che tôi lúc gian nguy… (Nam Lộc)

 
“Cho tôi che chở bạn...” (VOICE)
“Cho tôi che chở bạn, như bạn chở che tôi lúc gian nguy”
Câu nói giản dị, được viết bằng ba thứ tiếng Anh, Việt, Phi trên tấm plaque nhỏ gắn ở bờ tường Guadalupe Elementary School, thuộc thị trấn Coron, phía Bắc đảo Palawan, Phi Luật Tân để ghi nhận sự đóng góp của tổ chức VOICE khi họ xây tặng ngôi trường tiểu học này cho dân làng tại đây vào tháng 11, năm 2014, đã nói lên ý nghĩa về một chuyến đi “không hẹn mà gặp” của những người đã “nợ” quốc gia này một lời “Cảm Ơn”!
Khi Mai Trương vừa 8 tuổi, cô bé đã theo cha mẹ, anh chị em xuống tầu vượt biên, sau hơn 10 ngày cầm cự với bão tố biển Đông, và đang chờ chết thì những chiếc thuyền đánh cá cùng ngư phủ tại hòn đảo nhỏ bé này đã cứu vớt cả gia đình cô cùng những thuyền nhân khác vào đây, cho thức ăn, nước uống và quan trọng hơn cả là cho họ sự sống! 30 năm sau, lần đầu tiên trở lại thăm chốn cũ, cô bé tỵ nạn ngày nào giờ đã 38 tuổi, và là một thương gia thành đạt tại tiểu bang Florida, Hoa Kỳ. Cô mang theo mình những món quà tình nghĩa, nhỏ bé nhưng gói ghém tất cả niềm tri ân vĩ đại dành cho những người dân làng hiền lành và tốt bụng năm xưa!
Mai Trương hội ngộ dân làng đảo Coron sau 30 năm xa cách
(họ đang sắp hàng để nhận một chút ân tình từ cô Mai)
Mà không chỉ có Mai, tôi thấy trong phái đoàn “không hẹn mà gặp” này tại Phi Luật Tân, vào tuần lễ kỷ niệm July 4, 2019 còn có những người khác, từng sống ở Palawan, Bataan, Manila hay Làng Việt Nam… Như Trung, như Phát, như Sang, như Tâm, như Tuấn, như Jaku như Kiều hoặc như Bảo Thiên, người đàn ông với đứa con nhỏ, đã cầm dao tự vận để chống cưỡng bách hồi hương vào năm 1996, nhưng Thiên đã bị lực lượng quân đội Phi đàn áp, cướp dao và đánh cho nhừ tử, gẫy cả xương sườn, cả tay lẫn chân, đến nỗi phi hành đoàn của “chuyến tầu hồi hương” đã từ chối không cho cha con anh lên máy bay về VN cùng với 96 người khác đã bị khiêng như con vật của chuyến cưỡng bức “repatriation” duy nhất mà nước Phi đã thực hiện đúng vào ngày lễ “Tình Yêu” (Valentine’s day)!. Hình ảnh dã man đó đã đánh động lòng nhân của Giáo Hội cùng chính quyền Phi Luật Tân để rồi họ ngưng thi hành chỉ thị CPA của Liên Hiệp Quốc và quyết định để hơn 3000 người Việt ở lại đất Phi dưới sự chăm sóc của Soeur Pascal Lê Thị Tríu, cho đến khi những người này được LS Trịnh Hội cùng các thành viên của tổ chức LAVAS, VOICE và cộng đồng người Việt tại hải ngoại đấu tranh cho họ được đặt chân đến bến bờ tự do.

Thuyền nhân vui mừng trở lại PLT sau khi lệnh cấm được giải tỏa

Người xưa về thăm chốn cũ: Trại Palawan (góc nhìn ra biển)
… và tại Làng Việt Nam
Lần đầu tiên nhiều người trong số này được trở lại đây sau khi lệnh cấm nhập cảnh của họ đến PLT (vì từng sống bất hợp lệ) được giải tỏa chỉ 6 tiếng đồng hồ trước khi phi cơ hạ cánh tại Aquino Manila airport. Tuy nhiên trước đó, dù không thăm viếng được, nhưng họ đã nhiều lần trả ơn đất nước này bằng cách đóng góp, gởi quà tặng, cứu trợ tiền bạc, giúp đỡ khi có thiên tai, hay thư từ thăm hỏi người ơn năm xưa vào những dịp lễ hội. Đặc biệt nhất là trong trận bão khủng khiếp Hayan, tàn phá một phần của nước Phi vào tháng 11, 2013. Các cựu thuyền nhân Palawan đã cùng với tổ chức VOICE thực hiện một cuộc lạc quyên trong vòng thân hữu dự trù sẽ gây quỹ được khoảng $60 ngàn Mỹ Kim để mua đồ cứu trợ gởi tặng cho các cư dân ở một số nơi mà làng mạc của họ bị tàn phá. Nhưng đã như một phép nhiệm mầu, cuộc gây quỹ khiêm nhượng đó được cộng đồng người Việt ở khắp nơi trên thế giới tiếp tay cùng VOICE khiến cho số tiền nhận được đã lên đến hơn $600 ngàn dollars. Và với ngân khoản lớn lao này, thì ngoài tiền mặt, thực phẩm, quần áo, thuốc men cùng đồ gia dụng, VOICE đã quyết định tặng người dân PLT bằng cách xây dựng lại hai ngôi trường tiểu học đã bị bão Hayan hủy hoại, một ở làng Ormoc, và một ở đảo Coron, để cho các học sinh có nơi trau dồi học vấn và kiến thức.

Trường tiểu học Ormoc, Tacloban

Trường tiểu học Guadalupe, trị trấn Coron, Palawan

Theo chân nhóm thuyền nhân tình nghĩa năm xưa đến thăm viếng, ủy lạo và phát quà cho các ân nhân đã từng “chở che” mình và bây giờ họ đang “che chở” lại, tôi đã không cầm được nước mắt khi nghe cô Emy Gomez, hiệu trưởng trường Guadalupe nói: “Món quà là những lớp học mà quý vị xây tặng cho người dân ở hòn đảo Coron, không chỉ xử dụng cho một ngày, một tháng hay một năm, mà là cả một đời, và sẽ là một nơi đào tạo ra nhiều thế hệ con em của chúng tôi…”!

Cô giáo Emy Gomez và các học sinh chào mừng VOICE trở lại

Và niềm xúc động lớn nhất của tôi là nhìn thấy hình ảnh mà Mai, Jaku cùng một số các bạn đến Palawan khi còn trẻ, ôm chầm lấy những cô giáo Phi đã dậy dỗ họ ở trong trại tỵ nạn từ thuở hàn vi, và những kiến thức căn bản đó đã giúp họ trở thành những người hữu dụng trong xã hội ngày nay.

Người chịu ơn trở lại với những món quà nhỏ bé
Tôi may mắn được gặp toàn những người tử tế trong chuyến trở lại thăm PLT lần này. Họ đã không quên thắp những nén nhang cầu nguyện cho hơn 300 thuyền nhân bất hạnh đã phải để lại thân xác trong nghĩa trang ở trại Bataan. Họ cũng xót xa cho số phận của những thuyền nhân không may, vì một lý do nào đó vẫn còn phải sống trong Làng Việt Nam. Tôi ngưỡng mộ lòng nhân ái của chị Anla, một thuyền nhân tỵ nạn năm xưa, hiện đang định cư tại Úc Châu. Khi thấy các học sinh người Phi đội nắng, lang thang trên bãi cỏ vào giờ ra chơi. Nhìn lũ trẻ ngơ ngác không có phương tiện gì để giải trí, chị đã quyết định xây tặng ngôi trường tiểu học này một “play ground” trang bị đầy đủ dụng cụ, đồng thời mua tòan bộ sách vở để cung cấp cho nhu cầu khẩn thiết của thư viện trường học hiện nay.

Anla và các học sinh at Guadalupe Elementary School
Câu chuyện của Anla cũng là một “huyền thoại” khi chiếc thuyền vượt biên của chị cùng một tầu khác bị lọt vào một hoang đảo. Cô bé thuyền nhân tỵ nạn lúc đó chỉ mới vừa 9 tuổi, nhưng đã phải chứng kiến cảnh người ta vì đói mà phải “ăn thịt nhau để sống”! May mắn thay cô và gia đình đã được chiếc tầu dầu của Hong Kong cứu vớt kịp thời và đưa vào trại Kai Tak. Hình ảnh nỗi kinh hoàng của 39 năm về trước dường như đã phai mờ trong trí tưởng, cho đến khi Anla biết được VOICE đã và đang đóng tiền để nuôi anh Huỳnh Phong, một người đàn ông tỵ nạn tại bệnh viện tâm thần ở Manila từ hơn 10 năm qua, chỉ vì ông đã chứng kiến cảnh thân nhân mình bị những người đồng thuyền giết chết để dùng làm “phương tiện sống còn”! Anh Phong đã phát điên từ dạo ấy, thậm chí cho đến khi sống trong làng VN anh vẫn cứ trần truồng như người tiền sử, bi nhốt riêng trong một căn nhà, và làm mồi cho ruồi muỗi! Khi trại đóng cửa, mọi người được đi định cư, ngoại trừ anh, không quốc gia nào nhận, nên VOICE đã đưa anh vào một dưỡng trí viện, sạch sẽ, an toàn ở Manila để người ta săn sóc cho anh. Một số bác sĩ người Canada gốc Việt đã bay qua Phi để chữa trị cũng như thẩm định, cầu mong Canada cho anh được định cư, nhưng vẫn hoài công, vô vọng.

Anh Huỳnh Phong, ngày còn sống trong Làng Việt Nam
Mỗi lần đến PLT, chúng tôi đều ghé thăm anh Phong. Riêng cô bé tỵ nạn Anla ngày nào đã khóc hết nước mắt trong chuyên đi này, cô bảo: “Hoàn cảnh của chú Huỳnh Phong có thể là hoàn cảnh của chính bản thân cháu, khi chứng kiến cảnh tượng kinh hoàng đó. Cũng may là gia đình cháu được cứu vớt kịp thời”! Và cũng chính vì thế mà trong suốt tuần lễ ở Manila, Anla đã không đi viếng cảnh như những người bạn khác, mà cô dành nhiều thì giờ để thăm nom anh Huỳnh Phong, và Anla đã xin VOICE cho cô được nhận trách nhiệm tài chánh để nuôi anh Phong cho đến khi anh nhắm mắt!

Anla và anh Huỳnh Phong hiện nay

Gặp những thiện nguyện viên đầy lòng nhân ái của VOICE cùng những việc làm đầy tình nhân bản mà tổ chức VOICE đã và đang âm thầm thực hiện, tôi cảm thấy mình may mắn, được dành những khỏang thời gian hiếm quý còn lại của đời mình sau khi về hưu để tình nguyện tiếp tay với họ giúp những đồng hương bất hạnh. Không những thế, lần đầu tiên tôi cho hai cô con gái vừa tốt nghiệp đại học được đi theo bố để học hỏi những tấm gương hy sinh to lớn, vô vụ lợi của các thành viên thuộc tổ chức VOICE, cùng những tấm lòng bao dung, những đóng góp vĩ đại của các vị ân nhân. Tôi muốn các con tôi tiếp xúc cùng đồng bào tỵ nạn để nhìn thấy tận mắt hình ảnh mà ông bà, cha mẹ và cô chú của các cháu đã từng trải qua lúc vượt biên. Và quan trọng hơn cả là các cháu gặp được những người đồng tuổi từ trong nước. Những thực tập sinh của VOICE, những nhà vận động cho tự do, dân chủ, nhân quyền trên quê hương VN. Tiếc là cháu Phương Nam đã không gặp được người bạn đồng môn ở YALE, đó là Will Nguyễn, người mà cháu và các bạn đã từng tranh đấu để anh được trả tự do sau cuộc xuống đường lịch sử tại VN vào ngày 10 tháng 6, 2018.

Hai cháu được tiếp xúc với đồng bào tỵ nạn thiểu số Tây Nguyên

…được đi thăm Cha Peter Namwong cùng các thuyền nhân tại nhà thờ Wat Noi Catholic
Càng ngưỡng mộ những thiện nguyện viên của VOICE bao nhiêu thì tôi lại càng phẫn nộ bấy nhiêu khi thấy những người “cùng một dòng máu” lại manh tâm đi hại chính đồng bào của mình! Hầu hết họ đều đến HK bằng đường hàng không hay theo diện di dân nên không thể nào cảm nhận được nỗi thống khổ, gian truân của những người vượt biển bằng thuyền. Nhưng họ lại đang toa rập với những kẻ vô tâm khác để lớn tiếng chất vấn và “tố cáo” với các quốc gia định cư rằng, những thuyền nhân bị cưỡng bức hồi hương về VN như nữ quân nhân Lê Thị Ba hay những người đồng cảnh ngộ, rồi sau đó tìm đường vượt biên qua lại Thái Lan, đều không đủ tư cách để được nhận là người tỵ nạn! Họ là ai, và lấy quyền gì mà hạch hỏi, mà thắc mắc, trong khi chính quốc gia định cư không đặt điều kiện về vấn đề này với các thuyển nhân kém may mắn hơn chúng ta?

Chị Lê Thị Ba từ trai giam di trú Thái Lan ra phi trường Bangkok để đi định cư tại Canada, 2016
Viết đến đây và trong một sự tình cờ, tôi nhận được emails của bác sĩ Phan Minh Hiển, một trong những ân nhân của người tỵ nạn hiện đang sống ở Pháp. Ông từng tham gia và chủ trương nhiều dự án thiện nguyện trong đó có hoạt động cứu người vượt biển cùng bác sỹ Bernard Kouchner ở biển Đông trên tàu Goelo và chiến hạm Le Balny năm 1982. Cạnh đó là lời nhắn gởi của anh Bùi Mạnh Hùng, một cựu sĩ quan QLVNCH rất có lòng và uy tín trên các diễn đàn mạng của cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ, đồng thời với những dòng text của anh Vũ Hoàng Hải, thành viên của nhóm Bạch Đằng Giang. Cả 3 vị trên đều nhắn gởi VOICE giúp đỡ cho một cựu thuyền nhân trại Sikiew, ông Đào Bá Lê cùng gia đình được sớm đi định cư. Ông Lê bị cưỡng bức hồi hương năm 1996, và sau bao nhiêu năm vất vưởng trên chính quê hương mình, ông và gia đình trốn sang Cam Bốt, tá túc tại đây một thời gian dài, sau cùng quyết định nhập cảnh bất hợp pháp trở lại đất Thái Lan với ước vọng được định cư ở một nước thứ ba, sau bao nhiêu năm sống cuộc đời lưu lạc, nổi trôi!

Cuộc sống vất vả của đồng bào tỵ nạn VN tại Thái Lan hiện nay
Thật là trái ngang và chua xót, trong khi có những người quan tâm đến số phận hẩm hiu như hoàn cảnh của gia đình ông Đào Bá Lê, thì lại có kẻ nhẫn tâm đi ngược lại! Họ quên rằng còn có hơn 1000 đồng bào tỵ nạn VN đang vất vưởng ở Thái Lan hiện nay đang mòn mỏi đợi chờ một ngày nào sẽ được đặt chân đến bến bờ tự do như họ, như hàng triệu người Việt tỵ nạn may mắn khác. Tôi cũng không hiều tại sao những cá nhân đó, những hội đoàn hay tổ chức họ đang phục vụ, không “tranh dành uy tín và danh vọng” bằng cách phục vụ đồng bào tốt hơn VOICE, hữu hiệu, và kết quả hơn những gì mà các thiện nguyện viên của VOICE ở khắp nơi trên thế giới đã và đang làm?  Tôi cũng thắc mắc, tại sao không có một tổ chức nào ngoài VOICE làm công việc giúp đỡ định cư người Việt tỵ nạn hiện nay? Chẳng lẽ không còn một quốc gia nào đoái hoài đến người Việt tỵ nạn Cộng Sản ngoài Canada hay sao? Câu trả lời đều là CÓ CHỨ! Ngoài Canada thì Úc, Mỹ và một số quốc gia Âu Châu vẫn đang nhận người tỵ nạn hàng năm, thậm chí họ cũng có các chương trình “private sponsorship of refugee program” tương tự như Canada! Vấn đề ở chỗ là: có ai chịu khó đứng ra vận động, đấu tranh cho quyền lợi của người tỵ nạn? Hay chỉ thích ngồi để chỉ trích, moi móc, bịa đặt hầu được nổi tiếng, được nhiều người chú ý vào xem Facebook của mình hay “câu view” trên YouTube?

Đồng hương tham dự ĐNH “Tiếng Nói & Tương Lai” tại Montreal
Tuy nhiên bên cạnh những điều tiêu cực đó, chúng ta vẫn có quyền hy vọng. Hình ảnh của gần 1000 khán giả, đồng hương tham dự buổi đại nhạc hội “Tiếng Nói và Tương Lai”, rất thành công tại Montreal, Canada vào ngày Chủ Nhật 28 tháng 7, 2019 vừa qua, với kết quả gần 75 ngàn dollars thu được để giúp VOICE Canada gây quỹ định cư người Việt tỵ nạn tại Thái Lan. Buổi nhạc hội này hoàn toàn do những thiện nguyện viên có lòng đứng ra tổ chức.

Chi phiếu tặng quỹ định cư cho VOICE Canada
Sự thành công đó chính là những lời an ủi chân tình dành cho đồng bào tỵ nạn của chúng ta, tuy âm thầm nhưng nghe rất rõ như ý nghĩa bài hát của nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng “Bên Em, Đang Có Ta”!!!
Nhạc phẩm này cùng với ca khúc “Có Tin Vui Giữa Giờ Tuyệt Vọng” cũng do NS Trầm Tử Thiêng và Trúc Hồ sáng tác trong thời điểm xây dựng Làng Việt Nam hơn 20 năm về trước có thể sẽ được mãi mãi vang lên khi kế hoạch xây dựng Bảo Tàng Viện Thuyền Nhân ở Palawan, PLT trở thành sự thật.

Lịch sử thuyền nhân tỵ nạn Việt Nam
Hiện nay một nhóm thiện nguyện viên dẫn đầu là ông Jan Top Christensen, đại sứ Đan Mạch tại PLT, và từng là Cao Ủy Trưởng Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ, cùng hiền thê là bác sĩ Phùng Thị Thiên Kiều, một cựu thuyền nhân Palawan. Họ đang đề nghị một dự án trùng tu lại Làng Việt Nam, chùa chiền, nhà thờ và các cơ sở tôn giáo khác, cùng với những ngôi nhà tỵ nạn năm xưa, để vừa xây dựng Bảo Tàng Viện Thuyền Nhân, vừa làm địa điểm du lịch để đồng hương người Việt trở về thăm chốn cũ.

Vợ chồng ông đại sứ Đan Mạch tại Làng VN chụp với tác giả cùng anh Dũng (gia đình vẫn sống trong làng) và anh Bảo Thiên (thà chết không chịu hồi hương)
PLT xứng đáng là nơi lưu trữ lịch sử của cuộc hành trình tìm tự do vĩ đại của người VN, vì khó có một đất nước nào đã “che chở” người Việt tỵ nạn lâu dài và nhân đạo hơn Phi Luật Tân.
– Phi Luận Tân là quốc gia đầu tiên đã nhận người tỵ nạn VN đến Subic Bay và Clark Air Base từ ngày 17 tháng Tư, 1975.
– Phi Luật Tân là đất nước duy nhất có Làng Việt Nam bên ngoài Việt Nam và sẽ có người tỵ nạn VN sống ở đây cho đến trọn đời.
– Phi Luật Tân cũng là quốc gia duy nhất đã không thi hành lệnh trục xuất thuyền nhân VN.
– Bataan, PLT là “trạm dừng chân hạnh phúc” của hầu hết đồng bào VN từ nhiều trại tỵ nạn khác chuyển đến đây để được hướng dẫn về đời sống mới trước khi thực sự đặt chân đến các quốc gia định cư.

Tác giả cùng đồng bào tỵ nạn tại trại Bataan, PLT, 1981
Cũng chính vì thế mà nhiều người Việt đã trở về thăm chốn xưa và nói: “Thank you, Philippines”!
Nam Lộc