Thursday, October 8, 2015

Sự thật về những người Việt bị tước bỏ quy chế Tỵ nạn Chính trị tại Pháp quốc

Như quý độc giả đã biết qua về hai bài báo: Bài thứ nhất của của ký giả Xuân Mai trên báo Áp- phê Paris số 4 tại Paris như sau:
“Ông Nguyễn Văn Tuyền, 59 tuổi đến định cư tại Pháp năm 1980. Với lá đơn thống thiết như sau: “Nếu tôi ở lại, nhà cầm quyền CSVN sẽ bắt giam, đánh đập và bỏ tù không có ngày ra. Vì lý do nhân đạo, tôi trân trọng thỉnh cầu nước Pháp, vui lòng chấp thuận cho tôi được tỵ nạn chính trị, sống tạm dung trên mảnh đất tự do nầy, và tôi chỉ trở về quê cũ khi nào quê hương tôi không còn chế độ độc tài Cộng Sản.

Nhưng ông Tuyền đã phản bội tư cách tỵ nạn của ông đến 7 lần, từ năm 1995 đến năm 2000. (Theo tài liệu của OFPRA = Office Francais de Protection des Réfugiés et Apatride – Cơ quan Bảo vệ Người Tỵ nạn và Vô Tổ quốc)

Ngày 27-6-2000, ông Tuyền và 544 Việt kiều Pháp bị OFPRA gởi thơ thông báo rút lại thẻ tỵ nạn, với lý do trở về quê cũ khi còn chế độ độc tài Cộng Sản. “Chiếu theo điều 1, khoản 2A của Hiệp Định Genève ngày 28-7-1951, chúng tôi thu hồi thẻ tỵ nạn. Đồng thời cũng trình lên Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ, kể từ nay, OFPRA không còn chịu trách nhiệm với ông, về tình trạng cư trú, xin việc làm, hưởng trợ cấp xã hội theo diện người tỵ nạn chính trị”.

Được biết, từ năm 1988 đến năm 2000, tổng số người Việt ở Pháp bị truất bỏ quyền tỵ nạn và quyền lợi, với con số là 22,417. Bài viết ghi như sau: “Chính phủ Việt Cộng qua các đại sứ từ Võ Văn Sung, Mai Văn Bộ, Trịnh Ngọc Thái đến Nguyễn Chiến Thắng đã coi người Việt Nam là thành phần cực kỳ phản động, cần phải triệt hạ, hoặc áp dụng chính sách gậy ông đập lưng ông. Đó là, dễ dãi trong việc cấp chiếu khán cho họ, để họ bị OFPRA cắt quyền tỵ nạn và trợ cấp xã hội.

Sau khi cấp chiếu khán, tòa đại sứ thông báo danh sách cho Bộ Nội vụ Pháp biết tên họ của những người vi phạm luật tỵ nạn. Một khi mất thẻ tỵ nạn, thì mất luôn thẻ thường trú (Carte de Séjour) nên không xin được việc làm.Trường hợp đó, muốn sống ở Pháp trên 3 năm, thì phải có Passport của chính phủ CSVN, để trở thành công dân Việt Cộng cho đến mãn kiếp.”
Cái thâm độc của VC là như thế!”.
Và bài thứ hai là của ông Phan Văn Song. Cả hai bài đã đưa lên Internet từ lâu. Xin trích lại từng đoạn như dưới đây:
“Chúng tôi xin phép quý độc giả trích nguyên văn bài viết của báo Ép-Phê Paris là tờ báo việt ngữ duy nhứt được phát không ở các thương hiệu và chợ Á đông ở Paris và nhở vậy được phổ biến rộng rãi trong cộng đồng người Việt tại Paris và vùng lân cận. Dĩ nhiên với điện thoại, người Việt tỵ nạn phe ta sẽ thông báo cho bà con toàn xứ Pháp biết. Nhưng theo điều tra và hiểu biết của chúng tôi thì cho đến ngày hôm nay bản tin giựt gân nầy của báo Ép-phế hổng có Ép-phê tí nào. Người Việt tỵ nạn vẫn về Việt Nam đều đều, vì từ năm 2000 trở về nay, phe ta vào quốc tịch Pháp đông hơn.
3. Thẻ tạm trú, thẻ đi làm, thông hành

Thẻ tạm trú (carte de séjour temporaire) hạn định một năm, gia hạn ba lần, sau ba lần được thẻ thường trú hạn định ba năm (carte de résident), sau hai lần có thể xin carte de résident permanente – thẻ cư ngụ vĩnh viễn, thẻ này 10 năm xin lại một lần. Có thẻ nầy rồi, với quy chế nầy rồi, khỏi phải vô dân Tây làm gì cho mệt ! Nếu không phải Việt kiều, vì Việt kiều có thông hành (hộ chiếu Việt Cộng) đi về Việt Nam, dân tỵ nạn có một cái nhức đầu là làm sao dzìa Việt Nam chơi đây…”
Xin bỏ qua những từ ngữ do hai tác giả trên đã viết về những trường hợp bị tước quy chế tỵ nạn chính trị tại Pháp. Người viết chỉ nói về những chuyện thật 100% đã xảy ra đối với những người Việt, mà một thời họ đã được hưởng quy chế Tỵ nạn Chính trị, được cơ quan OFPRA = Office Francais de Protection des Réfugiés et Apatride – (Cơ quan Bảo vệ Người Tỵ nạn)cấp những giấy tờ theo thứ tự thời gian, đúng như ông Phan văn Song đã viết:
“Thẻ tạm trú (carte de séjour temporaire) hạn định một năm, gia hạn ba lần, sau ba lần được thẻ thường trú hạn định ba năm (carte de résident), sau hai lần có thể xin carte de résident permanente – thẻ cư ngụ vĩnh viễn, thẻ này 10 năm xin lại một lần. Có thẻ nầy rồi, với quy chế nầy rồi, khỏi phải vô dân Tây làm gì cho mệt!”
Tuy nhiên, có một điều ông Phan Săn Song cũng như đa số người Việt tỵ nạn chính trị tại Pháp đã tưởng lầm rằng:
“carte de résident permanente – thẻ cư ngụ vĩnh viễn, thẻ này 10 năm xin lại một lần. Có thẻ nầy rồi, với quy chế nầy rồi, khỏi phải vô dân Tây làm gì cho mệt!”.
Sự thật không phải như vậy, vì “carte de résident permanente  đúng là cứ 10 năm xin lại một lần. Thế nhưng, carte de résident permanente, không phải là“vĩnh viễn”, vì có thể bị thu hồi bất cứ lúc nào, khi người có thể ấy, vi phạm Luật Tỵ nạn Chính trị của nước Pháp.
Một điều nữa, những người đã được cấp “carte de résident permanente “ đều hưởng tất cả những quyền lợi như những người có quốc tịch Pháp. Nếu không có việc làm, hoặc lợi tức thấp, họ đều dễ dàng thuê nhà ở, chính phủ trả hai phần ba tiền nhà, còn họ chỉ trả một phần ba mà thôi.
Về an sinh xã hội, họ được bảo hiểm y tế của chính phủ, khi bị bệnh, tai nạn, đi Bác sĩ, kể cả các phòng mạch tư và Bệnh viện tư, họ đều được chính phủ trả hết một trăm phần trăm, từ tiền ăn ở trong bệnh viện đến tiền thuốc cho nhà thuốc Tây. Họ không phải trả một đồng bạc nào cả.
Trẻ con được cấp tiền nuôi dưỡng kể từ tháng thứ tư, lúc còn nằm trong bụng mẹ, cho tới lúc ra trường, nếu có sức học, thì chính phủ vẫn trợ cấp, để các sinh viên muốn học tới đâu cũng được, từ Đại học, cho tới khi lấy bằng Tiến sĩ…
Người lớn tuổi, già yếu, bệnh tật, dù không hề đi làm một ngày ở nước Pháp, nhưng họ vẫn được cấp cho mỗi tháng là 800 Euros (tám trăm Âu kim) là tiền già, hoặc tiền dành cho người tàn phế. Ngoài ra,  nếu họ không tự lo cho bản thân, thì Văn Phòng Xã Hội cho người tới tận nhà, để dọn dẹp, lau nhà, bỏ áo quần vào máy giặt, đem phơi, tắm rửa, thay  áo quần, nấu ăn, rửa chén bát, và có thể đút thức ăn tận miệng nữa.
Trở lại, với những trường hợp bị tước bỏ quy chế Tỵ nạn Chính trị tại Pháp.
Đúng là khi được cấp “carte de résident permanente”, thì cứ 10 năm xin lại một lần; nếu không vi phạm luật của nước Pháp.
Thế nhưng, tiếc rằng, đã có không ít người sau khi đã được cấp “carte de résident permanente “,  ”thẻ 10 năm”, thì đã trở về Việt Nam, Những người này họ đã bị tước bỏ quy chế Tỵ nạn Chính trị. Cách đây hơn 10, chúng tôi đã biết những trường hợp này, khi họ nhờ người thân của chúng tôi đưa đến cơ quan OFPRA = Office Francais de Protection des Réfugiés et Apatride – (Cơ quan Bảo vệ Người Tỵ nạnđể làm thông dịch tiếng Pháp, để hỏi lý do bị thu hồi quy chế Tỵ nạn Chính trị, thì được cơ quan này trả lời:
“Vì ông/bà đã ký vào một lá thư xin từ chối quy chế Tỵ nạn Chính trị”.Khi hỏi lại người này, thì họ nói: “Tôi không biết tiếng Pháp, nên có ký nhưng không biết ký cái giấy gì”.
Và cơ quan OFPRA = Office Francais de Protection des Réfugiés et Apatride đã trả lời:
“Dù không biết tiếng Pháp, nhưng ông/bà đều biết, chính ông/bà đã tới Tòa Đại sứ Việt Nam để xin giấy tờ nhập cảnh vào Việt Nam, và đã du lịch Việt Nam, là ông/bà đã vi phạm Luật Tỵ nạn Chính trị của nước Pháp; bởi khi xin Tỵ nạn Chính trị, ông/bà đã tuyên thệ là nạn nhân của Cộng sản Việt Nam, và không trở về quê cũ khi chế độ Cộng sản vẫn còn, vì nếu về sẽ bị bắt bỏ tù. Ông/bà có thấy phía sau thẻ tỵ nạn có ghi là không được trở về quê cũ hay không?”
Rất nhiều những trường hợp bị tước bỏ quy chế Tỵ nạn Chính trị như trên, đã xảy ra từ lâu rồi, nhưng chính họ lại giấu diếm không cho người khác biết, mà theo người thông dịch là “họ muốn cho những người khác cũng bị như họ vậy”. (Đồng bệnh sẽ tương lân chăng?!)
Riêng tôi, khi biết những chuyện đã xảy ra, tôi đã khuyên những người Việt đừng trở về Việt Nam, nhưng chẳng ai tin, vì họ cứ nói: “mình đâu có đi thẳng từ Pháp về Việt Nam, mà đi qua nước khác, rồi mới vào Việt Nam, thì Pháp đâu có biết”, và mặc dù tôi đã giải thích, là đi bằng cách nào, qua bất cứ nước nào, thì họ cũng biết cả, nhưng bà con mình chẳng tin, nên họ cứ về Việt Nam, cho tới khi bị tước bỏ quy chế Tỵ nạn Chính trị, thì tất nhiên họ phải mất hết những quyền lợi mà họ đã được hưởng như trước kia. Họ phải xin giấy tạm trú từ một đến ba tháng, rồi cứ xin gia hạn như một người du lịch, nếu không, họ là người cứ trú bất hợp pháp, phải tự đi tìm việc làm đế sống, mà đi làm thì phải đóng thuế cho Pháp và cả cho Việt Nam Cộng sản nữa! Họ không được trợ cấp tiền bạc, chính phủ không trợ giúp tiền thuê nhà, nên chủ nhà phải đuổi họ, vì họ không trả nổi tiền nhà; họ trở thành người vô gia cư, phải trả tiền cho Bác sĩ và nhà thuốc Tây…
Trên đây, là rất nhiều những trường hợp đã xảy ra khoảng hơn mười năm về trước mà tôi được biết.
Còn hôm nay, tôi muốn kể ra hai trường hợp mới nhất vừa xảy ra như sau:
Trường hợp thứ nhất:
Một cặp vợ chồng vượt biển tới Pháp cùng thời gian với tôi. Sau này,  bà vợ bị tai biến mạch máu não, bị liệt nhẹ một chân; chính phủ cho ông được chăm sóc cho vợ có lãnh lương tối thiểu, bà vợ được hưởng tiền trợ cấp dành cho một người bị tàn phế  là 800 Euros (tám trăm Âu kim). Như vậy, với số triền trợ cấp cho hai vợ chồng, thì hai người sống thảnh thơi, đâu có thiếu thốn, tiền nhà chỉ trả một phần ba, nhưng rồi vì thảnh thơi quá, nên hai người đã dành tiền lại, để về Việt Nam.
Thế là, mọi chuyện đã ập đến. Sau khi về Việt Nam trở lại Pháp, thì Vợ chồng của ông nhận được thư thông báo tước bỏ quy chế Tỵ nạn Chính trị, nhưng vì lớn tuổi, bà vợ bị liệt nhẹ một chân, nên không thể tìm việc làm, để xin thẻ tạm trú được. Cuối cùng hai vợ chồng phải trở về Việt Nam, nhiều đồng hương cũng thấy tiếc cho họ, vì nếu họ không về Việt Nam, thì dù họ không có quốc tịch Pháp, nhưng với tiền trợ cấp của hai người, thì họ vẫn sống một cuộc sống đầy đủ như những người có quốc tịch Pháp.
Trường hợp thứ hai:
Trường hợp của người này, có lẽ ông ta khổ hơn, vì bất ngờ. Cũng có thể vì hiện nay trong thời gian có dòng người quá đông đảo đang tìm cách nhập cư vào Âu Châu? Đó là trường hợp của Nguyễn Văn Bảy, ông ta cũng đến Pháp cùng thời gian với tôi, gần 30 năm rồi, nhưng không có quốc tịch Pháp giống như hai vợ chồng người kia. Cũng xin nói thêm, hai ông này không xin vào quốc tịch Pháp được, vì khi đi phỏng vấn để xin vào quốc tịch Pháp, họ không thể trả lời những câu hỏi của người phỏng vấn, vì ngoài những câu hỏi, người phỏng vấn còn bảo người Tỵ nạn phải viết theo những câu họ đọc, và đọc những câu họ viết bằng tiếng Pháp. Về điều này, rất khó khăn, nếu không có căn bản tiếng Việt, thì khó có thể đọc và viết tiếng Pháp, vì tiếng Pháp khó hơn tiếng Anh rất nhiều. Trừ những người, dù giỏi tiếng Pháp, nhưng  không muốn nhập tịch Pháp quốc.
Trở lại với trường họp mới nhất, đã xảy ra vào cuối tháng 8 năm 2015:
Ông Nguyễn Văn Bảy, khi đi về Việt Nam, mọi chuyện bình thường; nhưng khi trở về Pháp, thì chỉ mới xuống máy bay tại Phi trường Charles-de-Gaulle, Paris, ông ta liền bị Cảnh sát bắt giữ ngay; đồng thời thu hồi tất cả những giấy tờ do chính phủ Pháp đã cấp cho ông, trong đó, có “carte de résident permanente” (thẻ này có thời hạn 10 năm. Sau đó, được gia hạn cho tới chết) nếu không vi phạm Luật Tỵ nạn Chính trị.
Theo người thông dịch tiếng Pháp cho ông  Nguyễn Văn Bảy, kể với tôi, thì khi ông bị bắt và bị thu hồi tất cả giấy tờ, Cảnh sát Pháp đã nói với ông Bảy:
“Ông thấy đó, hiện nay, đang có rất nhiều người hàng ngày đang đổ về Âu Châu, để xin tỵ nạn, nhưng chính phủ Pháp không dễ dàng chấp nhận cho họ tỵ nạn; còn ông đã được cấp quy chế Tỵ nạn Chính trị rồi, mà ông còn đi về Việt Nam, nơi mà trước kia ông từng nói là ông không chấp nhận chế độ Cộng sản Việt Nam và không bao giờ trở về khi còn chế độ cộng sản, vì trở về ông sẽ bị bắt bỏ tù. Nhưng hôm nay, ông đã trở về Việt Nam, nên chúng tôi phải thu hồi tất cả giấy tờ của ông. Đó là Luật của nước Pháp, đối với những người vi phạm Luật Tỵ nạn Chính trị”
Vì vậy, hiện nay, ông ta phải đi ở nhờ nhiều người, để đi làm tại các vườn nho, hái trái cây, dọn vườn nhà… mà người Việt có quen biết với ông ta, thường hay nói: “cha đó bây giờ chả đang lang thang, nên ít khi mình thấy chả”.
Thật ra, những người Việt ở gần, có quen biết với ông, họ đều thấy tiếc cho ông, vì đang hưởng quy chế Tỵ nạn Chính trị, mà phải mất hết tất cả khi mới vừa đặt chân xuống Phi trường Charles-de-Gaulle. Giờ đây, sau gần 30 năm được hưởng tất cả những quyền lợi của quy chế Tỵ nạn chính trị. Như thế, mà chỉ vì thiếu sự hiểu biết, (mà cũng vì muốn du hí, thưởng thức những “chùm khế ngọt”), nên ông đã trở thành người cư trú bất hợp pháp, phải sống vô gia cư, lang thang trong mùa Đông sắp tới và nhiều năm kế tiếp nữa!
Tạm kết:
Tóm lại, tôi muốn nói rằng:
Những điều do ký giả Xuân Mai đã viết trên báo Áp- phê Paris số 4, là những điều có thật đã xảy ra, mà tôi đã biết cách đây hơn mười năm.
Những điều tác giả Phan Văn Song viết cũng có đúng, chỉ riêng chuyện “ carte de résident permanente – thẻ cư ngụ vĩnh viễn…” là chưa hoàn toàn đúng, vì khi vi phạm Luật, thì sẽ bị thu hồi, chứ không phải là “vĩnh viễn”.
Tác giả Phan Văn Song cũng viết những điều rất tai hại:
“…đến ngày hôm nay bản tin giựt gân nầy của báo Ép-phế hổng có Ép-phê tí nào. Người Việt tỵ nạn vẫn về Việt Nam đều đều…”
Tôi xin trả lời, ông Phan Văn Song viết đúng là “Người Việt tỵ nạn vẫn về Việt Nam đều đều…”. Chính vì vậy, nên họ đã bị tước bỏ quy chế Tỵ nạn Chính trị cũng “đều đều”, và có rất nhiều người, đã bị “đếu đều” như thế, nhưng họ “đều đều” giấu diếm, để cho những người khác cũng bị “đều đều” như họ hết.
Cuối cùng, tôi muốn nói với ông Phan Văn Song:
Ông đừng nên viết như vậy nữa, để cho những ai chưa về Việt Nam họ phải dừng lại ý nghĩ đó, hầu tránh được những chuyện đáng tiếc đã xảy ra như trường hợp mới nhất của ông Nguyễn Văn Bảy đã bị thu hồi tất cả giấy tờ ngay khi vừa đặt chân xuống phi trường Charles-de-Gaulle, Paris, vào cuối tháng 8 năm 2015 vừa qua. Vì thế, hiện giờ, ông ta là người cư trú bất hợp pháp, đang lang thang đâu đó trên những vườn nho, hay tìm những nơi để làm vườn, không nhà, không nơi nương thân; mà ông ta không lường trước được, vì chỉ mới trước tháng 8 năm 2015, ông còn có nhà cửa, có tất cả.
Người cầm bút, cần phải viết thật, nói thật, để cho đồng bào của mình, vì thiếu sự hiểu biết, họ không phải đi vào con đường vi phạm Luật, để rồi đánh mất cả tương lai của cả cuộc đời họ; Mặc dù, họ là những người đáng trách, vì đã trở về để “du lịch”, là để tô son điểm phấn cho chế độ Cộng sản Việt Nam!
Paris, ngày 06/10/2015
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Friday, September 25, 2015

Nhân vật “đối kháng“ truy tố tội ác cộng sản

 
Bài viết này trình bày những suy tư cá nhân về trường hợp các nhân vật được xem hay tự nhận là “đối kháng“ do Hoa Kỳ cấp giấy nhập cảnh nên đã sang Mỹ nói chung. Nói riêng thì nó chú trọng vào khía cạnh các nhân vật “đối kháng“ dự kiến tiến hành thủ tục pháp lý nhằm truy tố các tội ác của cộng sản trước nền công lý nhân loại.
 
Khi người Việt Nam được nước ngoài thu nhận
 
Sau ngày 30.04.75 một số lớn đồng bào chúng ta có cơ may được nhiều quốc gia thuộc “thế giới tự do“ thu nhận. Rất nhiều người nghĩ rằng phen này mình sẽ đem chuông đi đấm nước người. Các chuyên viên kinh tế tài chánh, các kỹ thuật gia v.v..thường nuôi mộng sẽ có dịp thi thố tài năng trong xã hội mới nơi đất khách. Tôi quen một ông giáo sư đại học kinh tế. Trong một buổi hội thảo, ông lớn tiếng tuyên bố sẽ dạy cho người Đức làm kinh tế. Một ông giáo sư dạy Đức ngữ ở cấp trung học thời Việt Nam Cộng Hoà chuẩn bị tâm trạng để sang Đức dạy tiếng Đức. Ngay một bà sinh sống bằng nghề tiểu thương cũng lạc quan bảo rằng ở Việt Nam mà mình còn buôn bán được thì sang Đức mình sẽ kinh doanh qui mô. Vân vân. Tất cả những trường hợp tôi vừa liệt kê đều tỏ ra hết sức tự tin khi minh hoạ khả năng thi thố tài năng nơi quê người để rồi sau đó họ sống rất thoải mái trên vùng đất lạ nhờ trợ cấp xã hội. Cho nên nếu những nhân vật chính trị “đối kháng“ được Mỹ nhân danh điều được gọi là “nhân quyền“ mang sang nước họ trong thời gian gần đây có lớn tiếng tuyên bố hơi hơi đại ngôn thì đó là điều rất hợp thế thái nhân tình.
 
Khi chư vị “đối kháng“ tuyên bố vào thuở ban đầu
 
Tất cả quí Ông quí Bà sang Mỹ theo tư cách “trục xuất“(?) hay không trục xuất đều đồng thanh khẳng định là mình sẽ tiếp tục đấu tranh. Định luật này không có ngoại lệ. Chẳng có ai khi mới chân ướt chân ráo ra khỏi phi cơ mà lại lên tiếng công khai bảo rằng mình sang Mỹ là để sống đời hưu trí hay ít ra thì cũng để sống cảnh an thân. Cư xử như thế thật đáng hoan nghênh. Nhưng ý chí quang phục quê hương dần dà nhạt nhoà đi cùng với cuộc sống kéo dài trên đất lạ và kết quả là những thành phần tạm xem là “đối kháng“ rốt cuộc cũng chỉ sử dụng những biện pháp chống cộng giống y như người tỵ nạn; thậm chí còn thua người tỵ nạn, ví dụ họ không hề hay rất ít tham gia các vụ biểu tình chống đối những lãnh tụ cộng sản công du ngoại quốc. Ngoài ra do chịu ảnh hưởng quá nặng của chính sách tuyên truyền nhồi sọ, họ dễ có những phát biểu, những nhận thức không đúng chân lý lịch sử; và tình trạng này hạn chế không ít tác dụng chống cộng của họ.
 
Đáng nói hơn là những dự tính riêng tư lúc ban sơ của từng người. Không muốn bài viết quá dài, tôi chỉ xin đan cử trường hợp hai Ông Bà Nguyễn Văn Hải và Tạ phong Tần. Ông Điếu Cày Nguyễn Văn Hải vừa mới qua được Mỹ là đã tuyên bố sẽ canh tân đường lối thông tin trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài và sẽ kết hợp truyền thông giữa quốc nội và hải ngoại. (Tôi chỉ ghi lại nội dung chính, tôi không chủ tâm phải ghi nguyên văn lời phát biểu). Cá nhân tôi chờ mãi vẫn chưa thấy kết quả cụ thể của đường lối này. Ngoài ra, Ông Nguyễn Văn Hải còn cho biết sẽ kiện cộng sản trước các toà án quốc tế. Tôi rất vui khi nghe tin này, dẫu biết rằng nói và làm khác nhau rất rất rất xa. Thế rồi mấy hôm nay niềm vui tưởng đã tắt lịm bỗng nhen nhúm trở lại khi nghe lời tuyên bố của Bà Tạ Phong Tần. Lời tuyên bố của Bà mạnh mẽ hơn so với lời tuyên bố trước đây của Ông Nguyễn Văn Hải. Nhiều lần, Bà Tạ Phong Tần dùng tính từ quen thuộc của ngôn từ cộng sản, tính từ “hoành tráng“. Nói chung, Bà sẽ kiện cộng sản trước các toà quốc tế một cách “hoành tráng“ vì Bà mang được sang Mỹ đầy đủ hồ sơ án lệ. Khác và cũng hơn Ông Nguyễn Văn Hải, Bà Tạ Phong Tần tỏ ra rất tự tin khi trình bày tâm nguyện bản thân.
 
Truy tố tội ác Việt cộng : hết phe quốc gia...
 
Nhiều lần tôi từng nhận định rằng chỉ có biện pháp truy tố tội ác Việt cộng trước các pháp đình quốc tế mới là một biện pháp tấn công, chủ động, xung kích nhắm vào phía địch; còn tất cả các biện pháp khác – biểu tình tuần hành, hội thảo hội luận, dựng lại cờ vàng, đặt tên Saigon Nhỏ, sáng tác chính luận v.v..– đều chỉ là những biện pháp thụ động, bị động, tự vệ nhằm giữ đất giữ người. Cho nên cùng với một vài đồng bào và tổ chức khác, cá nhân tôi đã tìm hiểu và đệ đơn truy tố tội ác giặc cộng, nhưng chúng tôi, cho đến nay, đã không đạt được thành quả nào cả. Xin sơ lược kể ra sau đây : Luật sư Nguyễn Thành ở Florida, Hoa Kỳ; Thiếu tá Liên Thành ở California, Hoa Kỳ; Ông Trúc Lâm Nguyễn Việt Phúc Lộc ở Bern, Thụy Sĩ. Nếu kể cả bản thân tôi thì đã có bốn công dân gồm hai công dân Hoa Kỳ, một công dân Thụy Sĩ và một công dân Đức quốc lập thủ tục truy tố tội ác giặc cộng trước các cơ quan bảo vệ công lý quốc tế. Chúng tôi sử dụng tố quyền của những nạn nhân trực tiếp của chính quyền cộng sản; nói cách khác, chúng tôi tố cáo các trọng tội hình sự của cộng sản trước nền công lý nhân loại với tư cách là chứng nhân hay hội đoàn. Nhưng không có toà án quốc tế nào chịu chấp đơn khởi tố của chúng tôi vì những tội danh do chúng tôi nêu ra đều đã mất thời hiệu. (Tôi chỉ nêu các trường hợp tố tụng đứng đắn, đàng hoàng).
 
...đến người cộng sản
 
Thoạt nghe nhị vị Nguyễn Văn Hải-Tạ Phong Tần cho biết sẽ kiện Việt cộng, tôi đã cảm thấy ngỡ ngàng. Cùng chung hoàn cảnh với hai vị, cùng bị cộng sản câu thúc thân thể một cách phi pháp – theo lời tố cáo của cả ba người – còn có luật sư Cù Huy Hà Vũ. Hơn nữa, Bà Cù Huy Hà Vũ cũng là luật sư. Tại sao tiến hành một công việc thuộc phạm vi luật pháp mà lại không do hai chuyên gia về luật, nạn nhân trực tiếp của lạm quyền tư pháp, chủ xướng và chủ trì?
 
Toà án quốc tế có rất nhiều nhưng theo sự hiểu biết của cá nhân tôi thì chỉ có hai cơ cấu thích hợp với việc chúng ta theo đuổi là International Court of Justice (ICJ) thiết lập năm 1945 và International Criminal Court (ICC) thiết lập năm 2002. Nhưng ICJ chỉ thụ lý những vụ tranh chấp (general disputes) do các quốc gia khởi tố, hay nói cách khác, các cá nhân không được phép nộp đơn kiện cáo tại ICJ. ICC nhận đơn truy tố về những trọng tội quốc tế thuộc ba lĩnh vực diệt chủng, tội ác chống nhân loại và tội ác chiến tranh (international crimes of genocide, crimes against humanity, and war crimes). Thuộc loại hình crimes against humanity có imprisonnement or other severe deprivation of physical liberty và outrages upon personal dignity [bỏ tù hay câu thúc thân thể trầm trọng (chẳng hạn “tập trung học tập cải tạo“ đối với “ngụy quân ngụy quyền“) và xúc phạm nhân phẩm]. Hai nhân vật “đối kháng“ Nguyễn Văn Hải-Tạ Phong Tần có thể tự xem là đối tượng của hình thức tội phạm hình sự này vì cả hai đã bị cộng sản giam cầm và ngược đãi. Như thế, đối với ICC và trên nguyên tắc, họ có tố quyền. Nhưng có tố quyền là một chuyện, truy tố được hay không là chuyện hoàn toàn khác.
 
Hai mặt của một vấn đề
 
Công pháp quốc tế sẵn sàng tạo cơ hội cho nạn nhân các chế độ tàn bạo sát nhân giữ một vai trò tích cực, chủ động, trung tâm, trọng yếu trong tiến trình truy tố tội ác của những chế độ liên hệ. Nạn nhân không phải chỉ giữ vai trò nhân chứng mà còn có quyền yêu cầu tiến hành điều tra tội ác để rồi cùng tham gia tiến trình truy tố và đòi hỏi bồi thường. Nhiều quốc gia văn minh dân chủ đã cùng đồng loạt ban bố thủ tục cụ thể nhằm tiến hành truy tố và kết tội những tên sát thủ đồng thời bồi hoàn thiệt hại tinh thần và vật chất cho nạn nhân oan ức. Nhưng đó là lý thuyết.
 
Khi thực hành thì khác. Như đã trình bày, hai Ông Bà Nguyễn Văn Hải-Tạ Phong Tần chỉ có thể truy tố tội ác cộng sản trước ICC. (Thật ra còn có European Court of Human Rights hoạt động từ năm 1959 lận và chuyên xử các vụ vi phạm nhân quyền nhưng nó chỉ thụ lý các án lệ liên quan đến công dân Liên Âu. Egon Krenz, cựu Bí thư Đảng Cộng sản Đông Đức, đã nộp đơn kiện tại pháp đình này vì cho là mình bị luật pháp Đức tuyên án oan ức.) Vì là một international court nên dẫu nhị vị là công dân Hoa Kỳ (hay công dân Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam), nhị vị vẫn được phép nộp đơn truy sách. Tuy nhiên, hoạt động của ICC vốn đặt cơ sở trên văn kiện mệnh danh là Pháp chế La mã (Rome Statute) mà quốc gia Việt nam cộng sản lại không chịu ký tên cũng như không chịu phê chuẩn văn kiện lập pháp này. (Đã có 122 quốc gia ký tên rồi phê chuẩn; có quốc gia đã ký tên nhưng chưa phê chuẩn như Do Thái, Thái Lan, Hoa Kỳ; 43 quốc gia không ký tên, không phê chuẩn trong số có Trung Cộng, Ấn Độ, Lào, Bắc Hàn, Việt Nam).
 
Dẫu sao đi nữa, Việt cộng không công nhận thẩm quyền của ICC thì chúng sẽ không chịu trách nhiệm hình sự khi bị kết án; nhưng nếu hai nguyên đơn Nguyễn Văn Hải-Tạ Phong Tần đạt được một kết quả nào đó trước Toà Hình sự Quốc tế International Criminal Court ICC thì cũng ngoạn mục lắm rồi. Cho nên tất cả vấn đề là hai nguyên đơn họ Nguyễn họ Tạ phải chứng minh rằng mình là nạn nhân của tội ác chống nhân loại, crimes against humanity. Lợi thế của hai nguyên đơn : tội ác của giặc đối với hai người chưa mất thời hiệu.
 
Cho đến bây giờ, phe quốc gia không gặt hái được thành công khi truy tố tội ác giặc cộng chỉ vì : a) thảm sát Mậu Thân Huế không mất thời hiệu nếu được nền công lý nhân loại công nhận là genocide, là tội ác diệt chủng nhưng bên nguyên, cho đến nay, đã không làm được việc chứng minh này; b) các tội ác khác [giam cầm không xét xử (học tập cải tạo) chẳng hạn] đã mất thời hiệu vì xảy ra từ 1975; c) vả lại Toà Hình sự Quốc tế được thiết lập từ năm 2002 và chỉ thụ lý những án lệ xảy ra sau niên đại này.
 
Người có gốc nguồn từ phía quốc gia đã không thành công. Giờ đến lượt người xuất thân từ phía cộng sản hành động. Nếu hành động đạt được một chút kết quả nào đó thì những nhân vật “đối kháng“ đáng được xem là hữu ích phần nào. Nếu, nếu,nếu...
24.09.2015
Trần Văn Tích

Thursday, September 24, 2015

Gởi tiền về Việt Nam.

CLAREMONT, California (NV) – Giáo sư Đại Học Pomona, Thái Cẩm Hưng, hoàn tất công trình nghiên cứu về một đề tài ai ai trong chúng ta cũng đã, đang và sẽ làm, nhưng không hề hiểu biết chi tiết về việc ấy: Gởi tiền về Việt Nam.

Cuốn sách có tựa đề 'Insufficient Funds,' tạm dịch là “Không Đủ Tiền.”


 
alt
Cuốn sách mới của Giáo Sư Thái Cẩm Hưng.(Hình do ông Thái Cẩm Hưng cung cấp)

“Không đủ tiền” đã lập tức nhận được giải thưởng Sách Hay Nhất Năm 2015 về Á Châu của Hội Xã Hội Học Hoa Kỳ.

Giáo sư Hưng trả lời nhật báo Người Việt: “Tựa này là do một Việt kiều ở Virginia gặp tôi tại Việt Nam đề nghị.”

“Anh ta kể một hôm ra ATM rút tiền nhưng không được, chỉ thấy biên nhận có dòng chữ: “INSUFFICIENT FUNDS:  SORRY YOU CANNOT WITHDRAW MONEY AT THIS TIME. (Không đủ tiền: Xin cáo lỗi, quí vị không thể rút tiền bây giờ).”
Các nhà phê bình gọi đây là một “cuộc nghiên cứu thành công rực rỡ mang tính bước ngoặt,” một tường thuật về tài chánh của người di dân, một “đóng góp lớn lao cho sự hiểu biết của chúng ta về sinh hoạt kiều hối, theo thông cáo báo chí của Đại Học Pomona.

“Tôi nảy ý định viết cuốn sách này là vì tôi nhìn thấy sự tiêu xài gần như vô độ của Việt kiều khi về nước,” giáo sư Hưng nói.

alt
Giáo Sư Thái Cẩm Hưng trong một buổi thuyết Giảng.  (Hình: Pomona.edu)


“Cho nên tôi muốn tìm hiểu để coi có nguyên nhân gì khiến họ làm như vậy, nguyên nhân sâu xa hơn là khoe khoang, “lấy le””.

Cũng là người Việt di cư, vượt biên đến Mỹ đầu thập niên 1980, nghiên cứu này có ý nghĩa sâu xa cho chính bản thân tác giả.

“Lớn lên trong hoàn cảnh nghèo khó ở tiểu bang Mississippi, tôi từng chứng kiến cảnh cha mẹ tôi gởi tiền về Việt Nam để rồi người nhà trong nước lâm vào cảnh phá sản, mất cả chì lẫn chài,” giáo sư Hưng thuật chuyện.

Một trong những điểm đáng chú ý, ông nhận định rằng rất nhiều mối quan hệ gia đình của người Việt đã bị “tài chánh hóa,” nghĩa là nền tảng tình cảm gia đình được xây dựng dựa trên tiền bạc. 

Gởi tiền về cho thân nhân ở Việt Nam là cách biểu lộ tình thương.

Rất đông gia đình gốc Việt ở nước ngoài gởi tiền cho thân nhân với giá quá đắt, bất chấp sự bấp bênh tài chánh của họ ở ngay tại đây.

Những gia đình này làm chỉ vừa đủ "trên mức nghèo," theo ấn định của chính phủ là $23,000/năm cho gia đình bốn người, hoặc $14,000/năm cho một người.

Thế mà, vì gởi tiền về Việt Nam, họ phải chịu sống cảnh nghèo nàn, túng thiếu. Họ tự đặt mình vào một tầng lớp mà các nhà xã hội học gọi là “the missing class,” một giai cấp bị lãng quên, trong các cuộc thảo luận về an sinh xã hôi hoặc cơ hội tìm việc làm, giáo sư Hưng ghi nhận.

“Họ tiện tặn, không dám tiêu xài để gởi tiền trên mức họ làm ra cho nên trong khi họ có thể trợ giúp cho thân nhân ở Việt Nam có được cuộc sống thoải mái, bao nhiêu người đã mang công, mắc nợ.”

“Đây là một hy sinh lớn.”

“Khổ nỗi, rất hiếm người nhận tiền ở Viêt Nam thấu hiểu được sự hy sinh này bởi vì chả bao giờ người gởi lại nói thật hoàn cảnh tài chính của mình, của những người đã sang đến Mỹ.”

“Họ muốn để người nhà nghĩ rằng họ đã đạt được “giấc mơ Mỹ” và đón nhận sự nể phục và tôn kính của thân nhân.”

Ở chương Sáu, sách bàn về chuyên gởi tiền lâu dần thành một thói quen.

“Đa số, khi đã gởi tiền vài lần thì thân nhân bắt đầu có hy vọng, trông mong, nên người gởi buộc phải tiếp tục gởi vì không muốn người nhà thất vọng.”

Chương Bảy bàn về tình tạng những đòi hỏi của người trong nước bị cám dỗ bởi những nhu cầu vật chất phải xài đồ ngoại một cách thiếu thực tế nên tạo áp lực thân nhân nước ngoài.

Chương Chín đề cập đến những câu chuyện thương tâm: Một ông và một bà coi việc gởi tiền như một bổn phận, vì gởi quá nhiều tiền trong thời gian dài nên lâm vào hoàn cảnh phá sản. 

Xấu hổ và mặc cảm với thân nhân đã khiến họ không dám liên lạc nữa; họ cắt đứt với gia đình. Trong lúc ấy, gia đình ở Việt Nam không hiểu lý do gì.

“Ở góc nhìn khác, khi về nước, những Việt kiều này thường tiêu tiền phung phí khiến thân nhân không thể ngờ rằng Việt kiều người nhà của mình lại có thể lâm vào cảnh túng thiếu ở nước ngoài được.”

alt
Tác giả Thái Cẩm Hưng.  (Hình do ông Thái Cẩm Hưng cung cấp)


“Tôi xin nhấn mạnh, cuốn sách này hoàn toàn không phê bình hay châm biếm những người gởi tiền được đề cập mà là để chúng ta cảm thông cho họ, cho hoàn cảnh của họ.”
“Tôi có hai cảm giác rất trái ngược khi viết cuốn 'Tiền không đủ," một là buồn và một là thích thú. Buồn cho những cảnh sống quá thê thảm và tạm bợ, còn thích thú là vì những tình thương sâu đậm qua sự hy sinh cho thân nhân.”

Giáo sư Hưng nêu rằng, người di cư có những lợi điểm hơn những sắc dân khác như dân da trắng hoặc da đen nghèo vì họ có chỗ để cho và tiêu xài.

Người Việt di cư tìm được giá trị và nhân phẩm mà họ không thể có được nếu không có quê hương nghèo nàn để quay lại.”

“Tôi cảm động vô cùng khi nghe về quyết định của một số người. Có người cố tình lấy hết tiền trong thẻ tín dụng để gởi về Việt Nam bởi vì họ có được sự hài lòng.”

Nhân phẩm, cảm giác thương yêu gia đình, cảm giác thành đạt là những gì chúng ta tìm được khi giúp đỡ thân nhân ở Việt Nam.

Theo thống kê của Ngân Hàng Thế Giới, trong năm 2015, ước tính số tiền Việt kiều ở Mỹ gởi về Việt Nam là $6.8 tỷ trong tổng số $12 tỷ từ các nước khác.
Năm 2008, giáo sư Thái Cẩm Hưng cho phát hành cuốn sách khác mang tựa đề “For Better or for Worse: Vietnamese International Marriages in the New Global Economy,” tạm dịch: “Tốt Hơn hay Tệ Hơn: Những Cuộc Hôn Nhân Quốc Tế của Người Việt Trong Bối Cảnh Kinh Tế Toàn Cầu Mới."

Phụ lục:

Ước Tính Tiền Gởi Về Việt Nam Năm 2015: $12 tỷ

American Samoa: $1 triệu
Úc: $1 tỷ
Áo: $15 triệu
Azerbaijan: $1 triệu
Bangladesh: $80 triệu
Belarus: $1 triệu
Bỉ: $10 triệu
Bulgaria: $2 triệu
Cambodia: $111 triệu
Canada: $843 triệu
Trung Quốc: $124 triệu
Cộng Hòa Czech: $209 triệu
Đan Mạch: $47 triệu
Phần Lan: $25 triệu
Pháp: $53 triệu
Đức: $647 triệu
Guam: $2 triệu
Hong Kong: $53 triệu
Hungary: $14 triệu
Iceland: $3 triệu
Ấn Độ: $2 triệu
Ireland: $7 triệu
Italy: $21 triệu
Nhật: $167 triệu
Bắc Hàn: $2 triệu
Nam Hàn: $522 triệu
Lào: $34 triệu
Malaysia: $109 triệu
Moldova: $1 triệu
Mông Cổ: $1 triệu
Hà Lan: $58 triệu
Tân Caledonia: $4 triệu
Tân Tây Lan: $26 triệu
Na Uy: $72 triệu
Philippines: $1 triệu
Ba Lan: $12 triệu
Nga: $52 triệu
Cộng Hòa Slovak: $6 triệu
Tây Ban Nha: $6 triệu
Thụy Điển: $74 triệu
Thụy Sĩ: $58 triệu
Thái Lan: $62 triệu
Timor-Leste: $1 triệu
Ukraine: $11 triệu
Anh: $124 triệu
Mỹ: $6.8 tỷ
Uzbekistan: $2 triệu

Wednesday, September 23, 2015

Người Việt cố giàu lên, để làm gì?




Trong những ngày mưa ngập lụt lội nhiều nơi tại Việt Nam, có một người đàn ông đi xe hơi hạng đắt tiền đã giận dữ bỏ đi giữa làn nước, vốn đã lên đến thắt lưng, để lại chiếc xe của mình một cách đau đớn bất lực. Như hàng vạn người nghèo khó khác đã ngụp lặn, lội qua giòng nước ô nhiễm đó, chèo kéo từng chiếc xe honda, xe đạp của mình để về nhà, người đàn ông đó chắc cũng có chung một câu hỏi không lời đáp về tương lai mà tiền của là vô nghĩa trước những biến động đang ập đến ngay cửa nhà mình.

Qua những biểu đạt than phiền về ngập lụt khắp nơi qua các trang mạng hay báo chí, có thể thấy rằng không phải con người Việt Nam đã quá sức chịu đựng, mà họ như sực tỉnh trước một giấc mộng dài được vỗ về bởi những người lãnh đạo về sự hoa lệ của đô thị, về những chỉ số phát triển…  nhưng chỉ trong tíc tắc đã lộ ra rằng mọi thứ chỉ là sân khấu tạm thời rực rỡ. Khi cánh màn nhung và những lời tuyên bố vừa dứt, hiện thực đã hiện ra tàn nhẫn với tương lai về nhà đen ngòm.

Người Việt rầm rộ làm giàu từ nhiều năm nay, tập bỏ quên mọi thứ khác chung quanh mình, mà tưởng chừng miếng cơm manh áo no đủ sẽ giải quyết tất cả, nhưng mọi thứ lại không phải như vậy.

Chưa bao giờ người Việt ào ạt in và ngấu nghiến đọc những công thức dạy làm giàu, dạy thành đạt như bây giờ. Thậm chí liều thuốc cường dương dựng đứng giấc mơ thành đạt của Mã Vân (Jack Ma) cũng được nhắc đi nhắc lại như một kim chỉ nam “quá 35 tuổi mà còn nghèo là tại bạn”. Thế nhưng những phong trào uống, chích các loại thuốc như vậy không hề có việc ghi chú chống chỉ định rằng việc thành đạt nóng, phải giàu có cho bằng được đôi khi cũng tạo ra loại ác thú núp kín sau bộ mặt niềm nở với đồng loại của mình.

Rất nhiều người trẻ ở Việt Nam muốn nhanh giàu có, nên đã bơm hoá chất vào heo gà và rau xanh, hoặc trở thành những kẻ cướp máu lạnh. Tệ hơn nữa là những kẻ luồn lách và làm giàu bằng gian lận và tham nhũng tiền thuế của nhân dân. Làm giàu và khoe giàu đã trở thành một tín chỉ quan trọng để vuơn lên, leo vào một chuồng trại khác trong xã hội Việt Nam hôm nay. Già hay trẻ cũng vậy! Sự tôn thờ vật chất đã có rất nhiều ví dụ đau lòng như con giết cha mẹ để lấy nhà, lấy đất cho đời thụ hưởng.

Nhưng rồi sự giàu có đó, sự tách biệt hãnh tiến đó bất chợt vỡ toang như những chiếc bong bóng xà phòng khi cơn mưa đem lụt lội đến. Họ nhận ra rằng mặt bằng cuộc sống không an sinh, không có gì cân bằng với giáo dục. Môi trường, an ninh… Mọi hợp đồng bảo hiểm chỉ là trò tận thu chứ không hề cứu rỗi lúc tai ương. Mọi lời hứa vĩ đại trôi qua năm tháng, chìm vào hiện thực. Tương tự  như sự kiện “ngày đen tối” của thị trường chứng khoán Việt Nam ảnh hưởng bởi thị trường chứng khoán Trung Quốc, trong tháng 9/2015 với gần 10 tỷ USD bốc hơi trong vài ngày, đã nhắc khéo rằng dường như mọi lâu đài đang được dựng lên bằng ảo tưởng của một đám đông, và bằng thực tế đáng giá của một vài kẻ đứng sau cánh gà.

Một chị bạn để dành được ít tiền sau những năm dài vật lộn mưu sinh, đã gọi hỏi tôi rằng có cách nào đưa con đi du học nước ngoài thật nhanh. Khi tôi hỏi lý do vì sao chị gấp gáp như vậy, thì câu trả lời – không phải của riêng một người – rằng chị cảm thấy lo lắng và muốn đưa con đến một môi trường sống và giáo dục tốt hơn. Một thế hệ mới của người Việt đang tự cào cấu với khát vọng đổi thay cuộc sống của mình nhưng bất lực, nên đành chọn cách chạy đi?

Câu chuyện của chị bạn xảy đến cùng lúc với tin những học trò nghèo ở Huế chưa đóng được học phí bị bêu tên dưới cột cờ. Công ty Tôn Hoa Sen kêu gọi từ thiện nhưng chặn nguồn nước của dân thiểu số ở Đạ Mri đế ép lấy đất. Công ty Tân Hiệp Phát thì thay vì xin lỗi người tiêu dùng, bãi nại cho người tố cáo sản phẩm lỗi bị gài bẫy đi tù… thì thay giám đốc người nước ngoài để rửa mặt. Và ở Hà Nội, quan lại chia nhau cai trị trong họ hàng của mình ở huyện Mỹ Đức.

Đã có bao nhiêu người Việt đang gắng làm giàu, chỉ để tìm cách cho mình hay con em mình rời xa quê hương? Chắc không ít, và cũng chắc chắn không phải là một khuynh hướng tạm thời.

Nhan nhản trên các trang báo, cũng như tin nhắn rác, là các dịch vụ môi giới đầu tư hay học nghề… ám chỉ việc ra đi, định cư ở nước ngoài. Một người bạn làm công việc này cho biết lượng người gọi vào, tìm hiểu, làm đơn hay hy vọng đang tăng đến mức kinh ngạc, thậm chí diện EB-5 của Mỹ, đòi hỏi phải có ít nhất 500.000 USD cũng vậy . Trong các bài phóng sự đuợc dịch từ báo nước ngoài cho thấy người Trung Quốc làm ra tiền đang ùn ùn tìm cách chuyển tài sản ra khỏi nước hoặc tìm cách di cư sang các nước phương Tây. Chỉ tính trong 10 năm, từ năm 2000 đến 2011, Trung Quốc đã chảy máu hơn 3.500 tỷ USD do người giàu Trung Quốc chuyển ra ngoài.

Chưa có con số thống kê nào về người Việt Nam nhưng tin tức vẫn hay hé mở cho biết các đại gia Việt luôn trong thế “an toàn” khi tất cả nhà cửa, tài sản, gia đình… được sắp xếp ở Mỹ, Canada… thậm chí ở ngay Singapore. Cũng như người Trung Quốc, họ đã cố gắng làm giàu bằng mọi cách trên quê hương mình nhưng không chọn tồn tại ở nơi đó. Điều này có ý nghĩa gì?

Có cái gì đó thật khó nghĩ về cách vồ vập muốn làm giàu của người Việt hôm nay, kể cả cách sau đó họ che mặt ra đi, bất chấp Việt Nam vẫn đang sáng rực tên trên các bản tin bình chọn là một trong những quốc gia hạnh phúc và đáng sống nhất thế giới.

Trong bài thơ Quê hương của nhà thơ Đỗ Trung Quân, đời thật đẹp với những chùm khế ngọt.  Nhưng dường như một lớp người Việt hôm nay không chỉ tranh nhau hái trái, đốn hạ cây mà âm mưu sở hữu bán cả mảnh đất cha ông đã trồng cây để đầy túi. Nhưng lạ thay, sau đó họ lại lặng lẽ  gói ghém ra đi thật xa. Người Việt đang cố gắng làm giàu thật nhanh rồi như vậy, vì sao?

Xin đừng ai trả lời. Đừng nói một lời nào cả. Chúng ta hãy cùng lặng im và suy ngẫm.
nhacsituankhanh