Friday, October 23, 2015

Phim "Gạo đắng", số phận nông dân Việt Nam ở vùng Camargue

Năm 1941, trong khi chính phủ Vichy phải trông cậy vào nguồn nhân lực nhập cư từ các thuộc địa, hàng chục ngàn lính thợ Đông Dương được tuyển mộ để tới Pháp, không phải để chiến đấu trên những chiến tuyến máu lửa, mà để tham gia vào việc sản xuất và canh tác nhằm cứu sống đất nước khỏi thiếu thốn và đói nghèo.

“Gạo đắng” là câu chuyện kể lại quá trình người Việt Nam trồng lúa gạo tại Camargue, vùng Midi của Pháp, trong Đệ Nhị Thế Chiến. Bộ phim tài liệu được Alain Lewkowicz chuyển thể dựa trên một tác phẩm của Pierre Daum dưới tựa đề “Cưỡng ép nhập cư, những người lao động Đông Dương tại Pháp” (NXB Actes Sud). Trước khi được chiếu trên kênh truyền hình quốc gia France 3 vào tháng 06/2015, với đề xuất của nhóm hữu nghị Pháp-Việt của Nghị viện Pháp, bộ phim đã được chiếu tại Hạ viện ngày 05/05 dưới sự bảo trợ của chủ tịch Hạ viện Claude Bartelone với mục đích sửa chữa sự lãng quên và bất công mà những người lao động Đông Dương đã phải chịu đựng.
Đi tìm sự thật bị che giấu…
Câu chuyện bắt đầu vào cuối năm 2002, khi Lê Hữu Thọ, hiện đã qua đời, từng là một phiên dịch của một nhóm “Công binh” Đông Dương tại Camargue, tới thăm Bảo tàng Lúa gạo do ông Robert Bon quản lý tại Le Sembuc. Tại đây, ông ngạc nhiên nhận thấy bảo tàng không trưng bày bất kỳ một hình ảnh, hay một tư liệu nào liên quan tới những người đồng hương, từng cày cấy trong vòng 2 năm, 1941-1943, tại vùng Camargue.
Sau nhiều cuộc trao đổi qua điện thoại với người quản lý bảo tàng, Lê Hữu Thọ viết : “Để tiếp nối cuộc nói chuyện điện thoại ngày 11/12/2002, tôi xin gửi tới ông một số tài liệu liên quan đến nguồn gốc lịch sử của ngành trồng lúa gạo tại Camargue cho phép ông sửa lại một lỗi lầm lịch sử trong bản tưởng niệm (la mémoire) tại bảo tàng của ông. Đáng tiếc là ông đã che giấu ký ức về những người nông dân chính của ngành sản xuất lúa gạo tại Camargue. Đây là công trình của những người lao động, thuộc quân đoàn 2 nhân lực Đông Dương vào năm 1941, khi đang bị phát xít Đức chiếm đóng.
Những người tự cho hiểu biết Lịch Sử sau Đệ Nhị Thế Chiến đều ngạc nhiên khi biết rằng có 20.000 người lao động và 15.000 lính Đông Dương (hay còn gọi là Việt Nam) bị trưng bắt trong những năm 1939-1940 để hỗ trợ cho cuộc chiến của nước Pháp trong Thế Chiến. Phần lớn trong số họ là những nông dân giỏi tại Việt Nam. Sau khi Đình Chiến vào tháng 06/1940, 20.000 người Việt Nam đã sống tám năm lưu vong trên đất Pháp (1940-1948).
Trong thời gian này, nhiều người trong số họ đã có đủ thời gian tháo cạn những bãi đầm lầy của vùng Camargue và trồng lúa tại đây. Từ đó, ngành trồng lúa trên mảnh đất vùng Provence đã được khai sinh...”. Kèm theo bức thư, ông gửi rất nhiều tài liệu liên quan, cùng với những bức hình chụp người nông dân Việt Nam đang làm việc ngoài ruộng hay đang nghỉ giải lao. Robert Bon hiểu rằng Lê Hữu Thọ hoàn toàn đúng.
20.000 lao động Việt Nam sang giúp Mẫu Quốc khó khăn
20.000 lao động Đông Dương bị tuyển mộ cưỡng bức theo một sắc luật ngày 29/08/1939. Họ làm nghề nông, xuất thân chủ yếu từ các vùng nông thôn nghèo ở Bắc và Trung Kỳ. Bị chụp ảnh rồi đánh số, 20.000 lính thợ Đông Dương phải tuân thủ kỷ luật quân đội.
Ông Nguyễn Ngọc Châu, nhân chứng còn sống cuối cùng, nhớ lại : “Trước năm 1939, người ta nhìn thấy những tấm áp phích ghi rằng : “Mẫu Quốc đang gặp nguy. Nghĩa vụ của bạn là giúp đỡ Mẫu Quốc”. Điều này khiến mọi người xúc động. Vì tôi học trường Pháp, nên tôi chấp nhận ra đi. Hơn nữa, với chúng tôi, đó là cơ hội để nhìn thấy nước Pháp. Tôi gia nhập với tư cách là giám thị-phiên dịch.
Chúng tôi, những người phiên dịch, cùng với các quan chức địa phương, tới nhiều ngôi làng khác nhau để mộ phu. Ví dụ một làng có 20 hộ gia đình, thì phải tuyển đủ 20 người. Đúng kiểu bắt buộc. Nhiều gia đình có 3, 4 con. Trong trường hợp, ví dụ, người con trai cả, 35 tuổi, đã có gia đình và có 3, 4 người con, thì người con thứ hai hoặc thứ ba phải đi thay. Nếu gia đình không có con trai thứ nào để thay thế, thì người con cả, dù đã có gia đình và con cái, vẫn bị bắt buộc đi. Chính vì thế, trong thời kỳ đó, trong đoàn của chúng tôi, có nhiều người đã khoảng 30-35 tuổi”.
Được đưa lên trên 14 con tàu giống nhau, trong khoảng thời gian từ giữa tháng 10/1939 tới tháng 05/1940, 20.000 người thợ Đông Dương rời cảng Hải Phòng lênh đênh trên biển và cập cảng Marseille, miền Nam nước Pháp. Mỗi chuyến đi kéo dài tới 48 ngày, khiến nhiều người ốm và say sóng vì lần đầu tiên đi biển.
Tất cả lính thợ trên con tàu của ông Lê Hữu Thọ được chuyển tới tạm trú tại nhà tù cũ Baumette ở Marseille, nơi duy nhất có đủ chỗ chứa mọi người. Ông Nguyễn Ngọc Châu nhớ lại, mọi người đều không biết trước đó là nhà tù, mãi sau này họ mới được biết. Vì bên trong nhà tù đã được tu sửa sạch sẽ để mọi người có thể ở tạm trong thời gian ngắn. 20.000 lính thợ từ Viễn Đông tới được gọi là “nguồn nhân lực Đông Dương”, M.O.I. (main d’oeuvre indochinoise) được chia thành nhiều nhóm để gửi tới 73 công ty phục vụ cho ngành quốc phòng, trong đó có các nhà máy sản xuất vũ khí trên khắp nước Pháp (Bayonne, Toulouse, Saint Chams, Bourges, Tours, Rennes, Oissel, Bergerac ...). Từ đây, những người thợ Đông Dương bắt đầu khám phá thế giới công nghiệp với cường độ làm việc nặng nhọc.
Ngày 02/06/1940, nước Pháp thất bại trước phát xít Đức. Những người thợ Đông Dương phải tập trung hết trong Vùng Tự do (Zone libre). Ngày lịch sử này cũng đánh dấu chính quyền thuộc địa Pháp mất Đông Dương. Các chuyến tàu thuỷ tới vùng đất xa xôi có rất nhiều nguy cơ bị tàu ngầm Đức quốc xã bắn hạ. Pháp không nhận được gạo từ Đông Dương nữa. Nước Pháp đói ! Nước Pháp đầy người thất nghiệp !
Bất công cho những người nông dân “bất đắc dĩ”...
Chính lúc này, chính quyền Vichy đã đưa ra một quyết định vô cùng quan trọng : Sử dụng nguồn nhân lực Đông Dương đang có tại chỗ để thích nghi giống lúa nước tại Pháp. Ý tưởng bắt nguồn từ Henri Maux, một kĩ sư cầu đường và là công chức vừa mới từ Đông Dương trở về sau 10 năm sống và làm việc tại đây. Sáng kiến của ông hoàn toàn đúng thời điểm và làm thay đổi hoàn toàn vùng Camargue.
Người con gái của Henri Maux thuật lại: “Một lần, ông tháp tùng một Bộ trưởng tham dự hội thảo về trình trạng thất nghiệp diễn ra tại Marseille. Lần đầu tiên trong đời, ông không đi tàu hoả, mà đi bằng máy bay. Từ trên cao, ông nhìn được khu vực vùng Camargue. Ông thắc mắc tại sao nơi này lại không được khai thác trên diện rộng ? So với Nam Kỳ ở Đông Dương, vùng này còn đi sau tới 50 năm. Từ đó, ý tưởng trồng lúa nước tại Camargue được hình thành”.
Henri Maux cùng với một số đồng nghiệp cũ tới các khu tập thể của người lao động, và đặc biệt chú ý tới những người thợ Đông Dương. Do thất nghiệp và vẫn không thích nghi được với điều kiện thời tiết tại Pháp, rất nhiều người bị ốm hay mắc bệnh ung thư và sống trong tình trạng nghèo khó. Henri Maux đưa những người này ra khỏi khu tập thể, hoặc để dạy nghề cho họ, hoặc để họ làm việc ngoài đồng ruộng. Trên tổng số 20.000 lính thợ Đông Dương, 500 người được đưa tới trồng lúa tại Camargue.
Do không phải nộp bất kỳ khoản đóng góp xã hội nào nên nguồn nhân lực này rất rẻ. Tiền công một ngày làm việc của người lao động Đông Dương chỉ tương tương khoảng 1/10 lương của một người lao động Pháp thời đó. Tiền lương hàng tháng được chia thành hai phần. Một phần được trả hàng tháng cho người lao động. Phần còn lại, theo yêu cầu của chính phủ, được giữ lại và chỉ trả cho người lao động khi họ trở về Đông Dương.
Hoàn toàn tin tưởng vào chính sách của nhà nước, Henri Maux hy vọng, ngoài kinh nghiệm tiếp thu được tại Pháp, người lao động Đông Dương sẽ có được một khoản tiền tiết kiệm khá lớn nhờ công sức lao động. Nhưng trên thực tế, không ai biết khoản tiền tiết kiệm này đi đâu, và không một người lao động Đông Dương nào được thanh toán khoản tiền này.
Được phỏng vấn trong bộ phim, ông Bernard Vinay, một cựu quan chức hành chính, từ chối cho biết tỷ lệ giữa khoản tiền lương và khoản tiền bị giữ lại, với lý do quá lâu nên không nhớ. Mất một khoản tiền mồ hôi nước mắt, giới chủ không thực hiện các nghĩa vụ đóng góp xã hội, nên người lao động Đông Dương không được hưởng bất cứ quyền lợi gì.
Năm 1991, Bộ trưởng Bộ Ngân sách Michel Charasse, cũng đã khẳng định điều này, trong một bức thư trả lời bác sĩ Jean-Michel Krivine, phát ngôn viên của Uỷ ban Ủng hộ Cựu Lao động, như sau: “Vào thời kỳ tuyển mộ, người lao động Đông Dương không được đăng ký chế độ bảo hiểm xã hội, vì vậy, không được hưởng chế độ trợ cấp, tuổi già, hay các chế độ đền bù khác”. Sau khi Chiến tranh Thế giới Thứ hai kết thúc, rất nhiều người lao động Đông Dương trở về quê hương. Một số người ở lại, lập gia đình như trường hợp của Lê Hữu Thọ và Nguyễn Ngọc Châu.
Công dã tràng...
Lúa tiếp tục giúp những nhà sản xuất ở vùng Camargue trở nên giàu có. Chất lượng gạo vùng này nổi tiếng, thậm chí còn vượt trội gạo của Ý và Tây Ban Nha. Thế nhưng, công lao của người nông dân Đông Dương dần bị xoá mờ trong tâm trí của người dân địa phương và các hợp tác xã. Sau khi chiến tranh kết thúc, trên những cánh đồng lúa, thay thế người lao động Đông Dương là người Ý và Tây Ban Nha, được tuyển dụng có hợp đồng lao động và được trả lương một cách tử tế. Từ đó, không ai nghĩ tới những người nông dân Việt Nam đã viết lên những trang đầu tiên của ngành nông nghiệp trồng lúa tại Camargue. Để rồi đến một ngày hình ảnh những người nông dân Việt Nam, làm việc trong khoảng 10 năm trên đất Pháp, biến mất hoàn toàn.
Cho tới ngày nay, ngay tại “Lễ hội Lúa Gạo” tổ chức vào tháng 9 hàng năm tại Arles, không ai nhắc tới những người nông dân Việt Nam. Đây là bằng chứng cho sự bất công đối với những người lao động vất vả. Trong bất kỳ buổi trình diễn hay hoạt động nào, người dân địa phương luôn thể hiện gạo là tài sản riêng, là bản sắc riêng của vùng Camargue do ảnh hưởng từ Tây Ban Nha. Tại một vùng luôn quan tâm quảng bá giá trị văn hoá địa phương như tại đây, hình ảnh người nông dân Việt Nam với tư cách là người sáng lập ra ngành trồng lúa, khó có thể có được một vị trí trong tâm trí người dân.
Cá biệt hơn, một số người cho rằng, những thông tin và bằng chứng được công bố là giả, như trường hợp của Pierre Guillot và Yves Smith, cả hai trước đây đều là nhà sản xuất lúa gạo. Ông Guillot khẳng định “những người lao động Đông Dương không biết tới gạo, không phải là nông dân. Họ ở lại ngắn ngày, Vì vậy, phải dạy họ mọi khâu đoạn. Điều này khá vất vả”. Ông cũng cho biết, năm 1940-1944, người ta không nghe nói tới gạo tại Camargue, hoặc không sẽ là gạo nhập khẩu, từ Tây Ban Nha hoặc các nơi khác.
Khi phóng viên cho họ xem một bộ phim tài liệu được chiếu vào năm 1943 ghi lại hình ảnh những người nông dân Việt Nam thu hoạch lúa với tại Camargue, ông Yves Smith cho rằng tài liệu này được quay tại Đông Dương thì đúng hơn. Thế nhưng, làm thế nào để thanh minh cho một nhà kho hiện trong đoạn phim năm xưa, nay vẫn còn tồn tại ở Camargue ? Hơn nữa, còn rất nhiều đoạn phim ghi lại hình ảnh thu hoạch vụ mùa của người nông dân Việt Nam trên mảnh đất này.
Chúng ta đang ở Camargue, chứ không phải ở Đông Dương. Vụ mùa đã vượt quá cả dự định. Trên 500 héc ta do người thợ Việt Nam cày cấy đã thu về được 1.600.000 kg lúa. Sau khi đã tuốt lúa, sản lượng giảm 39% và sau khi tách trấu thì còn lại 1/2. Nhờ Camargue mà nước Pháp đã được ăn cơm. Đất nước của chúng ta đã thành công giúp loại lúa khó trồng này thích nghi được với khí hậu”.
Sau 5 năm đấu tranh với chính quyền địa phương, với những người trồng lúa tại Camargue và hoàn thiện các thủ tục hành chính, hội Tưởng niệm những người lao động Đông Dương (association “Mémorial pour les Ouvriers Indochinois”, M.O.I) đã thành công buộc Lịch Sử ghi nhận sự cống hiến của những con người bị lãng quên. Chủ nhật ngày 05/10/2014, ước mơ của Lê Hữu Thọ trở thành hiện thực.
Trong sân một chi nhánh thị chính Arles tại Salin-de-Giraud, một bức tượng bằng sắt tưởng niệm một người nông dân Việt Nam đã được dựng lên. Bài phát biểu tại buổi lễ của Bertrand Mazel, Chủ tịch Hiệp hội người trồng lúa tại Camargue, thể hiện một cách đầy đủ và súc tích lòng biết ơn tới những đóng góp của những người nông dân Việt Nam tại vùng đất này : “Tới lượt chúng ta có trách nhiệm tưởng niệm những người lao động tới từ Đông Dương trong giai đoạn lịch sử đau thương của nước Pháp. Thực tế là phải công nhận sự mất mát, hy sinh, đau khổ mà họ đã phải trải qua, và phải ghi nhận sự đóng góp bị rơi vào quên lãng của họ. Đúng là ngành nông nghiệp trồng lúa nợ họ rất nhiều vì họ đã tham gia vào việc phát triển ngành này sau Đệ Nhị Thế Chiến. Họ đã truyền cho vùng Camargue kỹ thuật cấy lúa mới mà chúng ta sẽ không bao giờ quên”.

Saturday, October 10, 2015

Những “người Pháp” gốc Việt có thể sẽ bị cúp tiền già…

Kính thưa quý độc giả: Người viết phải nói cho rõ ràng: Những “người Pháp” gốc Việt này, đa số đã trên dưới cái tuổi “Thất thập cố lai hy” đã và đang sống độc thân. Và đa số họ không viết và đọc được tiếng Pháp. Nhưng sở dĩ họ có được quốc tịch Pháp, là do họ được ăn theo người vợ, hoặc người sống chung khi được phỏng vấn để vào quốc tịch Pháp, vì những người người phụ nữ đó viết và đọc được tiếng Pháp. Nhưng sau đó, những người phụ nữ  sống chung, hoặc vợ đã chết hay chia tay, thì những “ông Tây” gốc Việt này, vì được hưởng tiền già mỗi tháng 800 Euros (tám trăm Âu kim), mà chỉ trả tiền thuê nhà 100 Euros thôi, nên đời sống của họ rất thong thả, lại còn được Văn Phòng Xã Hội cho người tới tận nhà làm tất cả những việc trong nhà, như tôi đã viết qua bài trước.

Chúng tôi là những người thường hay giúp họ trong vấn đề giấy tờ, nên những gì tôi viết là hoàn toàn có thật 100/%. Những “ông Tây” này, vì được “cơm no, ấm cật” nên mới…tất bật đi về Việt Nam, để rồi mỗi “ông Tây” lại có một “cô nhân tình bé nhỏ”. Và cũng có một số “ông Tây” đã về Việt Nam, có người  cưới vợ thật; nhưng cũng có người “cưới vợ” theo một đường dây kín đáo, với “thù lao” gần đây, đã từ 20.000 đến 30.000 Euros (hai mươi đến ba mươi ngàn Âu kim), để đưa một người sang Pháp. Đường dây này hiện nay đã bị “bể”; nghĩa là chính phủ Pháp đã biết.

Chính vì thế, nên chính phủ Pháp đã có một Luật mới, để ngăn chặn những hình thức gian lận như đường dây này. Trước kia, những người hưởng tiền già, cứ mỗi sáu tháng, thì cơ quan cấp tiền trợ cấp, đều gửi cho họ một tờ giấy tổng kết số tiền họ đã cấp cho người đó, phía sau tờ giấy họ để trống. Thế nhưng kể từ đầu năm 2014, thì trên mỗi tờ giấy tổng kết Lục cá nguyệt này, họ có ghi phía sau là Luật mới, họ buộc những người hưởng tiền già, mỗi lần ra khỏi nước Pháp, thì phải báo cho họ biết, nếu không báo, thì khi họ biết, không những họ sẽ cúp tiền trợ cấp, mà còn đòi lại tiền nữa.

Đối với những người thuộc các sắc dân khác, thì tôi không biết. Riêng  những “ông Tây” gốc Việt này, thì tôi biết rất rõ những trường hợp như sau:
“Ông Tây” thứ nhất: ông ta sinh năm 1936, năm nay gần 80 tuổi, cách đây ba năm, đã về Việt Nam cưới thật,  bà vợ chưa tới 40 tuổi. Hàng năm bà vợ cứ đòi về Việt Nam vào tháng Mười, đến qua Tết Nguyên Đán mới sang, để “ăn Tết với con cái” (con riêng của bà, hôm nay hai người đã về VN rồi).

Tôi đã nói với ông, đừng nên về Việt Nam nữa, vì ông cũng đã thấy dòng chữ phía sau của tờ giấy tổng kết Lục cá nguyệt của tiền già, thì ông nói như thế này:
 
“Tui cũng biết mà cô, nhưng vì tui lỡ lấy bả rồi, là bả chỉ mới bốn mươi tuổi, tui đâu có để bả đi về một mình được”.

Nghĩa là ông ta phải đi theo để kèm, giữ bà vợ trẻ, vì sợ vợ có người khác ở Việt Nam.

Khi tôi nói với ông, ông đi mà không báo cho cơ quan trợ cấp tiền già biết, nếu lỡ bị cúp tiền già, cũng như việc ông dùng thẻ của ngân hàng Pháp mà rút tiền ở Việt Nam, thì cũng như “Lạy ông con ở bụi này”, thì lúc đó, ông sẽ lâm vào một hoàn cảnh vô cùng bi đát. Thì ông cũng trả lời:
 
“Tui cũng biết như vậy chớ, nhưng nếu mình báo cho họ biết, thì họ cúp tiền trong mấy tháng mình đi Việt Nam, còn ở Việt Nam tui không vô máy rút tiền, thì lấy chi tui ăn”.

“Ông Tây” này nói như thế, nghĩa là ông đã “Một liều ba bảy cũng liều” rồi.

Và tôi nói tiếp với ông: Nếu trong thời gian ông đi Việt Nam, mà ở bên này, họ cúp tiền già, thì có thể ông bị chủ nhà lấy nhà lại, bị cúp điện, gaz, thì sao?
Và đây là câu cuối cùng ông trả lời:
 
“Thôi thôi đi cô ơi! Cô đừng nói tới chuyện xui xẻo đó với tui nữa, tui lỡ rồi, tui không biết làm sao nữa, tui  khổ quá rồi cô”.

Còn đây là “ông Tây” thứ hai: ông này sinh năm 1938, đã về Việt Nam cưới một cô vợ trẻ cũng dưới bốn mươi tuổi; nhưng ông ta không dám bảo lãnh sang pháp, vì ông nói “sợ đem bả qua, rồi bả bỏ tôi, thôi cứ để bả bên đó, lâu lâu mình về thăm bả thôi”.

Nghe vậy, tôi mới kể cho ông nghe một trường hợp của một ông bên Mỹ, về Việt Nam cưới vợ, có đến ba đứa con, ông cưng ba đứa nhỏ lắm; nhưng cho đến một ngày ông nghi ngờ sao đó, mới quyết định đi xét nghiệm ADA thì mới biết được cái kết quả ngoài sự tưởng tượng của ông, là cả ba đứa nhỏ không có đứa nào là con của ông hết, mà chừng đó chưa đủ cho ông đâu, vì trong ba đứa nhỏ đó, có hai đứa là một cha,  đứa nhỏ nhất là con của một cha khác. Nghĩa là ba đứa nhỏ, có hai ông cha. Còn ông chỉ là “cha” trên giấy tờ thôi!
Thế là ông ta đã cuốn gói bay về Mỹ, không dám quay đầu nhìn lại.

Khi nghe tôi kể câu chuyện thật đã đọc trên báo ở trong nước này, ông đã nói:
 
“Tại vì hồi xưa, người ta giới thiệu cho tôi, chớ tôi không nghĩ tới chuyện xa xôi; bi chừ thì tôi biết, dù tôi về hay không về thì bả cũng lấy người khác. Thôi cái số tôi nó như vậy”.

Còn đây là “ông Tây” thứ ba trẻ hơn, ông sinh năm 1949, vừa được trợ cấp tiền già, ông ta về Đà Nẵng, cưới một bà vợ trên ba mươi tuổi, và ông đã bảo lãnh sang Pháp được bốn năm. Nhưng ông này lại “xui xẻo” hơn hai ông kia, vì “vợ” mới sang, đã tìm cách ở riêng bằng cách xin đi làm nhà hàng Tầu ở Paris, không chịu ở chung với ông, ông ức quá, nên cứ gọi “vợ” gửi tiền về trả tiền nhà. Phần cô này,thì chấp nhận đóng góp trả tiền nhà, nhưng không chịu ở chung với ông.

Cô này có liên lạc với tôi nhờ giúp đỡ, cô lúc nào cũng khóc, nói rằng:
 
“Ổng hành hạ em, ổng đánh em, ổng lừa gạt em, bảo em sang mất cái tiệm bán đồ lưu niệm ở Đà Nẵng, để sang Pháp trước, rồi ổng sẽ bảo lãnh hai đứa con em sang sau. Sang đây rồi, em mới biết, ổng không bảo lãnh con em được, nhưng em không muốn trở về, vì xấu hổ với bà con hàng xóm lắm, nên em hận ổng, em xa con, em nhớ con em quá, chị tìm cách giúp em…”

Nhưng tôi làm sao mà giúp được; bởi trước kia thì dễ dàng, nên những “cô vợ trẻ” khi sang Pháp trên dưới sáu tháng, thì làm thủ tục xin được giấy tờ tạm trú. Sau đó, có thể xin được thẻ thường trú 10 (mười năm). Sau đó, các “cô vợ” xin ly dị, sống riêng, dễ dàng xin tiền trợ cấp Xã Hội, không cần những “ông Tây” này nữa. Còn bây giờ chính phủ Pháp đã thắt chặt đối với những người nhập cư rồi, để tránh những cặp “vợ chồng”, đã cưới nhau theo đường dây môi giới này, nên Luật mới không cho phép họ được ly dị trước 05 (năm năm). Nếu ly dị trước 05 năm, thì người “vợ” sẽ bị trục xuất trở về Việt Nam. Tuy nhiên, nếu sau 05 năm ly dị, thì người “vợ” sẽ không bị trục xuất nữa, mà được ở lại.

Vì vậy, nên tôi chỉ khuyên cô nếu muốn ở lại, thì phải cố gắng chịu đựng cho đủ 05 năm theo như Luật định. Hiện giờ cô ta đang đi làm nhà hàng Tầu, còn ông ta, thì nằm nhà “chèo queo” một mình. Song điều đáng nói, là ông ta đã đi về Việt Nam với “vợ” trong thời gian sau khi có Luật mới, mà không báo cho cơ quan trợ cấp tiền già biết, là ông đã vi phạm Luật.

Ngoài những hoàn cảnh trên, chúng tôi cũng biết có nhiều “bà vợ trẻ” đã và đang phải chịu sự hành hạ rất độc ác của một số “ông Tây” gốc Việt, mà không dám làm gì khác, vì với Luật mới, họ sợ bị trục xuất về Việt Nam, nên phải làm thân nô lệ rất bi thảm, mà không có ai biết đến; bởi người ta chỉ biết tới những đường dây đưa người lấy tiền sang các nước như: Nam Hàn, Đài Loan, Tầu cộng… Song chưa ai viết về số “cô dâu” đã và đang phải chịu đựng rất đau khổ, để chờ  05 năm sau, thì mới được ở lại nước Pháp.  Nhưng xót xa thay! Những “cô dâu” này không phải chịu sự hành hạ của đàn ông Đại Hàn, Đài Loan… mà đã và đang phải gánh chịu những sự hành hạ của những tên già bất lương được gọi là “người Pháp” gốc Việt, đáng tuổi ông nội, ông ngoại của mình!

Tạm kết:
Cuối cùng, chúng tôi muốn nói: Đối với những người hưởng tiền Hưu, nghĩa là họ có làm việc tại nước Pháp, đó là những đồng tiền thụ đắc, thì họ muốn sống ở nước nào cũng được. Nhưng, đối với những người đã và đang hưởng tiền  già, dù ông hay bà, nếu đi Việt Nam phải báo cho cơ quan cấp tiền già cho mình biết. Tôi cũng hiểu, đây là vấn đề rất khó khăn, vì khi báo cho họ biết, thì sẽ bị cúp tiền trong những tháng đi về Việt Nam. Thế nhưng, không báo, thì lại còn vi phạm Luật nặng hơn.

Vậy những ai đã về Việt Nam, thì nên xem lại những giấy tờ của cơ quan trợ cấp tiền già đã gửi theo Lục cá nguyệt, từng ngày, tháng, năm, để xem lại mình đã về Việt Nam trước hay sau ngày có Luật mới. Vì nếu về trước khi có Luật mới, thì có thể được bỏ qua. Chúng tôi cũng muốn nhắn với những phụ nữ trong nước, đừng bao giờ nghe theo những lời lừa gạt của mấy “ông Tây” giấy này, vì Luật mới không còn dễ dàng như trước, nên cho dù có “cưới” xong, thì các “ông Tây” già gốc Việt này cũng không bảo lãnh sang Pháp được nữa, vì đường dây này đã bị “bể” tức đã bị phát giác rồi. Và những người trong đường dây này cũng sẽ bị Luật pháp nghiêm trị trong tương lai.

Một điều tế nhị khác, là những “ông Tây” này chưa bị Luật pháp nghiêm trị, nên chúng tôi không muốn nêu tên. Còn sau này, nếu họ bị lâm vào những hoàn cảnh nào đó, là do chính bản thân của họ tự chuốc lấy, vì đa số những người này, đã ra đi bằng con đường vượt biển, họ đến Pháp cùng thời điểm với tôi. Và họ có thể dừng lại, khi nghĩ đến những năm tháng từng sống không tự do, mất quyền làm người… dưới chế độ độc tài, phi nhân của Việt cộng và những ngày đói khát, lênh đênh trên biển cả, trước khi được được tầu Pháp cứu vớt, và chính phủ Pháp cưu mang, chấp nhận là “thuyền nhân” Tỵ nạn Chính trị, rồi cho vào quốc tịch Pháp như ngày hôm nay. Họ cần phải nhớ lại như thế, để tránh những điều đáng tiếc có thể ập đến, mà không lường trước được.

Trên đây, là những “ông Tây” gốc Việt đã về Việt Nam cưới vợ. Ngoài ra còn rất nhiều những “ông Tây” như thế, đã về Việt Nam để du hí với gái trẻ đáng tuổi con, cháu họ, chứ không có cưới. Những “ông Tây” này, họ có thể sẽ bị chính phủ Pháp cúp tiền già, và còn đòi tiền lại nữa. Nếu trường hợp đó sẽ xảy ra, thì chẳng biết họ là những người “đáng thương”, đáng trách, hay là đáng kiếp!

Paris, 09/10/2015
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Friday, October 9, 2015

RIÊNG MỘT GÓC TRỜI


Buổi sáng hôm nay tôi thức sớm, nằm lim dim mơ màng nghe tin tức đài phát thanh Á Châu Tự Do (RFA), phát đi từ Hoa Thịnh Đốn. Gần cuối chương trình, cô xướng ngôn Hòa Ái giới thiệu một giọng nam trẻ, thật ấm áp, truyền cảm trong bản nhạc nổi tiếng của Ngô Thụy Miên - Riêng Một Góc Trời :
 
Tình yêu như nắng, nắng đưa em về, bên giòng suối mơ 
Nhẹ vương theo gió, gió mang câu thề, xa rời chốn xưa 
Tình như lá úa, rơi buồn, trong nỗi nhớ 
Mưa vẫn mưa rơi, mây vẫn mây trôi, hắt hiu tình tôi….

Tiếng hát dìu dặt vang vang trong buổi sớm tĩnh mịch mùa thu. Ngoài kia sương vẫn chưa tan, không gian còn mờ ảo. Tôi bỗng nhớ đến những ngày sống ở miền thần kinh xứ Huế bên quê nhà. Đã hơn năm mươi năm rồi, những kỷ niệm năm xưa tưởng đã phai mờ theo năm tháng. Nhưng mới hôm qua, bức thư của cô bạn thuở học trò từ nơi xa xôi ấy, đã gợi lại trong tôi những cảm xúc tưởng chừng đã đi vào quên lãng… 

* * *
Cho đến năm Đệ Tứ, khi những nam, nữ sinh chuẩn bị cuộc đua lấy mảnh bằng Trung Học, tôi tình cờ gặp một cô Đồng Khánh trong lớp luyện thi năm ấy. May mắn hơn, chúng tôi cùng ngồi cạnh nhau. Hàng tuần, ngoài giờ học ở mỗi trường riêng biệt, chúng tôi cùng đến lớp luyện thi để trau dồi thêm hai môn có hệ số điểm cao trong kỳ thi Trung Học Đệ Nhất Cấp : Toán và Pháp Văn. 

Vào hai ngày cuối tuần, chúng tôi lại họp nhau để cùng ôn bài thi. Nhóm chúng tôi có bốn người, hai nam sinh và hai nữ sinh - kể cả cô bạn tôi mới quen có hảo ý cho mượn căn nhà hóng mát ngoài vườn để cùng nhau ôn bài vở… Thuở ấy tôi chỉ là cậu học sinh chân quê, theo cha mẹ từ miền  Nam  Trung bộ “dinh tê” về thành phố Huế. Đối với tôi, đất thần kinh là nơi quyền quý của vua chúa ngự trị một thời; và người dân xứ Huế - nhất là các cô gái áo trắng thướt tha - là những kẻ cao sang thanh lịch. Đã hơn một lần, tôi bắt gặp mình đứng nhìn những cô nữ sinh Đồng Khánh, với dáng dấp thanh tao, với áo trắng bay bay, với chiếc nón bài thơ e ấp. Vào mỗi buổi chiều tan học, họ như đàn bướm trắng bay qua cầu Trường Tiền; hoặc đáp xuống chuyến đò Thừa Phủ để sang sông… Trong ba năm theo Trung Học Đệ Nhất Cấp ở một trường công lập thành phố, tôi chỉ biết lo dùi mài kinh sử kể bắt kịp những năm học chậm trễ trong vùng Việt Minh. Cho nên việc kết bạn với các cô gái, nhất là với các nàng áo trắng tóc dài trường Đồng Khánh, đối với tôi thuở ấy chỉ là giấc mộng…

Đến nay, tôi vẫn chưa quên hình ảnh cậu học sinh cao gầy, hằng cuối tuần “diện” cho mình chiếc nón cối trắng, đôi dép da trắng, vội vã đạp xe đến nhà cô bạn mới quen để cùng “học nhóm” với các bạn. Chúng tôi nêu ra những câu hỏi trong bài, cùng nhau tìm câu giải đáp; hoặc giúp nhau làm những bài tập khó… Cho nên không khí chuẩn bị thi cử đối với chúng tôi không còn căng thẳng, đến nỗi phải than Thi ơi là thi, sinh mi làm chi?” như trong bài hát của Đỗ Kim Bảng rất phổ thông lúc bấy giờ !  

Người ta thường nói : “Học tài thi phận !”. Sau những ngày thi trung học cam go năm ấy, tôi đến xem bảng kết quả và chỉ thấy hai nam sinh trong toán “học nhóm” có tên trên “bảng vàng” mà thôi ! Tôi về nhà thông báo niềm vui với Mẹ, nhưng không dám để lộ nỗi buồn bởi cô bạn học bị hỏng thi. Tôi muốn đạp xe đến nhà nàng để an ủi nàng, nhưng còn ngập ngừng e ngại ! Vài hôm sau, nàng đến nhà tôi để “Chúc mừng anh thi đậu”, nhưng cố không để lộ nét buồn rầu vì thi hỏng như tôi tưởng. Nàng còn nói đùa với nụ cười cay đắng :
- Ánh quen ăn ớt từ nhỏ. Vậy mà kỳ thi này Ánh thấy cay hơn cả ăn ớt ! Thôi đành phải ráng ôn bài cho kỹ để thi kỳ sau, kẻo rớt nữa anh chê học dốt !
Ngưng lại giây lát, nàng nhìn tôi nói tiếp :
- Hôm trước Ánh nghe anh nói sắp theo gia đình vô Sài gòn. Vậy khi nào anh đi ?
Tôi quay mặt đi để dấu nỗi buồn sắp xa Huế, xa nàng… rồi đáp :
- Có lẽ cuối tuần này ba tôi mướn xe đưa cả nhà vào Sài gòn… Hôm nào đi, tôi sẽ đến chào từ giã Ánh. Bằng lòng chứ ?

Nàng gật đầu, buồn bã nhìn tôi, đoạn dắt xe ra cổng… Khi đi ngang cây ngọc lan, nàng nhìn lên, khen hoa lan thơm quá ! Hôm ấy không có mẹ ở nhà nên tôi vội leo lên cây, hái một bông hoa đẹp nhất trao cho nàng. Nàng nhìn tôi mỉm cười, cài cánh hoa lan lên mái tóc, đoạn đạp xe ra về.
Buổi tối trước khi xa Huế, sau khi xin phép Mẹ đi gặp bạn bè để chào từ biệt, tôi đạp xe đến nhà Ánh. Đó là một đêm mùa hạ, trăng lên cao, thật sáng, thật đẹp nhưng trong lòng tôi thật buồn bã. Ngày mai tôi sẽ rời xa đất thần kinh nhiều kỷ niệm này, xa người bạn gái mà  tôi đã bắt đầu cảm mến. Tôi tự hỏi : “Biết bao giờ mới gặp lại nhau ?”. Khi đến trước cổng, tôi nhìn vào thấy nàng đang ngồi học bài, đầu cúi thấp, mái tóc thề buông phủ bờ vai. Có lẽ nàng nghe tiếng động, ngẩn lên trông thấy tôi, vội bước ra nói nhỏ : 
- Sao anh lại đến giờ này, tối rồi ! Không chờ đến ngày mai được sao ?
Tôi im lặng, cùng nàng ngồi xuống chiếc ghế đá trong vườn, dưới cây bông sứ đang đơm hoa thơm ngát. Nàng nói tiếp, giọng như thì thầm :        
- Anh ngồi xuống đây nói chuyện... Vào nhà ba me thấy, la Ánh lắm đó. Sao thi xong, anh không đến chơi ?
Tôi cảm thấy bối bối trước mặt cô bạn đang niềm nỡ hỏi chuyện, vội giải thích :
-  Ngày mai tôi với gia đình đi Sài gòn sớm, nên chỉ còn đêm nay đến thăm Ánh thôi...
Cô bạn gái nhìn tôi sững sờ :
- Mai anh đi à ? Vậy bao giờ anh trở lại ?
Tôi ngập ngừng trả lời, giọng bối rối :
- Tôi theo ba me vào ở hẳn trong Sài gòn... Đi xa, chắc sẽ nhớ Huế, nhớ các bạn lắm...

Bỗng dưng nàng im lặng, đầu cúi thấp, kín đáo lau nước mắt, giọng nghẹn ngào :

- Ánh khổ lắm anh biết không ? Vừa mới đau buồn vì hỏng thi, bây giờ lại nghe tin anh đi xa. Vào Sài gòn nhớ viết thư cho Ánh. Đừng quên bạn cũ... anh hỉ ?

Tôi chợt thấy tim mình se thắt lại. Tôi nhẹ nhàng nắm lấy bàn tay mềm mại, ấm áp của nàng. Chúng tôi ngồi im lặng bên nhau thật lâu. Ðâu đó trong vườn, có tiếng giun dế rỉ rả, và xa xa tiếng chó sủa vu vơ dưới ánh trăng khuya… Bỗng từ trong phòng khách có tiếng chuông đồng hồ thong thả gõ nhịp. Từng tiếng ngân nga, vang vọng, như muốn phá tan không khí tĩnh mịch trong đêm vắng ở khu thành nội cổ kính này. Tôi luyến tiếc buông bàn tay bé nhỏ và lạnh lẽo của nàng, đứng lên an ủi : 

- Thôi tôi về nhé. Nhớ ôn bài cẩn thận cho kỳ thi sắp tới ! Thế nào Ánh cũng thi đậu kia mà. Khi đó, đừng quên viết thư báo tin vui nhé !

Nàng tiễn tôi ra cổng, giọng buồn buồn :

- Ánh có linh cảm sẽ không còn gặp lại anh nữa… Thôi anh về đi. Mong anh đừng quên Ánh.

Thế nhưng, cuộc sống tấp nập ở Sài gòn đã khiến tôi quên hẳn việc viết thư liên lạc với cô bạn đất thần kinh. Độ một tháng sau, tôi nhận được thư nàng, thăm hỏi và báo tin nàng… lại thi hỏng. Bố mẹ khuyên nàng hãy gác lại chuyện thi cử để đi tìm việc làm, và còn sửa soạn chuyện lấy chồng vào năm tới... Tôi trả lời ngay cho nàng, khuyên đừng buồn, và cứ lo đi tìm việc làm để khỏi trái ý cha mẹ... Còn chuyện tương lai của nàng, tôi không dám có ý kiến, dù cảm thấy xót xa trong lòng... 

* * *
Một thời gian sau đó, chốn phồn hoa đã khiến tâm hồn chàng thanh niên là tôi từ một tỉnh miền Trung đã di chuyển vào đô thành dần dần thay đổi. Trái tim tôi bỗng nhiên rung động với những cảm xúc mới, từ những tà áo màu thướt tha, những mái tóc uốn cong xinh đẹp, những thân hình quyến rũ... Tuy nhiên những lá thư của người bạn gái từ xứ Huế xa xôi vẫn đều đặn đến với tôi; và thỉnh thoảng tôi cũng hồi đáp thư nàng. Hai năm sau, một người bạn cũ từ Huế vào thấy tôi vẫn tiếp tục viết thư cho Ánh, bèn cười chế nhạo :

- Nàng đã lấy chồng rồi ông ơi ! Chớ có lãng mạn quá... Ðừng viết thư cho bà ấy nữa kẻo thằng chồng biết được, nó sẽ vào đây thanh toán ông đó nhé !
    
Tôi nghe lời người bạn, và từ đó ngưng viết cho nàng. Một hôm tôi nhận được thư của Ánh, dày hơn những thư khác, bên trong chứa đựng những lời ngọt ngào lẫn trách móc, kèm theo đóa ngọc lan mà năm xưa tôi đã hái tặng nàng. Ðóa hoa nay đã khô héo, nhưng chưa tàn lụi theo năm tháng, kể từ ngày tôi hái ở cổng nhà trước khi xa Huế, xa nàng...

Nhưng rồi, cuộc đời tôi di chuyển như cơn lốc. Tôi thi vào học trường Hành Chánh Sài Gòn. Ra trường tôi lập gia đình và một tuần sau vào thụ huấn quân trường Thủ Đức. Biệt phái về lại Bộ Nội Vụ để rồi được bổ nhiệm đi làm việc ở các địa phương. Từ quận Lộc Ninh, tôi về Định Quán, rồi Xuân Lộc… Trong cơn lốc của cuộc đời di chuyển như thế, những lá thư xưa của Ánh với đoá hoa ngày cũ cũng thất lạc, tan biến theo cát bụi thời gian.

Sau biến cố 1975, tôi đi tù “cải tạo” từ  Nam  di chuyển ra Bắc… Sau đó, tôi ra khỏi trại, trở về Sài Gòn sống thêm mười năm nữa… Và rồi, như những cánh chim di thê phải tìm đất sống còn, tôi làm đơn xin đi tỵ nạn và được nước Mỹ mở rộng vòng tay cưu mang. Với tôi, cuộc sống hoàn toàn thay đổi từ đây… Ngày trở về quê hương, trong một lần ra Huế, tôi đến thăm người bạn cũ. Lúc tôi chào từ giã, anh bạn cho biết Ánh vẫn ở nhà cũ của cha mẹ nàng năm xưa… Sau đó tôi thuê taxi để tìm đến nhà nàng… Người tài xế nghe nói địa chỉ của Ánh, nhìn tôi hỏi :

- Chắc sau “giải phóng”chú chưa về lại Huế ? Đâu còn đường Đinh Bộ Lĩnh nữa ! Mà chú nói muốn đến hồ Tịnh Tâm ? Nơi đó có gì đẹp để “tham quan”, hay chú tìm ai ?

Những câu hỏi của người tài xế trẻ có vẻ tò mò, nhưng cách nói của anh ta đầy vẻ quan tâm đến người khách phương xa… Tôi thành thật đáp :

- Tôi muốn đến thăm người bạn gái thuở thiếu thời. Có lẽ cũng đến hơn năm mươi năm tôi chưa gặp lại…

Anh lái xe nhìn khách đầy ngạc nhiên, thành thật “góp ý” :

- Theo cháu nghĩ, chú làm một công việc vô bổ, kết quả chỉ khiến chú đau buồn thôi. Nếu cháu chở chú đến đúng số nhà đó mà không có người bạn gái cũ, thì chú sẽ đau buồn ra về. Còn  nếu nhà có người, một bà tóc bạc bước ra nheo mắt nhìn chú, và chú nhận ra người bạn gái ngày xưa, thì chú cảm thấy đau lòng và thất vọng không ?

Anh ta chờ cho khách có vẻ “thấm” với những lời góp ý thẳng thắn và hợp lý đó, rồi tiếp lời :

- Thôi, chú cho địa chỉ nhà hay khách sạn để cháu chở chú về nơi đó bây giờ ! 

Bỗng dưng, lời nói của anh tài xế trẻ - có lẽ trẻ hơn thời gian tôi xa người bạn thuở học trò năm xưa - đã khiến lòng tôi nguội lạnh ! 

Tôi bước vào xe, ngã người trên băng ghế sau, im lặng và buồn bã. Tâm trạng của tôi lúc ấy cũng giống như chàng Từ Thức ngày xưa khi trở về trần, không còn tìm ra cảnh cũ người xưa! 

* * *
Huế ngày…
Thưa anh,                                                                                                                                
Đã lâu lắm, có lẽ cũng hơn năm mươi năm, tôi mới viết thơ này cho anh. Cũng do một tình cờ tôi mới biết địa chỉ của anh để gởi lá thư cuối cùng sau hơn nửa thế kỷ bặt tin ! 
Năm ngoái, nhân buổi họp mặt bạn học cũ, người bạn thân của anh đã cho tôi địa chỉ này. Anh ấy còn cho biết anh từng có ý định ghé thăm tôi trong một chuyến về du lịch Việt  Nam ! Một năm mong chờ, vô vọng. Một năm suy nghĩ, tủi thân. Và sau một năm dài đủ để cõi lòng lắng dịu, tôi mới can đảm viết cho anh.
Năm ấy, tôi thi hỏng, lòng nặng trĩu đau buồn. Nỗi buồn “thi không ăn ớt thế mà cay”, cọng thêm mối u sầu do chia cách tình bạn thân thiết thuở đầu đời… tất cả đã khiến tôi chán chường vô kể. Để rồi sau đó, vâng lời ba mẹ, tôi đi lấy chồng. Và cũng như Cô Lái Đò của nhà thơ Nguyễn Bính “Chẳng lẽ ôm cầm chờ đợi mãi / Cô đành bội ước với tình quân / Bỏ thuyền bỏ lái bỏ dòng sông…”. Tôi lấy chồng, nhưng vẫn về ở ngôi nhà cũ với ba me, để chồng khỏi bận tâm khi đi hành quân xa ! Cho nên dòng sông Hương êm đềm thuở ấy đã níu kéo tôi nơi chốn cố đô thâm u, suốt cả cuộc đời thanh xuân cũng như lúc tuổi đời xế bóng…
Đã năm mươi năm qua tôi vẫn sống vò võ nơi đây, kể từ khi anh bỏ Huế, không bao giờ trở lại thăm người bạn bạn cũ nơi đất thần kinh ! Rồi khi miền Nam thất thủ, người dân lũ lượt ra đi. Và cũng như họ, anh đã đến đất Mỹ, sống trong bầu không khí tự do như gió thoảng, như chim bay ! Và trong niềm hạnh phúc nơi thiên đàng hạ giới ấy, có bao giờ anh chạnh lòng nghĩ đến những cuộc sống hẩm hiu của người bạn cũ nơi quê nhà ?   


Tôi đọc hết lá thư của Ánh, người bạn gái thuở thiếu thời, thẫn thờ nhìn ra bầu trời qua cửa sổ phòng ngủ. Cơn gió mát từ biển thổi vào làm vơi đi những ưu tư vừa dấy lên trong lòng tôi. Hơn hai mươi năm sống nơi xứ người, tôi hầu như quên đi những khổ đau của chính cuộc đời mình trong quá khứ. Với cuộc sống ổn định hiện tại, tôi bỗng lãng quên bạn bè, đồng môn thân thiết ở quê nhà. Thỉnh thoảng tôi nhận được tin một vài người bạn bị bệnh trầm kha; hoặc có người đã ra đi về miền miên viễn xót xa ! Chúng tôi đón nhận, thăm hỏi, chia buồn với tang gia… Kỳ dư, tôi không biết gì về các bạn khác hiện đang sống trong cảnh nghèo khó hẩm hiu, đi làm thuê làm mướn cực nhọc… Có thể họ đang ở trong một thôn xóm keo cư ở miền Hậu Giang. Có thể họ đang sống vất vả trên một mảnh đất khô cằn sỏi đá ở Trung Việt. Đã lâu không ai biết tin tức gì về họ để có thể thăm viếng, giúp đỡ lúc họ túng quẫn ngặt nghèo! Bây giờ họ đang ở một góc rời nào đó trên quê hương.

Lá thư của Ánh đã đến với tôi thật bất ngờ. Nó như cánh chim không mệt mỏi, đã vượt qua nửa vòng trái đất, đánh thức trong tôi nỗi khắc khoải ưu tư… Trong buổi sáng sớm hôm nay, nghe bản nhạc tình cảm thiết tha của Ngô Thụy Miên, tôi chợt nhớ đến ánh mắt buồn ray rức của cô bạn năm nào, khi tôi từ biệt nàng để vào nơi phồn hoa đô hội đất Sài gòn năm ấy. Và trong lá thư vừa đến tôi mấy hôm trước đây, những lời trách móc của người bạn gái năm xưa phải chăng cũng giống như tâm trạng của tác giả Riêng Một Góc Trời mà tôi đã nghe được buổi sáng sớm hôm nay :  

 
Người vui bên ấy, xót xa nơi này, thương hình dáng ai 
Vòng tay tiếc nuối, bước chân âm thầm, nghe giọt nắng phai 
Đời như sương khói, mơ hồ, trong bóng tối 
Em đã xa xôi, tôi vẫn chơi vơi, riêng một góc trời…



Tam Bách ĐBT

Thursday, October 8, 2015

Sự thật về những người Việt bị tước bỏ quy chế Tỵ nạn Chính trị tại Pháp quốc

Như quý độc giả đã biết qua về hai bài báo: Bài thứ nhất của của ký giả Xuân Mai trên báo Áp- phê Paris số 4 tại Paris như sau:
“Ông Nguyễn Văn Tuyền, 59 tuổi đến định cư tại Pháp năm 1980. Với lá đơn thống thiết như sau: “Nếu tôi ở lại, nhà cầm quyền CSVN sẽ bắt giam, đánh đập và bỏ tù không có ngày ra. Vì lý do nhân đạo, tôi trân trọng thỉnh cầu nước Pháp, vui lòng chấp thuận cho tôi được tỵ nạn chính trị, sống tạm dung trên mảnh đất tự do nầy, và tôi chỉ trở về quê cũ khi nào quê hương tôi không còn chế độ độc tài Cộng Sản.

Nhưng ông Tuyền đã phản bội tư cách tỵ nạn của ông đến 7 lần, từ năm 1995 đến năm 2000. (Theo tài liệu của OFPRA = Office Francais de Protection des Réfugiés et Apatride – Cơ quan Bảo vệ Người Tỵ nạn và Vô Tổ quốc)

Ngày 27-6-2000, ông Tuyền và 544 Việt kiều Pháp bị OFPRA gởi thơ thông báo rút lại thẻ tỵ nạn, với lý do trở về quê cũ khi còn chế độ độc tài Cộng Sản. “Chiếu theo điều 1, khoản 2A của Hiệp Định Genève ngày 28-7-1951, chúng tôi thu hồi thẻ tỵ nạn. Đồng thời cũng trình lên Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ, kể từ nay, OFPRA không còn chịu trách nhiệm với ông, về tình trạng cư trú, xin việc làm, hưởng trợ cấp xã hội theo diện người tỵ nạn chính trị”.

Được biết, từ năm 1988 đến năm 2000, tổng số người Việt ở Pháp bị truất bỏ quyền tỵ nạn và quyền lợi, với con số là 22,417. Bài viết ghi như sau: “Chính phủ Việt Cộng qua các đại sứ từ Võ Văn Sung, Mai Văn Bộ, Trịnh Ngọc Thái đến Nguyễn Chiến Thắng đã coi người Việt Nam là thành phần cực kỳ phản động, cần phải triệt hạ, hoặc áp dụng chính sách gậy ông đập lưng ông. Đó là, dễ dãi trong việc cấp chiếu khán cho họ, để họ bị OFPRA cắt quyền tỵ nạn và trợ cấp xã hội.

Sau khi cấp chiếu khán, tòa đại sứ thông báo danh sách cho Bộ Nội vụ Pháp biết tên họ của những người vi phạm luật tỵ nạn. Một khi mất thẻ tỵ nạn, thì mất luôn thẻ thường trú (Carte de Séjour) nên không xin được việc làm.Trường hợp đó, muốn sống ở Pháp trên 3 năm, thì phải có Passport của chính phủ CSVN, để trở thành công dân Việt Cộng cho đến mãn kiếp.”
Cái thâm độc của VC là như thế!”.
Và bài thứ hai là của ông Phan Văn Song. Cả hai bài đã đưa lên Internet từ lâu. Xin trích lại từng đoạn như dưới đây:
“Chúng tôi xin phép quý độc giả trích nguyên văn bài viết của báo Ép-Phê Paris là tờ báo việt ngữ duy nhứt được phát không ở các thương hiệu và chợ Á đông ở Paris và nhở vậy được phổ biến rộng rãi trong cộng đồng người Việt tại Paris và vùng lân cận. Dĩ nhiên với điện thoại, người Việt tỵ nạn phe ta sẽ thông báo cho bà con toàn xứ Pháp biết. Nhưng theo điều tra và hiểu biết của chúng tôi thì cho đến ngày hôm nay bản tin giựt gân nầy của báo Ép-phế hổng có Ép-phê tí nào. Người Việt tỵ nạn vẫn về Việt Nam đều đều, vì từ năm 2000 trở về nay, phe ta vào quốc tịch Pháp đông hơn.
3. Thẻ tạm trú, thẻ đi làm, thông hành

Thẻ tạm trú (carte de séjour temporaire) hạn định một năm, gia hạn ba lần, sau ba lần được thẻ thường trú hạn định ba năm (carte de résident), sau hai lần có thể xin carte de résident permanente – thẻ cư ngụ vĩnh viễn, thẻ này 10 năm xin lại một lần. Có thẻ nầy rồi, với quy chế nầy rồi, khỏi phải vô dân Tây làm gì cho mệt ! Nếu không phải Việt kiều, vì Việt kiều có thông hành (hộ chiếu Việt Cộng) đi về Việt Nam, dân tỵ nạn có một cái nhức đầu là làm sao dzìa Việt Nam chơi đây…”
Xin bỏ qua những từ ngữ do hai tác giả trên đã viết về những trường hợp bị tước quy chế tỵ nạn chính trị tại Pháp. Người viết chỉ nói về những chuyện thật 100% đã xảy ra đối với những người Việt, mà một thời họ đã được hưởng quy chế Tỵ nạn Chính trị, được cơ quan OFPRA = Office Francais de Protection des Réfugiés et Apatride – (Cơ quan Bảo vệ Người Tỵ nạn)cấp những giấy tờ theo thứ tự thời gian, đúng như ông Phan văn Song đã viết:
“Thẻ tạm trú (carte de séjour temporaire) hạn định một năm, gia hạn ba lần, sau ba lần được thẻ thường trú hạn định ba năm (carte de résident), sau hai lần có thể xin carte de résident permanente – thẻ cư ngụ vĩnh viễn, thẻ này 10 năm xin lại một lần. Có thẻ nầy rồi, với quy chế nầy rồi, khỏi phải vô dân Tây làm gì cho mệt!”
Tuy nhiên, có một điều ông Phan Săn Song cũng như đa số người Việt tỵ nạn chính trị tại Pháp đã tưởng lầm rằng:
“carte de résident permanente – thẻ cư ngụ vĩnh viễn, thẻ này 10 năm xin lại một lần. Có thẻ nầy rồi, với quy chế nầy rồi, khỏi phải vô dân Tây làm gì cho mệt!”.
Sự thật không phải như vậy, vì “carte de résident permanente  đúng là cứ 10 năm xin lại một lần. Thế nhưng, carte de résident permanente, không phải là“vĩnh viễn”, vì có thể bị thu hồi bất cứ lúc nào, khi người có thể ấy, vi phạm Luật Tỵ nạn Chính trị của nước Pháp.
Một điều nữa, những người đã được cấp “carte de résident permanente “ đều hưởng tất cả những quyền lợi như những người có quốc tịch Pháp. Nếu không có việc làm, hoặc lợi tức thấp, họ đều dễ dàng thuê nhà ở, chính phủ trả hai phần ba tiền nhà, còn họ chỉ trả một phần ba mà thôi.
Về an sinh xã hội, họ được bảo hiểm y tế của chính phủ, khi bị bệnh, tai nạn, đi Bác sĩ, kể cả các phòng mạch tư và Bệnh viện tư, họ đều được chính phủ trả hết một trăm phần trăm, từ tiền ăn ở trong bệnh viện đến tiền thuốc cho nhà thuốc Tây. Họ không phải trả một đồng bạc nào cả.
Trẻ con được cấp tiền nuôi dưỡng kể từ tháng thứ tư, lúc còn nằm trong bụng mẹ, cho tới lúc ra trường, nếu có sức học, thì chính phủ vẫn trợ cấp, để các sinh viên muốn học tới đâu cũng được, từ Đại học, cho tới khi lấy bằng Tiến sĩ…
Người lớn tuổi, già yếu, bệnh tật, dù không hề đi làm một ngày ở nước Pháp, nhưng họ vẫn được cấp cho mỗi tháng là 800 Euros (tám trăm Âu kim) là tiền già, hoặc tiền dành cho người tàn phế. Ngoài ra,  nếu họ không tự lo cho bản thân, thì Văn Phòng Xã Hội cho người tới tận nhà, để dọn dẹp, lau nhà, bỏ áo quần vào máy giặt, đem phơi, tắm rửa, thay  áo quần, nấu ăn, rửa chén bát, và có thể đút thức ăn tận miệng nữa.
Trở lại, với những trường hợp bị tước bỏ quy chế Tỵ nạn Chính trị tại Pháp.
Đúng là khi được cấp “carte de résident permanente”, thì cứ 10 năm xin lại một lần; nếu không vi phạm luật của nước Pháp.
Thế nhưng, tiếc rằng, đã có không ít người sau khi đã được cấp “carte de résident permanente “,  ”thẻ 10 năm”, thì đã trở về Việt Nam, Những người này họ đã bị tước bỏ quy chế Tỵ nạn Chính trị. Cách đây hơn 10, chúng tôi đã biết những trường hợp này, khi họ nhờ người thân của chúng tôi đưa đến cơ quan OFPRA = Office Francais de Protection des Réfugiés et Apatride – (Cơ quan Bảo vệ Người Tỵ nạnđể làm thông dịch tiếng Pháp, để hỏi lý do bị thu hồi quy chế Tỵ nạn Chính trị, thì được cơ quan này trả lời:
“Vì ông/bà đã ký vào một lá thư xin từ chối quy chế Tỵ nạn Chính trị”.Khi hỏi lại người này, thì họ nói: “Tôi không biết tiếng Pháp, nên có ký nhưng không biết ký cái giấy gì”.
Và cơ quan OFPRA = Office Francais de Protection des Réfugiés et Apatride đã trả lời:
“Dù không biết tiếng Pháp, nhưng ông/bà đều biết, chính ông/bà đã tới Tòa Đại sứ Việt Nam để xin giấy tờ nhập cảnh vào Việt Nam, và đã du lịch Việt Nam, là ông/bà đã vi phạm Luật Tỵ nạn Chính trị của nước Pháp; bởi khi xin Tỵ nạn Chính trị, ông/bà đã tuyên thệ là nạn nhân của Cộng sản Việt Nam, và không trở về quê cũ khi chế độ Cộng sản vẫn còn, vì nếu về sẽ bị bắt bỏ tù. Ông/bà có thấy phía sau thẻ tỵ nạn có ghi là không được trở về quê cũ hay không?”
Rất nhiều những trường hợp bị tước bỏ quy chế Tỵ nạn Chính trị như trên, đã xảy ra từ lâu rồi, nhưng chính họ lại giấu diếm không cho người khác biết, mà theo người thông dịch là “họ muốn cho những người khác cũng bị như họ vậy”. (Đồng bệnh sẽ tương lân chăng?!)
Riêng tôi, khi biết những chuyện đã xảy ra, tôi đã khuyên những người Việt đừng trở về Việt Nam, nhưng chẳng ai tin, vì họ cứ nói: “mình đâu có đi thẳng từ Pháp về Việt Nam, mà đi qua nước khác, rồi mới vào Việt Nam, thì Pháp đâu có biết”, và mặc dù tôi đã giải thích, là đi bằng cách nào, qua bất cứ nước nào, thì họ cũng biết cả, nhưng bà con mình chẳng tin, nên họ cứ về Việt Nam, cho tới khi bị tước bỏ quy chế Tỵ nạn Chính trị, thì tất nhiên họ phải mất hết những quyền lợi mà họ đã được hưởng như trước kia. Họ phải xin giấy tạm trú từ một đến ba tháng, rồi cứ xin gia hạn như một người du lịch, nếu không, họ là người cứ trú bất hợp pháp, phải tự đi tìm việc làm đế sống, mà đi làm thì phải đóng thuế cho Pháp và cả cho Việt Nam Cộng sản nữa! Họ không được trợ cấp tiền bạc, chính phủ không trợ giúp tiền thuê nhà, nên chủ nhà phải đuổi họ, vì họ không trả nổi tiền nhà; họ trở thành người vô gia cư, phải trả tiền cho Bác sĩ và nhà thuốc Tây…
Trên đây, là rất nhiều những trường hợp đã xảy ra khoảng hơn mười năm về trước mà tôi được biết.
Còn hôm nay, tôi muốn kể ra hai trường hợp mới nhất vừa xảy ra như sau:
Trường hợp thứ nhất:
Một cặp vợ chồng vượt biển tới Pháp cùng thời gian với tôi. Sau này,  bà vợ bị tai biến mạch máu não, bị liệt nhẹ một chân; chính phủ cho ông được chăm sóc cho vợ có lãnh lương tối thiểu, bà vợ được hưởng tiền trợ cấp dành cho một người bị tàn phế  là 800 Euros (tám trăm Âu kim). Như vậy, với số triền trợ cấp cho hai vợ chồng, thì hai người sống thảnh thơi, đâu có thiếu thốn, tiền nhà chỉ trả một phần ba, nhưng rồi vì thảnh thơi quá, nên hai người đã dành tiền lại, để về Việt Nam.
Thế là, mọi chuyện đã ập đến. Sau khi về Việt Nam trở lại Pháp, thì Vợ chồng của ông nhận được thư thông báo tước bỏ quy chế Tỵ nạn Chính trị, nhưng vì lớn tuổi, bà vợ bị liệt nhẹ một chân, nên không thể tìm việc làm, để xin thẻ tạm trú được. Cuối cùng hai vợ chồng phải trở về Việt Nam, nhiều đồng hương cũng thấy tiếc cho họ, vì nếu họ không về Việt Nam, thì dù họ không có quốc tịch Pháp, nhưng với tiền trợ cấp của hai người, thì họ vẫn sống một cuộc sống đầy đủ như những người có quốc tịch Pháp.
Trường hợp thứ hai:
Trường hợp của người này, có lẽ ông ta khổ hơn, vì bất ngờ. Cũng có thể vì hiện nay trong thời gian có dòng người quá đông đảo đang tìm cách nhập cư vào Âu Châu? Đó là trường hợp của Nguyễn Văn Bảy, ông ta cũng đến Pháp cùng thời gian với tôi, gần 30 năm rồi, nhưng không có quốc tịch Pháp giống như hai vợ chồng người kia. Cũng xin nói thêm, hai ông này không xin vào quốc tịch Pháp được, vì khi đi phỏng vấn để xin vào quốc tịch Pháp, họ không thể trả lời những câu hỏi của người phỏng vấn, vì ngoài những câu hỏi, người phỏng vấn còn bảo người Tỵ nạn phải viết theo những câu họ đọc, và đọc những câu họ viết bằng tiếng Pháp. Về điều này, rất khó khăn, nếu không có căn bản tiếng Việt, thì khó có thể đọc và viết tiếng Pháp, vì tiếng Pháp khó hơn tiếng Anh rất nhiều. Trừ những người, dù giỏi tiếng Pháp, nhưng  không muốn nhập tịch Pháp quốc.
Trở lại với trường họp mới nhất, đã xảy ra vào cuối tháng 8 năm 2015:
Ông Nguyễn Văn Bảy, khi đi về Việt Nam, mọi chuyện bình thường; nhưng khi trở về Pháp, thì chỉ mới xuống máy bay tại Phi trường Charles-de-Gaulle, Paris, ông ta liền bị Cảnh sát bắt giữ ngay; đồng thời thu hồi tất cả những giấy tờ do chính phủ Pháp đã cấp cho ông, trong đó, có “carte de résident permanente” (thẻ này có thời hạn 10 năm. Sau đó, được gia hạn cho tới chết) nếu không vi phạm Luật Tỵ nạn Chính trị.
Theo người thông dịch tiếng Pháp cho ông  Nguyễn Văn Bảy, kể với tôi, thì khi ông bị bắt và bị thu hồi tất cả giấy tờ, Cảnh sát Pháp đã nói với ông Bảy:
“Ông thấy đó, hiện nay, đang có rất nhiều người hàng ngày đang đổ về Âu Châu, để xin tỵ nạn, nhưng chính phủ Pháp không dễ dàng chấp nhận cho họ tỵ nạn; còn ông đã được cấp quy chế Tỵ nạn Chính trị rồi, mà ông còn đi về Việt Nam, nơi mà trước kia ông từng nói là ông không chấp nhận chế độ Cộng sản Việt Nam và không bao giờ trở về khi còn chế độ cộng sản, vì trở về ông sẽ bị bắt bỏ tù. Nhưng hôm nay, ông đã trở về Việt Nam, nên chúng tôi phải thu hồi tất cả giấy tờ của ông. Đó là Luật của nước Pháp, đối với những người vi phạm Luật Tỵ nạn Chính trị”
Vì vậy, hiện nay, ông ta phải đi ở nhờ nhiều người, để đi làm tại các vườn nho, hái trái cây, dọn vườn nhà… mà người Việt có quen biết với ông ta, thường hay nói: “cha đó bây giờ chả đang lang thang, nên ít khi mình thấy chả”.
Thật ra, những người Việt ở gần, có quen biết với ông, họ đều thấy tiếc cho ông, vì đang hưởng quy chế Tỵ nạn Chính trị, mà phải mất hết tất cả khi mới vừa đặt chân xuống Phi trường Charles-de-Gaulle. Giờ đây, sau gần 30 năm được hưởng tất cả những quyền lợi của quy chế Tỵ nạn chính trị. Như thế, mà chỉ vì thiếu sự hiểu biết, (mà cũng vì muốn du hí, thưởng thức những “chùm khế ngọt”), nên ông đã trở thành người cư trú bất hợp pháp, phải sống vô gia cư, lang thang trong mùa Đông sắp tới và nhiều năm kế tiếp nữa!
Tạm kết:
Tóm lại, tôi muốn nói rằng:
Những điều do ký giả Xuân Mai đã viết trên báo Áp- phê Paris số 4, là những điều có thật đã xảy ra, mà tôi đã biết cách đây hơn mười năm.
Những điều tác giả Phan Văn Song viết cũng có đúng, chỉ riêng chuyện “ carte de résident permanente – thẻ cư ngụ vĩnh viễn…” là chưa hoàn toàn đúng, vì khi vi phạm Luật, thì sẽ bị thu hồi, chứ không phải là “vĩnh viễn”.
Tác giả Phan Văn Song cũng viết những điều rất tai hại:
“…đến ngày hôm nay bản tin giựt gân nầy của báo Ép-phế hổng có Ép-phê tí nào. Người Việt tỵ nạn vẫn về Việt Nam đều đều…”
Tôi xin trả lời, ông Phan Văn Song viết đúng là “Người Việt tỵ nạn vẫn về Việt Nam đều đều…”. Chính vì vậy, nên họ đã bị tước bỏ quy chế Tỵ nạn Chính trị cũng “đều đều”, và có rất nhiều người, đã bị “đếu đều” như thế, nhưng họ “đều đều” giấu diếm, để cho những người khác cũng bị “đều đều” như họ hết.
Cuối cùng, tôi muốn nói với ông Phan Văn Song:
Ông đừng nên viết như vậy nữa, để cho những ai chưa về Việt Nam họ phải dừng lại ý nghĩ đó, hầu tránh được những chuyện đáng tiếc đã xảy ra như trường hợp mới nhất của ông Nguyễn Văn Bảy đã bị thu hồi tất cả giấy tờ ngay khi vừa đặt chân xuống phi trường Charles-de-Gaulle, Paris, vào cuối tháng 8 năm 2015 vừa qua. Vì thế, hiện giờ, ông ta là người cư trú bất hợp pháp, đang lang thang đâu đó trên những vườn nho, hay tìm những nơi để làm vườn, không nhà, không nơi nương thân; mà ông ta không lường trước được, vì chỉ mới trước tháng 8 năm 2015, ông còn có nhà cửa, có tất cả.
Người cầm bút, cần phải viết thật, nói thật, để cho đồng bào của mình, vì thiếu sự hiểu biết, họ không phải đi vào con đường vi phạm Luật, để rồi đánh mất cả tương lai của cả cuộc đời họ; Mặc dù, họ là những người đáng trách, vì đã trở về để “du lịch”, là để tô son điểm phấn cho chế độ Cộng sản Việt Nam!
Paris, ngày 06/10/2015
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền