Monday, February 7, 2022
Hổ và người: Cuộc tranh đấu đẫm máu không khoan nhượng Minh Bảo
Friday, February 4, 2022
Mắt Hổ
Cây Mắt Hổ tôi trồng chưa tới hai tháng, còn thấp nhỏ mà đã ra hoa đẹp lắm. Cây này của người bạn cho, sở dĩ đem về trồng là do cái tên khá đặc biệt của nó. Tên này nhắc cho tôi nhớ một câu chuyện có liên quan tới mắt con hổ.
Monday, January 31, 2022
Một sử liệu 'nhiều thiếu sót' Nguyễn Kỳ Phong Viết riêng cho BBCVietnamese.com từ Hoa Kỳ
Bìa cuốn sách Vietnam: The History of an Unwinnable War, 1945-1975
Cuốn sách mới của John Prados về Chiến tranh Việt Nam đặt ra nhiều câu hỏi về cách mô tả Trận Mậu Thân và một số chi tiết lịch sử.
Trước khi xuất bản Việt Nam: Cuộc Chiến Không Thắng Được, 1945-1975 (VNCCKTĐ), Prados đã xuất bản tám tác phẩm về về quân sử và tình báo. Bốn trong tám quyển liên hệ đến chiến tranh Việt Nam như, The Sky Would Fall: The Secret U.S. Bombing Mission to Vietnam, 1954 (nói về kế hoạch của Mỹ dội bom nguyên tử xuống Điện Biên Phủ để cứu quân trú phòng Pháp); The Blood Road: The Ho Chi Minh Trail and the Vietnam War (về hệ thống đường xâm nhập HCM); Valley of Decision: The Siege of Khe Sanh (trận Khe Sanh); và, The Hidden History of the Vietnam War (một số tài liệu giải mật về chiến tranh Việt Nam).
Trong thời gian gần đây, ngoài công việc soạn thảo quyển VNCCKTĐ, Prados làm việc ở trung tâm Văn Khố An Ninh Quốc Gia (National Security Archives), một trung tâm nghiên cứu và lưu trữ tài liệu giải mật do trường đại học George Washington thiết lập và quản trị. Tại National Security Archives có một số tài liệu quan trọng về Việt Nam như vụ đảo chánh tổng thống Ngô Đình Diệm, và những thương lượng ngoại giao bí mật của Ngoại Trưởng Henry A. Kissinger. Không phải là một tác giả ngoại hạng trong ngành sử học Mỹ, nhưng Prados sáng tác đều đặn so với những tác giả khác. Sách của ông nhắm vào số độc giả tổng quát.
Người thiên tả
Việt Nam: Cuộc Chiến Không Thắng Được, 1945-1975 có 14 chương, bắt đầu bằng chương về cuộc chiến Việt-Pháp dẫn đến Điện Biên Phủ; và kết thúc bằng chương “The Truth Comes Marching Home,” nói ý nghĩ của tác giả và dư luận giới phản chiến Hoa Kỳ về cuộc chiến Việt Nam.
Ngay ở đầu sách, trong phần “Ghi Chú Cho Độc Giả,” (tr. xxi) tác giả tự nhận mình là người có khuynh hướng phản chiến, thiên tả; và, quyển sách được nhà xuất bản yêu cầu viết theo chủ đề những phong trào phản chiến. Tác giả tự nhận mình chống chiến tranh Việt Nam vào năm những phong trào phản chiến bạo động nhất (1968-71); và quyển sách độc giả đang cầm trên tay là ý kiến cá nhân của tác giả về cuộc chiến. Theo sau những lời tự thú với độc giả là 12 trang nói về cuộc biểu tình Dewey Canyon III (biểu tình chống Hành Quân Lam Sơn 719 của VNCH tấn công qua Hạ Lào năm 1971), một trong những cuộc biểu tình phản chiến lớn nhất ở Hoa Thịnh Đốn.
Biểu tình phản chiến ở Washington DC ngày 5.11.1969
Người điểm sách không thể coi đây là một quyển sách sử vô tư: Nhiều nơi trong sách tác giả trích lại những lời tuyên truyền của nhóm American Veterans Against The War. Đây là nhóm phản chiến của John Kerry (bây giờ là Nghị Sĩ của tiểu bang Massachusetts) và cô đào chiếu bóng hạng B, Jane Fonda, chủ trương từ năm 1970. Quyển sách được viết như là một bán thông điệp của những nhóm phản chiến. Tự nhận mình là một người có đầu óc thiên tả, chống đối chiến tranh — hay dù là thiên hữu và ủng hộ chiến tranh — khi viết một quyển sách lịch sử về chiến tranh thì không thể không chủ quan; nhiều hay ít tác giả sẽ nhìn sự kiện lịch sử theo một quan điểm của ý thức hệ cá nhân.
Sai sót
Về giá trị quyển sách này, người điểm sách muốn nói rất vắn tắt: VNCCKTĐ là một quyển sách viết rất rất vội và cẩu thả. Người điểm sách đọc gần hết sách của tác giả Prados, nhưng chưa thấy cuốn nào viết sai nhiều chi tiết như quyển này.
Người điểm sách ghi ra một số lỗi nhận thấy dưới đây.
Tác giả viết quân sử không theo một quy luật tòa soạn đã định. Khi viết quân sử, tên và chức vụ/ cấp bậc của nhân vật chủ thể (trong trường hợp này là người quân nhân đề cập đến) phải tương quan với thời gian đang nói. Thí dụ: “Chuẩn tướng William Westmoreland chỉ huy Trung Đoàn 187 Nhảy Dù trong chiến tranh Đại Hàn; Thiếu Tướng Westmoreland chỉ huy Sư Đoàn 101 Nhảy Dù ở Fort Bragg. Hay là, lúc mang cấp bậc trung tướng, Westmoreland được tổng thống Kennedy bổ nhiệm làm Tư Lệnh Phó MACV, đề chuẩn bị thay đại tướng Harkins ở Việt Nam.” Phải theo qui luật đó để độc giả có thể liên hệ thời điểm lịch sử qua chức vụ của người sĩ quan được nói đến.
Trang 223 khi viết về cuộc tấn công Mậu Thân 1968, Prados nhắc đến tên “Thiếu Tướng” John Singlaub, chỉ huy trưởng liên đoàn tình báo quân sự MACV-SOG (Studies and Observation Group). Năm 1968 Singlaub chỉ là đại tá. Gần 10 năm sau ông mới mang cấp bực thiếu tướng. Hơn nữa, SOG chưa bao giờ có tướng chỉ huy trong suốt cuộc chiến ở Việt Nam.
Khi nói về trận đụng độ đầu tiên giữa Hoa Kỳ và CSVN ở Ia Drang, thung lũng A Shau (tr. 228), Prados nói Thiếu Tướng Stanley Larsen chỉ huy Quân Đoàn Dã Chiến I (I Field Forces; một bộ tư lệnh của Mỹ đóng song song với Quân Đoàn II, VNCH). Sự thật là vào tháng 11-1965, Mỹ chưa thiếp lập I Field Force. Lúc đó quân tác chiến Mỹ mới đến Việt Nam; và tất cả lực lượng Mỹ ở Vùng II VNCH được đặt dưới quyền của một bộ tư lệnh đặc nhiệm (tạm thời) có tên là Task Force Alpha. Tháng 3-1966 I Field Force mới được thành lập, do Trung Tướng Larsen chỉ huy. Tên của thiếu tướng tư lệnh Sư Đoàn 1 Không Kỵ cũng viết sai (Thiếu Tướng Harry W.O. Kinnard, thay vì Douglas Kinnard); và cấp bậc của tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 1/Trung Đoàn 7 (đơn vị chánh của trận Ia Drang) là trung tá, thay vì đại tá.
Một lỗi khác đáng chú ý hơn về sự sơ hở trong trí nhớ của tác giả, khi ông viết “Đại Tướng Paul Harkins là Tư Lệnh của MAAG [Military Assistance and Advisory Group];” và MACV [Military Assistance Command, Vietnam] được thành lập vào đầu năm 1964 khi Đại Tướng William Westmoreland đến Việt Nam. Về chi tiết này thì tác giả Prados đã trễ đến hai năm: Paul Harkins là chỉ huy trưởng của MACV; và MACV được thành lập từ tháng 2-1962. Đồng ý là Westmoreland đến Việt Nam tháng 4-1964. Nhưng ông đến với tư cách là Tư Lệnh Phó cho Harkins. Đến tháng 6-1964 Westmoreland thay Harkins làm tư lệnh MACV.
Ngay cả trận đánh vào trại Lực Lượng Đặc Biệt Nam Đông (Team A-726) tác giả cũng viết lộn: Tác giả ghi năm 1965, trong khi trận đó xảy ra tháng 7-1964 (tr. xxii).
Những chi tiết về Việt Nam thì đôi khi tác giả “thêm mắm dậm muối” vào để cho câu văn được mặn mà, nhưng cũng vì vậy mà sai: Bùi Chu và Phát Diệm là hai giáo xứ, không phải hai tỉnh ở miền bắc (tr. 41); Bình Giã không phải là một lành ở miền duyên hải (tr. 116); Làng Bến Sức (trong cuộc hành quân Cedar Falls, tháng 2-1966) nằm trong phạm vi của vùng Tam Giác Sắc, nhưng thuộc về chiến Khu D chứ không phải C như tác giả viết (178).
Người điểm sách có thể liệt kê nhiều sai lầm khác của tác giả. Nhưng điều đó không cần thiết — độc giả kinh nghiệm sẽ thấy những sai lạc đó.
Trận Mậu Thân
Để kết thúc bài điểm sách này, người viết muốn đưa ra một thí dụ về lối viết sử thiếu xót và đôi khi vô căn cứ của tác giả Prados. Trang 254 tác giả viết về Trận Mậu Thân. Đây là chương tác giả viết với nhiều chi tiết mới — nhưng lại không cung cấp sử liệu để chứng minh.
Cảnh lính Mỹ tại tòa Đại Sứ Mỹ ở Sài Gòn trong trận Mậu Thân 31.1.1968Ở đoạn cuối của chương về Mậu Thân, không biết tác giả lấy tài liệu ở đâu (một lần nữa, tác giả không cung cấp tài liệu) để viết về vụ trực thăng bắn lầm vào trường trung học Phước Đức, ở Chợ Lớn, ngày 2 tháng 6-1968. Prados viết vụ bắn lầm đã giết đi một số sĩ quan quan trọng thuộc phe phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ. Tác giả viết điều này đúng. Nhưng tác giả viết sai khi nói, “một trong những nạn nhân của vụ bắn lầm là Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan”.
Và tác giả tiếp tục viết, ông Kỳ nói vụ bắn lầm được chính phía tổng thống Nguyễn Văn Thiệu dàn cảnh. Ông Kỳ nói đích thân đại tá Trần Văn Hai (đương nhiệm tư lệnh Biệt Động Quân) lái chiếc trực thăng sát thủ đó.
Thứ nhất, Chuẩn Tướng Loan bị trọng thương ở khu đường Tự Đức ngày 7 tháng 5, trong khi đó vụ bắn lầm xảy ra ngày 2 tháng 6 ở Chợ Lớn. Về tin đồn (đến từ ông Kỳ) là Đại Tá Trần Văn Hai lái chiếc trực thăng tác xạ đó (hay có mặt cùng với phi hành đoàn trên trực thăng) … là một lời đồn không chứng cớ và thiếu thông minh: Cuộc tấn công Đợt 2 của cộng sản vào Sài Gòn và các thị trấn, tuy không mãnh liệt và toàn diện như Đợt 1, nhưng địch tấn công mạnh vào những cơ sở trọng yếu của VNCH và Hoa Kỳ, như các căn cứ đóng quân và phi trường (để giảm thiểu tối đa hỏa lực phi pháo và săn lùng của không lực Hoa Kỳ-VNCH).
Một ngày sau khi tướng Loan bị thương, đích thân Không Đoàn Trưởng Không Đoàn 33, Đại tá Lưu Kim Cương, trong khi đôn đốc quân nhân an ninh phi trường phản công địch quân đang đánh vào vòng đai phi trường, bị trúng đạn tử thương. Dưới cường độ tấn công mãnh liệt đó, chúng ta thử nghĩ, một đại tá Lục Quân, lên trực thăng để chỉ huy một phi vụ tác chiến mà không ai biết được, phi hành đoàn và cơ phi đâu? Một lời đồn rất vô lý.
Ngay sau khi vụ bắn lầm xảy ra, Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ lên tiếng, công nhận chiếc trực thăng xạ kích đó là trực thăng Mỹ, và họ bắn lầm khi nhận được yêu cầu yểm trợ. Chỉ là như vậy. Cũng nên biết thêm, một trong sáu sĩ quan tử thương là Trung Tá Đào Bá Phước, chỉ huy trưởng Liên Đoàn 5 BĐQ, một người bạn cùng binh chủng với Đại Tá Trần Văn Hai. Ở những đoạn này của quyển sách, tác giả Prados viết rất tệ. Và đó cũng là ý nghĩ của người điểm sách chung về tác phẩm.
Về tác giả: Nhà
biên khảo Nguyễn Kỳ Phong, hiện sống ở Mỹ, là tác giả nhiều bài báo và
sách viết về chiến tranh Việt Nam. Tác phẩm gần đây của ông là Vũng lầy
Bạch ốc - Người Mỹ và chiến tranh Việt Nam (Tiếng Quê Hương, Virginia
2006). Bài viết này thể hiện quan điểm và cách lập luận riêng của
ông.
Tôi là một Linh Mục...
Saturday, January 29, 2022
'Chốn ăn' hút giới văn nghệ sĩ nhất Sài Gòn xưa
Nhiều nhà văn, nhà báo, ca sĩ, nhạc sĩ của Sài Gòn trước năm 1975 đều có mặt và trở nên quen thuộc tại quán này.
Tôi đã sống gần trọn một đời người rong ruổi từ Nam chí Bắc vẫn chưa gặp một quán cơm nào được nhiều người thương mến như quán cơm Bà Cả Đọi.
Là một người tha hương đất khách bà Cả mưu sinh bằng tình người và cả tấm lòng nhân hậu để đến bây giờ, tuy bà không còn nhưng vẫn nhiều người vẫn nhớ và ngưỡng mộ.
Tấm lòng người phương Bắc
Quán Bà Cả thuộc con hẻm 53 đường Nguyễn Huệ, không có biển hiệu. Khách bước lên cầu thang vào một căn phòng rộng chừng 50 - 60m2 ở đó có có bày biện vài bàn và một tấm phản rộng.
Những nhóm đi đông thì leo lên phản. Các bàn thì chỉ dành cho nhóm ít người. Ở ngay chỗ bậc cấp dẫn lên có một bàn chỉ đủ cho một người ngồi ăn. Đây cũng là nơi cư ngụ của gia đình bà.
Bước lên cầu thang này là quán cơm Bà Cả Đọi |
Cái tên Bà Cả Đọi thật ra không phải xuất phát từ gia đình bà mà do chính những thực khách thân thuộc đặt cho. Không biết xuất phát từ nguyên nhân nào mà quán của bà luôn đông khách, nhất là giới văn nghệ sĩ. Nhiều nhà văn, nhà báo, ca sĩ, nhạc sĩ của Sài Gòn trước năm 1975 đều có mặt và trở nên quen thuộc tại quán này.
Bà Cả có tên thật là Hoàng Thị Túc, người làng Đồng Nhân, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Bà và gia đình vào Nam từ năm 1948, khi đi bà có mang theo bộ phản gõ.
Trước khi về hẻm 53, bà Cả bán cơm trên đôi quang gánh phía bên kia đường đối diện với hẻm. Nhiều người không thể quên được nụ cười nhân hậu của bà khi bới đĩa cơm trao cho khách.
Nếu khách là những sinh viên, nghệ sĩ, công nhân, lái xe đôi khi mang bộ mặt buồn thiu đến với bà đều được bà ưu ái: "Các cháu cứ ăn đi, ghi sổ hôm nào có tiền trả cũng được". Cuốn sổ nợ của bà dày cộm những cái tên.
Các con nợ của bà theo thời gian, công thành danh toại nhớ lại lúc nghèo khổ được bà cho ăn chịu, tự thấy mình mang ơn bà nên họ cũng thường lui tới.
Bán gánh một thời gian, bà chuyển về hẻm 53 và dùng nơi đây để tiếp tục bán cơm. Lúc này khách của bà càng đông hơn. Nhóm nhà văn, nhà báo kéo đến khá đông.
Nhạc sĩ Trường Kỳ, một trong những người tiên phong khai sinh phong trào nhạc trẻ Sài Gòn, thường gọi đùa quán cơm của bà là quán Bà Cả Đọi. Chữ "đọi" tiếng lóng có nghĩa là đói. Bà Cả Đọi không phải là Bà Cả Đói nhưng chính chữ "đọi" ở đây đã nói lên được tình cảm của những người khách đến quán bà.
Mỗi khi hết tiền (đói) thì ghé qua đây ăn bữa cơm vừa rẻ vừa no. Có lẽ từ đó, quán cơm Bà Cả Đọi được nhắc đi nhắc lại nhiều lần, trở nên quen thuộc ...
Chốn quen của người Bắc
Ngày ấy tại quán cơm của bà, thường xuyên có một cụ bà người Pháp ngồi ăn một mình.
Bà chỉ ăn duy nhất một tô canh rau đay và một đĩa cơm. Món canh này là món của người Bắc và dĩ nhiên quán của bà bán các món ăn vời đầy đủ hương vị đặc trưng miền Bắc.
Những người Bắc tha hương vào miền Nam với những bỡ ngỡ, xa lạ từ khí hậu đến phong tục tập quán, đồ ăn. Bởi vậy, quán Bà Cả Đọi được ví là cả một "vùng trời quê hương" với họ.
Họ dễ dàng tìm thấy những món ăn rất hợp khẩu vị và nhất là không có vị ngọt đặc trưng như món ăn miền Nam.
Bà Cả Đọi khi còn sống và con cháu. Ảnh: Người lao động |
Các món như thịt đông, thịt heo nấu giả cầy, tàu hủ chiên, dồi trường, rau muống xào, trứng non, trứng đúc thịt, canh cua rau đay, cá bống kho tiêu mỡ, ốc nấu chuối... được bà bày trong quầy. Ai muốn ăn gì thì cứ chỉ. Đặc biệt một món không thể thiếu ở bất kỳ một quán người Bắc nào là dưa chua, cà pháo chấm mắm tôm.
Buổi trưa, quán Bà Cả khá đông khách. Diện tích quán hẹp nên khách đến sau thường phải chờ khi có chỗ trống mới lên. Chờ đợi như thế nhưng không ai phàn nàn.
Nhà văn Từ Kế Tường cũng đã ghi lại cảm tưởng của mình trong một bài viết về quán cơm Bà Cả Đọi.
Ông viết: "Tôi và bạn bè trong cánh nhà văn, nhà báo, nghệ sĩ thường xuyên “đóng đô” ở quán Bà Cả Đọi đến nỗi, bà chủ quán mặt khó đăm đăm, ít thấy cười. Bà không cần hỏi chúng tôi ăn gì mà vẫn “chế biến” hợp khẩu vị và cứ thế người nhà của quán tự động mang ra.
Lâu ngày tôi mới ngẫm ra rằng, quán cơm bụi Bà Cả Đọi nổi tiếng khắp Sài Gòn tới tận miền Tây, miền Trung trước hết là nhờ… không khí, một thứ không khí đặc trưng của quán mà không nơi nào có được.
Nó không phải sang trọng như nhà hàng máy lạnh mà là sự chật hẹp gần gũi, thân tình, đầy mùi vị của thức ăn và... lửa khói. Không gian chật hẹp mà bài trí lại giống như nhà mình. Tường vách bụi bám, nhện giăng, cánh quạt lúc nào cũng rè rè nghe rất quen thuộc và người ta… nghiện cái không khí ấy, nếu vài ba ngày không được quay lại thì đâm ra nhớ nhung, ngơ ngẩn".
Sau 1975, quán cơm Bà Cả Đọi tiếp tục duy trì tại hẻm 53 Nguyễn Huệ thêm vài năm nữa rồi đóng cửa. Bà Cả lúc bấy giờ tuổi đã cao, sức đã yếu. Con bà tiếp tục bán cơm nhưng chuyển về 2 địa điểm trên đường Tôn Thất Thiệp và Trương Định.
Ở 2 quán này vẫn bán đúng như cung cách xưa và ở mỗi quán đều có tấm biển nhỏ Cơm Bà Cả. Những người khách năm xưa vẫn thường ghé lại, nhằm tìm lại chút dư vị của một thời đã qua.
Đầu năm 2016 bà Cả mất, hưởng thọ 86 tuổi.
Trần Chánh Nghĩa
Friday, January 28, 2022
Tết người Huế: Lộng lẫy hương xưa một thời
Mắc kẹt lại Việt Nam vì dịch COVID-19, GS.TS Thái Kim Lan (sinh ra ở Huế, sống và giảng dạy triết học tại Đức) được ăn hai cái Tết cổ truyền ở quê nhà từ năm ngoái tới năm nay.
Việc sửa soạn Tết là một niềm vui lạ lùng, kết nối bằng tình thương. Để ăn một cái Tết ngon, người Huế làm gì cũng phải làm cho đẹp, cho tốt; bên mâm cỗ đoàn viên, họ chào đón một năm mới, cùng nhau hi vọng và mơ ước.
GS.TS Thái Kim Lan
Sau những ngày bão dài, Huế tháng chạp bắt đầu có những cơn mưa phùn lất phất vào ban sớm. Tới trưa thì tạnh hẳn, trời ấm dần. Khung cảnh vườn nhà cũng như thành phố có vẻ tân kỳ hơn. Chính lúc đó, người Huế nhận ra năm sắp hết, mùa xuân sắp trở lại.
Người Huế ăn Tết từ rằm tháng chạp Ở Huế, Tết thường được bắt đầu từ ngày 20 tháng chạp. Với những đại gia đình, Tết đến sớm hơn, ngay từ giữa tháng. Trong trí nhớ của bà Lan vẫn còn đó cảnh người lớn trong nhà họp lại, phân công nhiệm vụ cho từng người để sửa soạn ra sao. Hóa ra, chuẩn bị Tết cũng là cách ăn Tết hào hứng. Mâm cỗ Tết dâng lên bàn thờ gia tiên của người Huế được chuẩn bị rất kỹ, gồm một mâm hoa quả, một mâm bánh ngọt, một mâm bánh mặn, một mâm thức ăn. Ở những gia đình gia thế ngày trước, người ta không mua đồ ăn ở chợ mà tự tay làm hết.
Bánh bèo, bánh lá và chả tôm theo kiểu Huế xưa: chả tôm nặn thành trái quýt chưng trên cành quýt - Ảnh: GS.TS THÁI KIM LAN
Mường tượng cảnh cũ người xưa, trong chất giọng Huế chậm rãi, bà nói như reo khi nhắc tới món tôm chua và chao - rất đặc trưng và rất Huế. Tới nay, dù đã lãng du qua những vùng văn hóa khác, thẳm sâu trong lòng người phụ nữ đã sống hơn nửa đời người này vẫn còn đó thứ "vàng mười" ký ức gắn với những món ăn, hương vị của một thời. Tết này, bà lại tự tay làm một hũ tôm chua, hũ chao đón Tết.
Khác các nơi, để làm món tôm chua ăn với heo luộc, heo quay, người Huế chỉ dùng muối. Tôm chua nhà làm khác tôm chua ngoài chợ ở chỗ vị thuần hơn, thơm hơn. Mùng 1, người Huế ăn chay nên chao trở thành một món đặc biệt quan trọng. Qua chuyện làm tôm chua, làm chao, người nội trợ thể hiện tài năng, thiên phú của mình. Không phải cứ muốn làm ngon mà được.
Mâm cỗ Tết Huế gồm nhiều món, tùy điều kiện từng gia đình mà bày biện, nhưng có mấy món cơ bản. Sau món thịt ngâm và nem, chả khai vị, kế đến là mâm nhỏ ngũ vị gồm tôm chua, thịt kho tàu, tôm rim (hoặc cá chiên), gỏi (gỏi gà trộn hoa chuối/mít/vả/măng).
Món nữa là bát bửu gồm su le, cà rốt, bong bóng heo, nấm đông cô nhồi chả tôm, thịt ba chỉ, tôm, nấm mèo/rơm xào lên... Bánh chưng, bánh tét, dưa món cũng là các món không thể thiếu.
Đạo ẩm thực, triết lý gói - mở
Người Huế không bao giờ bày một mâm cỗ mà thái quá. Nếu tôm chua kích thích dạ dày mau tiêu thì có các loại rau thơm, chuối chát, vả kìm hãm lại.
Bánh sen tua làm bằng hột sen nấu chín quết nhuyễn với đường, ngào khô, vo viên và bọc giấy tua, còn gọi là bánh sen tán
Hay như món thịt heo kho tàu (kho như thế nào để miếng mỡ còn lại trong veo mới là kho giỏi) phải có măng trộn, vả trộn ăn kèm. "Qua mỗi món ăn, người Huế gửi gắm một triết lý hòa hợp trong đời sống. Đó là một bản hòa điệu giữa thức ăn ngon và cách sống khỏe" - bà Lan nói.
Người Huế cũng rất chuộng cái đẹp. Ngoài ăn bằng vị còn ăn bằng mắt. Thành thử bánh trái, món ăn của Huế đủ màu sắc. Người nội trợ không những nấu ăn ngon mà còn biết trình bày đẹp. Bà Lan ví dụ món dưa món. Cà rốt, su hào, đu đủ, củ cải... không chỉ xắt lát mà còn được tỉa thành những hoa ngọc lan, cúc, hồng... Mỗi lần dọn, dĩa dưa món giống như một dĩa hoa.
Bánh phất đặc biệt trong ẩm thực cung đình, ngày nay hầu như thất truyền và hiếm hoi trong mâm bánh Huế.
Ông bà nói "học ăn, học nói, học gói, học mở" là vì thế. Có khi cái sự nấu nướng mở ra cả một nền văn hóa. Người Huế xưa chú trọng đạo ẩm thực cùng lối sống thẩm mỹ, làm thế nào cũng muốn cho đẹp. Để rồi họ vừa là người thưởng thức hương vị đặc biệt của đời sống, vừa tạo nên vẻ đẹp cho đời sống ngay trong gian bếp của mình.
Người Huế xưa thường uống trà vào ngày Tết. Họ chuộng nhất là hoa mộc và hoa sói vì ướp trà rất thơm. Ngoài ra còn có rượu nếp, rượu gạo và rượu đỏ (rượu chát). Bà Thái Kim Lan vẫn nhớ mạ và bà mình ngày xưa, cứ đến mùa dâu tằm lại ngâm rượu dâu tằm như một thứ rượu chát, năm mới Tết đến lại lấy ra mời khách.
Cây hoa mộc trước nhà từ đường của gia đình
Không thể về đoàn tụ cùng con cháu bên Đức, bà Lan ở đây, trong căn nhà "xưa như Trái đất" của gia đình với mấy người bà con. Lúc ở Đức, bà vẫn khắc khoải bồn chồn không biết Tết nhất ở nhà ra sao.
Tết năm nay, bàn thờ gia tiên được chăm sóc chu đáo. Được trở lại sống trong không gian ấm nồng hương xưa nghĩa cũ ấy vốn là ước mơ bao lần của bà khi ở Đức thì giờ đây, giấc mơ nhỏ đã thành sự thật. Mùa này, những đóa hoa mộc bắt đầu nở trong khu vườn thời thơ ấu. Ngày mai, bà lại cắp rổ ra vườn hái hoa đặng còn kịp ướp trà đón.