Wednesday, July 1, 2015

San Jose, chuyện kể từ đầu.


 
Ghi chú: 
Tháng 10 năm nay, tôi đựợc báo Việt Luận mời qua Úc châu. Bạn thâm niên ở NSW có con bên San Jose bèn hỏi rằng cái xứ Zôzê có gì lạ. 
Bác Phan Lạc Phúc định cư ở Úc đã từng ghé San Jose nhưng chẳng nhớ được nhiều và cũng không nghĩ rằng sẽ có ngày trở lại. 
Bác Thanh Thương Hoàng ở San Jose thì chỉ mong có ngày qua Úc thăm con trai. 
Bác Lê Trung Hiền nói rằng qua Úc cho tôi hỏi thăm ông Phúc đại đội trưởng đầu tiên của tôi ngoài Bắc thời kỳ 50. Nói là có thiếu úy Hiền ở San Jose vẫn có ý chờ. 
Vũ Thế Quang cũng muốn đi từ DC xuống San Jose rồi qua Úc mà chẳng biết bao giờ. 
Bác Văn Quang muốn đi từ Úc đến San Jose nhưng xem ra vô vọng. Các bạn già loanh quanh các tiểu bang Hoa Kỳ  không khó. 
Vượt thác Niagara qua Canada cũng có thể. 
Nhưng tuổi cao niên đi Úc xem chừng khá vất vả. 
Vậy mà chúng tôi có cơ hội cho chuyến đi cuối đời.  
Xin kể chuyện San Jose tặng báo Việt Luận và độc giả ở miền dưới địa cầu. 
Tôi đã viết nhiều về "My hometown San Jose" nay xin viết lại thật dài. Cũng xin gửi tặng các thân hữu đồng hương đã cùng sống với nhau “Những ngày xưa thân ái” tại thành phố này. Kỳ này tôi đem San Jose gửi đến Sydney.
 
 Cali, ngày trở lại. 
Cách đây 37 năm gia đình chúng tôi trở lại California vào tháng 8 năm 1976. 
Nói là trở lại Cali vì sau vụ di tản tháng 4-75 chúng tôi đã đến Hoa Kỳ vào tháng 6-75 tạm cư ở Camp Pendleton rồi ra phi trường Los Angeles bay về định cư ở miền Ðông. 
Ở Virginia được 1 tháng thấy không êm, lại tự túc lấy xe đò Greyhound mà về với nhà thờ bảo trợ ở thị trấn Springfield - thủ đô của Illinois. Sau một năm nếm mùi xứ lạnh cả nhà lại cùng bè bạn tổ chức chuyến viễn du Tây Tiến để về ăn trợ cấp ở Cali. 

Đưa người ta đi khai oenphe, sao nghe tiếng sóng ở trong lòng. 
Nắng vàng hiu hắt tên thành họ, chờ đến hoàng hôn lãnh phút tem.
 

Nếu hỏi rằng cái đất Cali huyền diệu và hấp dẫn kéo dài cả ngàn dặm từ Bắc xuống Nam bao nhiêu là thị trấn, tại sao chúng tôi lại cư ngụ tại San Jose. 
Câu trả lời chỉ là định mệnh. 
Thực sự đất Cali vào cuối năm 76 ở đâu cũng có một số bạn bè nhưng bước chân tha hương đã dừng lại đặt cọc tiền nhà ở cái Apartment đường số 7 thì San Jose chính là xóm làng mới của chúng tôi. 
Thấm thoát đã gần 40 năm tại Hoa Kỳ và trong đó có 37 năm đơn vị Giao Chỉ đóng quân quanh quẩn ở một thị trấn.
Chúng tôi đã có cơ hội chứng kiến thị xã San Jose thay đổi từ bộ mặt cũ kỹ của một thành phố nông nghiệp trải qua thời kỳ điện tử phát triển. 
Với tháng ngày trôi qua, vườn nho và cánh đồng hoa vàng nay trở thành xưởng máy.
Cộng đồng Việt Nam từ 3,500 người cuối năm 75 cho đến bây giờ vào năm 2013 trở thành trên100 ngàn dân, chiếm hơn10% của đô thị đông đảo thứ ba tại California sau Los Angeles, San Diego và qua mặt San Francisco.
Mới đây báo chí tỵ nạn có nhắc nhở đến một nhà văn Hà Nội tên là Trần Văn Thủy, đi phỏng vấn các nhân vật hải ngoại và góp thành một cuốn tiểu luận tựa đề là “Nếu đi hết biển”.
Trong đó có đoạn văn ẩn dụ rất sâu sắc kể rằng lúc còn thơ ấu tác giả hỏi bà thím là nếu đi hết làng ta rồi đến đâu. 
Lời trẻ thơ với các câu hỏi nối tiếp để bà thím trả lời rằng nếu đi hết làng ta sẽ đến làng bên, rồi lên huyện, lên tỉnh rồi ra đến biển. Khi cậu bé hỏi rằng nếu đi hết biển thì đến đâu, bà thím buồn rầu không trả lời được. 
Cậu bé Trần Văn Thủy lớn lên đi năm châu bốn bể đã tìm được câu trả lời là đi qua các quốc gia, các đại lục rồi sẽ trở về cố hương. Trong một bài tạp ghi tôi đã viết rằng tuy rất tâm đắc ý kiến của tác giả nhưng vẫn thấy cần phải đưa ra một phản đề bởi vì tôi cho rằng ông không hiểu hay là cố ý không muốn hiểu tâm tình của người tỵ nạn. 
Người du khách đi lang thang bốn phương trời chân không bén rễ thì sẽ về lại cố hương. Nhưng lưu dân di tản tỵ nạn như chúng tôi thì nơi nào an cư lạc nghiệp, nơi đó sẽ chính là quê hương. 
Thực vậy, những năm đầu dù đã lập nghiệp, mua nhà, dựng vợ gả chồng cho con cái, người lưu dân có khi vẫn tưởng mình ở cõi tạm dung. Rồi những năm tháng dần qua, đất tạm dung chẳng biết đã trở thành quê hương mới từ lúc nào không rõ. Vì vậy xin kể câu chuyện sau đây.
Chúng tôi có thằng cháu họ làm thợ máy ở Thủ Ðức.
Bà chị chúng tôi kiếm tiền cho nó vượt biên. 
Vài tháng sau có thơ từ Thái Lan gửi về báo tin là bây giờ cháu làm thợ chạy máy đèn cho trại. 
Ngày lãnh được hơn 10 Mỹ Kim, khá lắm. Cháu muốn ở lại, không đi đâu nữa. Ở quê nhà ra lệnh nó phải tiếp tục đi, cứ hướng ra biển mà đi. Thằng nhỏ rất tháo vát thi hành theo lệnh mẹ nhưng thấy chờ ở trại Thái Lan quá lâu, đã cùng bạn bè ăn cắp tàu vượt biên mới đến, đổ dầu chạy qua Indo. 
Thật may mắn cháu trải qua bao nhiêu gian khổ đã đến trại tỵ nạn Nam Dương. Chuyện này các báo có đăng tin. Rồi lệnh từ Thủ Ðức lại đưa ra là nhất quyết phải xin đi Mỹ. Phải đi cho hết biển Thái Bình Dương.
Trải qua 3 năm nằm lỳ cố thủ ở trại sau cùng cháu tôi cũng đến San Jose. Thằng nhỏ viết thơ về báo tin là đã đi hết biển thì bây giờ đi đâu.
Thơ nhà hỏa tốc gửi qua lời lẽ nửa vui mừng nửa giận dữ: “Tiên sư thằng ngu. Ðã đi hết biển mà đến được San Jose thì bây giờ làm giấy đoàn tụ cho mẹ mày và các em qua chứ còn đi đâu nữa".     "San Jose là nhất rồi.”
    image
  image
       Down Town San Jose 100 năm trước và ngày nay
Ðó là lý do mà gia đình tôi cũng như thằng cháu họ đã ở lại San Jose suốt bao nhiêu năm nay. Chúng tôi bao năm thao thức với “mưa Sài Gòn, mưa Hà Nội”. Ðã nghe đi nghe lại lời ca tha thiết: “Về đây nghe anh, về đây nghe anh, về đây mặc áo the, đi guốc mộc” nhưng sao mãi chẳng quay về cố hương.
Cũng như mọi người, chúng tôi cũng có người em Mùa Thu Hà Nội, “mà sao ở tuổi phong sương anh chưa gắng tìm về.”Cũng như anh em, chúng tôi có 20 năm Sài Gòn tràn đầy kỷ niệm mà sao suốt cuộc đời di tản chỉ nằm mơ với cơn ác mộng bị kẹt lại quê nhà.
Cũng như tất cả di dân tỵ nạn lưu vong, chúng tôi cũng có tấm lòng thương yêu đất nước quê hương, nhưng đôi khi phải hẹn rằng “Nghìn năm sau mới níu bóng quay về.”
Trong khi đó thì San Jose, đất tạm dung đã thực sự cho ta dân chủ, cơm áo, với đời sống đầy cơ hội và được phép mưu cầu hạnh phúc. 
Tuy rất cá nhân, rất vị kỷ, nhưng rất tự do.
Nhạc sĩ Trần Quang Lộc, chưa hề bước chân ra Hà Nội mà đã sáng tác bài “Có phải em là mùa Thu Hà Nội:. 
Tha thiết nghẹn ngào biết chừng nào. 
Và ông Nam Lộc, một “Social Worker” nổi tiếng của thế giới tỵ nạn cũng để lại bản nhạc Vĩnh biệt Sài Gòn hay đến nỗi ở Việt Nam khi nghe được trên BBC đã đồn rằng đây là bản mới của Phạm Duy.
Vậy mà chúng ta bao năm sống trong lòng quê hương San Jose mà không viết được một bài ca ngợi thành phố này. Như vậy có bạc bẽo quá hay không.
Do đó xin viết đôi dòng về San Jose, chuyện kể từ đầu.

MỘT CHÚT LỊCH SỬ
Vào thế kỷ thứ 16, San Jose là vùng đất hoang dã. 
Phải đến năm 1720 mới có dấu vết của con người. 
Ngày 21 tháng 5-1737 di dân định cư tuyên xưng ông thánh Saint Josept và danh hiệu San Jose đã trở thành lịch sử. Hơn 100 năm sau, vào năm 1849 thành phố San Francisco thành lập. 
Kế tiếp ngày 27 tháng 3-1850 tiểu bang California được công nhận và chọn San Jose là thủ đô đầu tiên của California.
Trong số 9 đô thị của Vùng Vịnh Cựu Kim Sơn thì San Jose đất rộng nhất nhưng người thưa nên suốt 200 năm vẫn phải đóng vai đàn em San Francisco vì đô thị này ra đời trước một năm. 
Các bạn có thể đã biết rằng đội ban 49er của Cựu Kim Sơn đã lấy con số 1849 kỷ niệm năm San-Fran thành lập và trở thành đô thị số một của miền Viễn Tây. 
Du khách đến San Francisco không ai biết đường đến San Jose cho đến khi nữ ca sĩ da đen Dionne Warwick đã làm rung động   giới giang hồ với bài ca tình tự POP culture.

- Do you know the way to San Jose, I've been away so long, I may go wrong and lose my way.

Anh có biết đường về San Jose hay không? Tôi đã đi xa từ lâu, nay có thể lạc lối về. 
I'm going back to find some peace of mind in San Jose...

Ðúng như vậy, gần 40 năm trước, những người Việt di tản đã đến San Jose để tìm một chút bình yên, bỏ lại sau lưng một nước Việt buồn.
Vào thời kỳ cuối thập niên 70, San Jose còn những cánh đồng đầy hoa vàng. Xa lộ 87 và 680 đang xây cất. Ngày nay hoa vàng chỉ còn trong kỷ niệm. Cả một khu down town tráng lệ mới mẻ đã dựng lên do tiền bạc thế giới đổ về như nước của một thời vàng son đã làm thành cái nôi của Thung Lũng Ðiện Tử.
Dân số San Jose bây giờ lên đến trên 900 ngàn dân, đông hơn San Francisco và một thời đã được coi là thành phố lớn an toàn nhất nước.
Nhà cửa cũng đắt đỏ hàng đầu quốc gia với lợi tức chung của một gia đình là $80 ngàn Mỹ Kim một năm.
Sự phồn thịnh của San Jose chắc chắn đã có sự góp mặt của người Việt suốt 38 năm qua. 
Tuy nhiên, thực sự đợt di dân đông đảo của người Mỹ từ miền Ðông đến San Jose đã xẩy ra từ hơn 100 năm trước.
Ðúng vậy, hơn 100 năm trước có một gia đình di dân từ Kentucky về San Jose. 
Chồng là bác sĩ, vợ là nhà hoạt động xã hội. 
Họ là những nhà phiêu lưu đi tìm đất lành như chúng ta đến từ Thái Bình Dương. 
Chuyện về gia đình này lập nghiệp ở San Jose là câu chuyện đời thường nhưng rất tiêu biểu. 
Năm 1899, họ mua được một ngôi nhà ngon lành tại San Jose với giá 7,000 đồng. Ngôi nhà này bây giờ trị giá trên một triệu đồng. 
Ði nhổ răng phải trả tiền mặt cho nha sĩ là 5 đồng. 
Nhưng thực phẩm ở vùng này thời đó còn thiếu nên phải mua 3 đồng một con gà và 3 đồng một tá trứng gà. 
Giá trứng gà hiện nay vẫn còn đứng lại nhưng giá nhà thì tăng lên gấp 100 lần. Bà bác sĩ hoạt động thiện nguyện cho nhà thờ cho đến khi về già nên được gọi là Grandma của tất cả mọi người. 
Thành tích gây quỹ xã hội có lần thu đến 100 Mỹ kim. 
Tên của bà vẫn còn đến ngày nay và người Việt nào cũng nhắc đến mà không hề biết rõ. Ðó là gia đình Bascom. 
Trên con đường Bascom có nhà thương Bascom nổi tiếng trong cộng đồng Việt Nam. 
Từ thời của gia đình Bascom, dân số San Jose chỉ có 25,000 cho đến nay thành phố cả triệu dân, đã có biết bao nhiêu thay đổi. 
Trong 30 năm sau cùng của thời hiện tại chúng ta đã đóng góp vào thành phố này bằng sự hiện diện quan trọng nhất là dân số tăng dần vượt tất cả mọi chỉ tiêu về thống kê. 
Trong lúc đi tìm dữ kiện, chúng tôi ghi nhận những mẩu chuyện vụn vặt rất lý thú về người Việt đến Bắc Cali trước 75, trong thời kỳ 75 và sau này. 
Hai vợ chồng một gia đình Việt Mỹ bán đồ nhà binh tại chợ trời Capitol là người quen biết lo sưu tầm các di vật của Việt Nam Cộng Hòa cho chúng tôi. 
Ông chồng là cựu chiến binh ở Việt Nam. 
Ông nói rằng các cựu quân nhân có vợ Việt Nam về cư ngụ tại địa phương này trước năm 75 có quen biết nhau nên thường sinh hoạt chung thành nhóm vài chục người. 
Ông hãnh diện cho biết rằng chỉ còn lại rất ít như gia đình của ông bà vẫn ở với nhau đầy tình nghĩa chung thủy Việt Mỹ. 
Ðợt tỵ nạn từ 75 đã đem lại cho quý bà quý cô cả một chân trời quê hương bỏ lại. 
Các bà dẫn chồng Mỹ vào thăm trại Pendleton ở Nam Cali để làm công tác xã hội, tìm người thân, hoặc là chẳng làm gì cả, chỉ cốt đi xem người Việt tỵ nạn, đón về nhà, mời ăn uống, tìm Sponsor. 
Và sau cùng thì đa số quý bà Việt Nam đều lá rụng về cội. Ði theo tiếng nước tôi để lại cho các ông chồng Mỹ ngơ ngẩn với những chai nước mắm dở dang. 
Như vậy, nếu về chính trị và quân sự,  Mỹ bỏ Việt Nam thì qua lãnh vực tình yêu và gia đình, đa số Việt Nam đều bỏ Mỹ.    Ðó là thế giới của phụ nữ Việt trước 75. 
Ngoài ra còn có thế giới của sinh viên Việt Nam du học trước 75, hiện cũng trở thành nhóm ái hữu sinh hoạt với nhau trong phạm vi riêng tư.  
Còn người Việt đến Hoa Kỳ trong đợt 1975 thì ai là người đến đây đầu tiên. Ký giả Hoa Kỳ đã viết một bài trên San Jose Mercury News ngày 24 tháng 4-1975 đề cập đến nhóm gia đình 154 người đi máy bay World Airway trực tiếp từ Sài Gòn đến San Francisco. 
Ða số quý vị này hiện đã thành đạt và vẫn còn cư ngụ trong vùng. Nhóm gia đình sớm sủa đến Mỹ gồm có các ông cựu tổng trưởng kinh tế Nguyễn Kim Ngọc và ông dân biểu Ngô Trọng Hiếu. 
Từ 29 năm qua cho đến bây giờ. Cộng đồng người Việt sống và trải qua kinh nghiệm của hoàn cảnh song văn hóa. 
Chúng ta sử dụng song ngữ đã đành, chúng ta còn vui hưởng một lượt 2 đời sống rất phong phú. 
Từ sáng cho đến chiều, chợ Mỹ, chợ Việt, báo Mỹ, báo Việt, Radio TV Mỹ Việt đề huề. Thậm chí hóa đơn điện nước, điện thoại cũng đều song ngữ. 
Phiếu đi bầu cũng hai thứ tiếng. 
Ðiện thoại kêu gọi chào hàng làm phiền chúng ta cũng có cả Anh lẫn Việt ngữ. 
 Suốt 12 tháng một năm, chúng ta vui hưởng và tham dự cả Vu Lan lẫn Memorial Day và Mother's Day. 
Nếu là người con hiếu thảo quanh năm ta có thể lên nghĩa trang Việt Nam thăm mộ cha mẹ từ Tết Tây tháng Giêng, Tết Ta tháng Hai, Thanh Minh tháng Ba, Memorial và Mother' Day tháng 5, Father's Day tháng Sáu, Vu Lan tháng 8 và Thanksgiving tháng 11. 
Trẻ em chúng ta vui hưởng ngày Tết Trung Thu tháng 9 và Halloween tháng 10.   
Ðặc biệt quý vị cao niên, thì giờ rộng rãi yêu văn chương chữ nghĩa có cơ hội vào thư viện thành phố 9 tầng, 177 triệu Mỹ kim để tham khảo một triệu thứ tài liệu. Bấm máy điện toán có phần tiếng Việt. 
Quý vị có thể đem về 10 tape Thúy Nga Paris hay văn nghệ Asia và 100 cuốn sách một lần. 
Nhưng chắc chắn không ai có thể đọc được nhiều như thế vì còn phải dành thì giờ cho 6 chương trình TV, 6 đài Radio 24/24, hàng chục tờ tuần báo và nguyệt san cùng với 4 tờ nhật báo. 
Tất cả đều phát không và toàn bằng Việt ngữ.
Về văn hóa ẩm thực thì phải nói rằng các thức ăn căn bản của các sắc dân không đâu ngon hơn California, gồm cả thực đơn Việt Nam. Hamburger ở Cali ngon hơn ở Ðức, Pizza ngon hơn ở Ý, Vịt Bắc Kinh ngon hơn ở Bắc Kinh, Tacco ngon hơn ở Mễ. 
Bánh Tôm Cổ Ngư ngon hơn Cổ Ngư Hà Nội, Chả Cá ngon hơn ở Thăng Long. 
Ðó không phải là ý kiến của chúng tôi mà chính quý vị đi chơi khắp bốn phương trời về nói lại. Và đặc biệt là món phở. Dù cho đi bốn phương trời hay về cả ở ba miền Trung Nam Bắc Việt Nam, trở lại Hoa Kỳ ai cũng nói Phở Cali là nhất. 
Sau hết, chúng tôi đã tham khảo qua các tác phẩm của hơn 16 sắc dân đến Hoa Kỳ trong 100 năm qua viết về nước Mỹ. Có thể đi đến kết luận rằng đây là một xã hội tuy không toàn hảo như gần đạt được chỉ tiêu mà con người mong muốn. 
Một xã hội tự do, tôn trọng nhân phẩm, con người có cơ hội đồng đều. Chỉ cần làm việc một giờ đủ tiền cho thực phẩm một ngày. Hai giờ là đủ mua một bộ quần áo. Dù là lương tối thiểu, giàu hay nghèo ai cũng có xe hơi chạy trên xa lộ trị giá trên 100 tỷ đô la khắp nước Hoa Kỳ.
Cũng bắt đầu từ 38 năm về trước khi cộng đồng Việt Nam thành hình thì San Jose trở thành trái tim của miền Bắc California.
Toàn thể người Việt tại Bắc Cali hiện có 300 ngàn dân nhưng riêng thành phố San Jose có 100,000 vào kỳ kiểm kê dân số năm 2010. 
Hiện nay San Jose là thành phố đông dân Việt nhất trong số tất cả các đô thị trên thế giới.
Ngoài đặc điểm về dân số, San Jose còn có khá nhiều thành tích về những hoạt động tiên phong của người Việt tại Hải Ngoại. 
Về truyền thông miền Bắc có tờ nhật báo Việt Nam của Nguyễn Kim Bảng phát hành hàng ngày trước khi tờ Người Việt ở quận Cam ra đời. Nhật báo Việt Nam vẫn còn tiếp tục đến nay cùng với nhiều nhật báo khác như Thời Báo, Cali Today v.v...
Radio Ðông Thành cũng là chương trình phát thanh đầu tiên và tiếp theo Truyền hình Việt Nam Tự Do cũng là chương trình TV Việt ngữ hàng ngày đi tiên phong tại Hoa Kỳ trước cả miền Nam California.
Dân Việt Bắc Cali cũng tổ chức lễ tưởng niệm 30 tháng 4 lần đầu tại công viên St. Jame năm 1978 và tổ chức Hội Tết quy mô lần thứ nhất vào năm 1983.
Về phương diện văn hóa xã hội, cơ quan IRCC, Inc. do người Việt thành lập để cung cấp dịch vụ tỵ nạn từ năm 1976. Trong khi đó trung tâm Việt ngữ Văn Lang với 1,000 học sinh và gần 200 giáo chức nhân viên tình nguyện vừa tổ chức chào mừng 25 năm công tác. 
Các đoàn thể Hướng đạo, Không quân, Hải quân, Nhảy dù v.v. cũng đều có lịch sử sinh hoạt một phần tư thế kỷ.
San Jose cũng là nơi có Câu Lạc Bộ Việt Dã Việt Nam tham dự các kỳ chạy đua với Hoa Kỳ và chạy đuốc Tự Do từ SF về San Jose vào dịp Tết mỗi năm.
Ðặc biệt cũng tại miền Bắc California một nghĩa trang hoàn toàn Việt nam đã được thành lập từ năm 1978 tại Los Gatos với 500 phần mộ. 
Kỳ đài Việt Nam Cộng Hòa cũng đã được thiết dựng từ năm 1990 tại đường Capitol Expwy nhưng đến năm 2000 vừa qua đã được di chuyển về vườn Kelley, nơi sẽ hoàn tất công viên văn hóa đầu tiên của người Việt trên đất Mỹ. 
Cũng tại Vườn Kelley cạnh Senter Road một ngôi nhà cổ Victoria đã trở thành Bảo Tàng Viện Thuyền Nhân và Việt Nam Cộng Hòa đầu tiên trên thế giới do cơ quan IRCC thực hiện.
    image       image      
                Vitoria House 1880 và Viet Museum ngày nay 2013
Về lãnh vực kinh tế và thương mại Bắc California có khả năng tiềm ẩn rải rác từ Sacramento, San Francisco, Oakland, San Jose đến Milpitas. 
Ðã có nhiều khu thương mại Á Châu và Việt Nam và cũng trở thành một Little Saigon như tại Orange County. Khác hẳn tại các thành phố nhỏ như Westminster, Garden Grove miền Nam khi người Việt mới đến các nơi này chưa phải là vùng đông dân, do đó người Việt có cơ hội lập thành các khu vực với ranh giới riêng biệt. 
Tại Bắc Cali, dân tỵ nạn Việt Nam đến định cư đã hội nhập ngay vào các khu đông đảo người Mỹ, người Mễ nên phải nỗ lực tìm đường sinh tồn để dần dần vươn lên. 
Dù vậy, tại San Jose cũng có các khu thương mại Việt Nam ngay tại Down Town, khu Senter, khu Tully hoặc tương đối văn minh như khu Grand Century ở góc đường Story.
Hơn 20 năm trước, 2 bên đường phố tại San Jose toàn là đất trống với hoa vàng rực rỡ. Suốt 2 thập niên ngành điện tử nở hoa kỹ thuật. 
Ðất trống trở thành hãng xưởng. 
Hoa Kỳ gọi đây là Thung Lũng Ðiện Tử. 
Hầu hết 80% người Việt làm cho các hãng điện. 
Ða số chồng là Technician và vợ làm Assembly. 
Ca dao của Giao Chỉ có câu là:
 Ở đây chồng tếch vợ ly. Cùng làm một xíp còn gì sướng hơn.Rồi tiếp đến thế hệ kế tiếp, con cái tốt nghiệp đa số vào làm kỹ sư.
Cùng với ngành điện tử phát triển, Việt Nam nhẩy vào làm ăn trong lãnh vực xe lunch. Chồng lái xe, vợ nấu bếp. 
Hàng trăm xe lunch ngược xuôi bán bữa ăn trưa cho nhân công các hãng. Thoạt đầu thuê xe, sau lên làm chủ xe và có các nhà làm ăn lớn trở thành chủ bãi. 
Ðây là các cơ sở Parking và tiếp liệu cho hàng trăm xe lunch. 
Gia đình ông Lê từ quê hương miền Tây nổi danh tại San Jose trong kỹ nghệ xe lunch. 
Hiện nay trở thành công ty lớn với danh hiệu Lee's Brothers đưa bao bánh mì vĩ đại lên các nóc nhà để làm huy hiệu tiêu biểu cho ngành Fast Food Việt Nam chinh phục thị trường Mỹ.
Về một lãnh vực khác, ông Ngô Hứa, một công dân gốc Bạc Liêu, mở đầu sự nghiệp bằng xe bán cá lẻ ngược xuôi từ Monterey đến San Francisco, bây giờ trở thành nhà tư bản quan trọng trong thương vụ hải sản tại Hoa Kỳ, chủ nhân nhiều bến tàu, bến cá từ Ðại Tây Dương qua Thai Bình Dương. 
Cùng một lượt, trên các khu thị tứ toàn nước Mỹ hệ thống phở Hòa phát triển đưa hương vị độc đáo của tô phở đến các tiểu bang. 
Dù vậy ai cũng nhớ rằng tô phở Hòa đầu tiên bắt đầu ở San Jose. 
Chúng ta cũng không quên sự phát triển vượt bực của Việt Nam trong ngành nail. Ngồi ráp hàn trong xưởng, chạy xe lunch ngoài đường hay mở tiệm sơn móng tay, tất cả đều mở đường cho con cháu xây dựng thế hệ tương lai. 
Khi nói đến San Jose, không thể không nói đến rất nhiều chủ nhân của các hãng điện tử gốc Việt đã thành công và hiện vẫn còn giữ vững tay lái trong cơn sóng gió kinh tế hiện nay. 
San Jose cũng là cái nôi của các tổ chức Kháng chiến, Phục hưng và là nơi các vị lãnh đạo VNCH lựa chọn để tái xuất giang hồ như Thiếu Tướng Kỳ, Tổng Thống Thiệu và Ðại Tướng Khánh.
Ðó là câu chuyện của xóm làng San Jose gần 40 năm về trước rồi từ đó đến nay biết bao nhiêu vật đổi sao dời. 
Ở Á Châu người ta thường nói đến chuyện dâu bể. Trải qua thời gian, biển cả được con sông bồi đắp phù sa trở thành ruộng dâu. 
Và những người dân Việt tiền phong đã đến đất này khai phá và xây nền móng cho cộng đồng và lớp người đến sau đã mở rộng chân trời để hình thành cả một quê hương của riêng ta trên đất mới.
Vào đầu năm 2005, khu bầu cử số 7 với 30% cử tri Việt Nam náo nức về tin có đến 5 ứng cử viên trẻ Việt sẽ ra ứng cử nghị viên thành phố. Ðây sẽ là một bài học mới hào hứng cho một vận hội mới. 
Khi niềm mơ ước một nghị viên gốc Việt thành sự thực lại tiếp theo với những khác biệt chia rẽ cả cộng đồng mà vết thương vẫn chưa hàn gắn.
Mặc dù miền Bắc của chúng ta không đông đảo bằng quận Cam, không có khu Little Saigon sầm uất nhưng chúng ta đã có nhiều khả năng tiềm ẩn. 
Chúng ta không quá tập trung để trở thành xa cách với dân địa phương. 
Chúng ta có cơ hội hội nhập nhiều hơn và đây là ưu điểm đáng lưu ý.
Khi chúng tôi có dịp xuống thăm khu thị tứ của cộng đồng Việt miền Nam, đã có những cảm tưởng vừa tự hào vừa quản ngại. 
Người Việt xây dựng được cả một thành phố Saigon nhỏ trên đất Mỹ quả thực là điều đáng hãnh diện. Tuy nhiên, toàn thể quê hương mới của dân ta không hề hấp dẫn người Hoa Kỳ và các sắc dân khác.  
Do đó, có thể coi là chúng ta nên bằng lòng với sự phát triển chừng mực của cộng đồng Việt tại San Jose vì đây chính là sự thăng bằng giữa vấn đề bảo toàn truyền thống và việc tham dự vào con đường hội nhập.
Sau cùng, như chúng tôi vẫn thường góp ý kiến, tất cả lớp người tỵ nạn của bao năm qua chỉ là đợt khai phá tiền phong. 
Chúng ta chỉ là những cây tràm, cây đước của miền Ðồng Tháp - Cà Mau. 
Sau này con cháu chúng ta mới thực sự là cam quít.
Nếu ta có bền gan vững chí, thành công hay thất bại thì cũng chỉ là những viên gạch lót đường cho các cộng đồng tương lai sẽ dựng lên và mãi mãi tốt đẹp về sau. 
Chuyện sau cùng là phải nói đến mối ràng buộc với quê hương. 
Dù ra đi trong hoàn cảnh nào thì mọi sắc dân định cư trên đất mới cũng trải qua những kinh nghiệm như nhau. 
Phần lớn nhận nơi này làm quê hương. 
300 năm trước người Anh đến Tân thế giới để trở thành người Mỹ. 
Đã hai lần đem quân về cứu quê hương. 
300 năm sau hiệp hội các quốc gia bị cộng sản thống trị họp tại San Francisco đã ghi nhận rằng, dù cố hương còn độc tài hay đã tự do dân chủ thì làm tân công dân trên đất mới vẫn giúp cho quê nhà nhiều hơn là quay về. 
Xem ra tưởng là vị kỷ nhưng chính là chân lý. 
Vấn đề là, anh còn nhớ hay anh đã quên?.

Giao Chỉ - San Jose 2013

Tuesday, June 30, 2015

BÀ CHÍN LÂU VÀ HÃNG NƯỚC MẮM HỒNG HƯƠNG.



Phận nghèo
Mùa gió bấc năm Mậu Tuất 1898, trong một mái lều tranh vách lá che tạm ven bờ sông Cà Ty thuộc làng Đức Thắng, đứa con thứ chín của một ngư dân nghèo cất tiếng khóc chào đời. Trời trở bấc hơn 3 tháng, người cha không đi biển được, nhà không còn một hạt gạo, tám đứa con nheo nhóc bữa đói bữa no cũng chừng ấy thời gian. Người mẹ nghèo sinh đến đứa con thứ 9 nên sức cùng lực kiệt, ngất đi hơn 1 ngày. Người chồng đã sang nhà người bạn ghe mượn tạm một ít gạo về nấu cháo cho vợ. Để có chất tẩm bổ cho vợ, có sữa cho con bú, thứ thực phẩm duy nhất mà người chồng có được là vò nước mắm chôn dưới đất. Cháo loãng và nước mắm giúp người mẹ nghèo có được những dòng sữa ngọt nuôi con trong cảnh khốn cùng. Nghèo, chữ nghĩa chẳng có, không biết đặt tên con là gì, thôi thì đặt tên xấu dễ nuôi. Cái tên Trương Thị Tuất của người con gái thứ chín ra đời như thế.
Cũng như các anh chị mình, từ nhỏ Trương Thị Tuất phải theo phụ mẹ gánh cá mướn. Nhờ trời phú cho Tuất sức khỏe. Cô làm việc quần quật suốt ngày mà không biết mệt. Dậy sớm từ tinh mơ để đón ghe cá vào, rồi gánh cá đổ vào thùng lều cho chủ, sau đó theo anh chị đi cào muối thuê, chiều về dọn dẹp vệ sinh lều mắm,... Bất kể việc gì cô cũng không nề hà. Không như những cô gái thời đó, do nhà nghèo, một phần lo phụ mẹ cha đến ngoài 20 Tuất mới nghĩ đến việc lập gia đình và người chồng của cô cũng là một trai lều(*) hay làm hay làm. Đó cũng là chàng trai chưa bao giờ nói với cô một lời sổ sàng, khác biệt với bao nhiêu trai lều trong vùng ưa bởn cợt, trêu chọc đàn bà, con gái mỗi khi có dịp. Một đôi lần tình cờ gặp nhau trước lều mắm, anh lúc nào cũng nhìn Tuất rồi tủm tỉm cười. Nụ cười của anh mới hiền lành làm sao! Từ đó mà trái tim Tuất thường đập thình thịch, tay chân trở nên bối rối mỗi khi gánh cá vào lều gặp anh và được anh phụ đổ cá cho. Một hai người biết chuyện nói vào, vì vậy khi cha mẹ hỏi Tuất về chuyện Cang- tên của anh- cậy người mai mốt thì Tuất đỏ nhừ mặt không nói gì! Cũng từ việc lập gia đình với anh Nguyễn Văn Cang một cách trể tràng (lâu) này mà mọi người thời đó gọi đùa cô bằng cái tên Chín Lâu. Chín Lâu rồi trở thành tên thường gọi của cô Tuất lúc nào không hay!


Khởi nghiệp
Vợ chồng ra riêng không có một mảnh đất cắm dùi. Bí quá, đôi vợ chồng trẻ xin chủ lều mắm che tạm một mái nhà bên cạnh vừa để ở, vừa để canh lều cho người ta. Được một thời gian ngắn thì phải dọn đi vì con của chủ lều không cho. Lại phải đi tá túc hết nơi này đến nơi khác. May mắn thì ở được lâu, không thì vài tháng. Cuộc sống nay đây mai đó, trăm bề cực khổ đã làm cô Chín Lâu quyết tâm tằn tiện, dành dụm. Năm 1923, vợ chồng mua được một mảnh đất nhỏ với số bạc 10 đồng ở một nơi hẻo lánh của làng Đức Thắng thời ấy. Ngoài thời gian đi làm thuê, vợ chồng muối một vài mái nước mắm tại nhà để bán lẻ. Từ bé đã gắn bó với con cá, hạt muối, thùng lều,... cùng khả năng thiên phú, nước mắm của vợ chồng Chín Lâu làm ra ai cũng khen ngon và mua ủng hộ. Từ vài mái mắm nhỏ, vợ chồng từng bước mở rộng cho đến ngày trở thành có được một thùng lều rồi hai thùng lều… làm mắm. Nước mắm của vợ chồng được sản xuất bởi kỹ thuật cổ truyền, nhưng cao hơn cả nó kết tinh sự cẩn thận, sự kỷ càng về thời gian muối cá, về lượng muối có độ mặn vừa phải, về sự nén, sự trộn, sự pha chế…Dần dần trở thành một loại nước mắm được người dân xóm chợ ưa thích, tìm mua. Tiềng lành đồn xa. Năm 1927, khi lượng nước mắm bán ra ngày một chiều, vợ chồng Chín Lâu chính thức đặt tên nước mắm của mình là Hồng Hương. Vì sao có tên Hồng Hương thì người phụ nữ giỏi giang của làng biển Đức Thắng xưa giải thích: Vì nó luôn có màu hồng tươi của loại nước mắm được muối đúng quy trình và luôn tỏa hương thơm của tinh chất cá vốn là cá tươi nguyên trước khi muối…
Với bản tính ham làm, chịu khó và quý trọng chữ tín, chỉ vài năm sau nước mắm thương hiệu Hồng Hương với “lô gô” hình con tôm của vợ chồng bà Hồng Hương ( sau đây gọi bà Chín Lâu là bà Hồng Hương ) đã có mặt tại Sài Gòn.


Lừng tiếng Hồng Hương.
Thời ấy, các hãng nước mắm khác phải thuê ghe hoặc chỉ sắm 1- 2 chiếc ghe bầu để vận chuyển nước mắm đi bán, riêng hãng Hồng Hương có một đội ghe hơn 10 chiếc, chở nước mắm ngược ra miền trung, miền bắc và xuôi vào Sài Gòn và Nam kỳ lục tỉnh. Từ năm 1933, tại Phan Thiết nước mắm Hồng Hương luôn là thương hiệu nổi tiếng nhất về chất lượng và sản lượng sản xuất ra. So với sản phẩm cùng loại thì nước mắm Hồng Hương luôn cao giá hơn nhưng được người tiêu dùng chấp nhận. Hồng Hương phải mở nhiều cơ sở phát hành tại Sài Gòn và các tỉnh Nam kỳ. Điều đặc biệt nước mắm Hồng Hương từ Phan Thiết vào Sài Gòn được người Hoa ở Chợ Lớn mua sĩ và phân phối khắp vùng Chợ Lớn. Hầu như cộng đồng người Hoa thời kỳ này khi dùng nước mắm chỉ sử dụng nước mắm thương hiệu Hồng Hương. Hàng sản xuất ra không kịp bán. Tại Phan Thiết từ 1 sở lều ban đầu chỉ trong vòng 15 năm hãng nước mắm Hồng Hương đã phát triển ra hơn 20 sở lều, mỗi lều rộng hàng hecta tại Phan Thiết và Phan Rí. Con đường Duy Tân (đường Nguyễn Văn Trỗi ngày nay) trước 1975 hầu hết là sở lều của nước mắm Hồng Hương.


Bí mật của hãng.
Trong quá trình tìm hiểu về những hàm hộ xưa tại Phan Thiết, chúng tôi có nêu thắc mắc tại sao cũng cá, cũng muối và đều được làm tại Phan Thiết nhưng nước mắm Hồng Hương lại nổi tiếng thơm ngon như vậy. Họ có bí quyết gì chăng? Nhiều bậc cao niên trong nghề nước mắm kể lại trước đây hầu như dân hàm hộ ai cũng nghe nói câu chuyện bí quyết nghề của nước mắm Hồng Hương: Nước mắm thành phẩm trước khi xuất bán được bà Hồng Hương chứa trong thùng lớn 12.000 lít sau đó bà cho đổ vào 3 - 4 xe bò nước hến lấy từ giếng dọc ( nước giếng đào trên động cát có màu trắng đục ) ở khu vực xóm lò tỉn ( nay là đường Trần Quý Cáp thuộc phường Đức Long, Phan Thiết ) rồi trộn đều. Sau khi pha với lượng nước hến này thì nước mắm trở dịu, có vị ngọt đặc trưng riêng biệt của nước mắm Hồng Hương và đặc biệt để lâu không hư. Hầu như các hàm hộ khác đều biết chuyện này nhưng không ai bắt chước thành công. Đem câu chuyện này hỏi con cháu bà Hồng Hương thì chúng tôi được trả lời là họ trước đây cũng có nghe nói nhưng không biết thực hư thế nào (?!)


Những công trình kiến trúc.
Năm 1932, thị xã Phan Thiết được chính quyền thuộc địa kiến thiết lại để phù hợp với tính chất là tỉnh thành quan trọng của Trung Kỳ lúc bấy giờ. Khi ấy, chính quyền thuộc địa có chủ trương khuyến khích phát triển đô thị Phan Thiết nên đã kêu gọi và hỗ trợ những thương gia, nhất là các thương gia địa phương mở đường, xây phố, lập chợ. Nhiều phố xá và chợ búa ở Phan Thiết được xây dựng giai đoạn này.... Cũng như ông Bát Xì và bà Lục Thị Đậu, tiền làm ra từ sản xuất nước mắm bà Hồng Hương đầu tư hết vào nhà cửa, đất đai để bán hoặc cho thuê. Từ năm 1945, trên tuyến đại lộ Trần Hưng Đạo là tuyến đường đường to đẹp nhất đô thị Phan Thiết thời đó, đoạn từ trường Nam Phan Thiết ( nay là trường tiểu học Đức Thắng ) đến bờ sông Cà Ty ( thời đó chưa có cầu Trần Hưng Đạo ) hơn 90% nhà cửa, đất đai dọc tuyến đường này là của bà Hồng Hương. Vị trí ngân hàng Sacombank ngày nay trước đây là phòng ngủ ( khách sạn ) của Hồng Hương. Năm 1973 khi Hiệp định Pari được ký kết bà Hồng Hương cho thuê toàn bộ khách sạn này làm trụ sở của Ủy ban 4 bên. Tòa nhà góc đường Ngô Sĩ Liên - Trần Hưng Đạo cách đó mấy căn cũng thuộc sở hữu của bà. Trong lịch sử hình thành trường trung học Phan Bội Châu, những năm đầu mới thành lập trường cũng thuê lại tòa nhà trên đường Trần Hưng Đạo của bà Hồng Hương để làm trường, về sau trả và người khác thuê để làm trường Tiến Đức, hiện nay vị trí này là trụ sở UBND thành phố Phan Thiết. Đặc biệt, 2 tòa nhà kiến trúc Pháp có mái vòm nằm ở hai bên trụ sở UBND thành phố Phan Thiết được bà Hồng Hương xây dựng từ năm 1954. Có một thời trụ sở chính của hãng nước mắm Hồng Hưng được đặt tại đây. Hai công trình kiến trúc Pháp này hiện còn khá đẹp và được xem như một trong những công trình kiến trúc đẹp nhất đô thị Phan Thiết hiện nay.... Ngoài ra, bà Hồng Hương còn bỏ tiền đầu tư xây dựng hàng trăm căn nhà phố liền kề ở các đường Chu Văn An, Triệu Quang Phục, Ngô Sĩ Liên, Đồng Khánk ( nay là Trần Phú ) để bán hoặc cho thuê.


Với người thân.
Các người con đều được ông bà Hồng Hương truyền nghề và giúp đỡ tạo dựng ra các hãng nước mắm riêng và khá thành công như hãng nước mắm Hồng Sanh của người con gái thứ bảy, hãng Hoa Hương của người con gái thứ ba, cơ sở của người con thứ tám. Người con rể là ông Dương Quang Thiết (nước mắm Hồng Sanh ) trước 1975 là chủ tịch nghiệp đoàn hàm hộ Phan Thiết. Đặc biệt người em gái ruột thứ mười của bà Hồng Hương là bà Trương Thị Mao cũng được bà giúp đỡ mở hãng nước mắm Hồng Xuyên nổi tiếng không kém. Ngoài việc kinh doanh nước mắm bà Hồng Xuyên còn được nhiều người dân Phan Thiết thời ấy biết đến khi có 2 người con trai hy sinh khi tham gia kháng chiến và có người con rể là bác sĩ Lê Văn Phụng làm đến chức thứ trưởng Bộ Y tế sau năm 1975 và là mẹ ruột của sư bà chùa Bình Quang - Phan Thiết. Trong số các người con của bà Hồng Hương có người con trai đầu là ông Nguyễn Văn Sâm tham gia kháng chiến, tập kết ra Bắc sau đó trở vào Nam công tác tại Quân khu 7 với quân hàm đại tá quân đội nhân dân Việt Nam.


Một thời vang bóng.
Năm 1957, ông Nguyễn Văn Cang mất, bà Hồng Hương vẫn tiếp tục điều hành hãng nước mắm Hồng Hương thêm một thời gian rồi giao lại cho vợ chồng người con trai thứ hai là ông Nguyễn Văn Ngọ và bà Lương Nguyệt Quyên. Sau năm 1975, thì vợ chồng người con gái lớn của bà Quyên là bà Nguyễn Thị Ngọc Ngân và ông Phan Gia Tự tiếp tục thừa kế thương hiệu Hồng Hương. Tuy nhiên, điều đáng tiếc là thương hiệu nước mắm Hồng Hương nổi tiếng gần 100 năm giờ đã không còn thuộc sở hữu của gia đình bà Hồng Hương do một bạn hàng ngày xưa của nước mắm Hồng Hương tại Tiền Giang đã nhanh tay đăng ký và đã được Cục Sở hữu công nghiệp cấp chứng nhận độc quyền thương mại năm 1994. Sau năm 1995, gia đình bà Nguyễn Thị Ngọc Ngân có tiếp tục làm nước mắm nhưng phải lấy thương hiệu mới là Ngân Hương và đã chấm dứt nghề nước mắm cách đây vài năm do lớn tuổi và con cái không còn ai theo nghề nữa.
Câu chuyện về bà Hồng Hương giờ vẫn được nhiều người nhắc đến như một tấm gương về một người phụ nữ nghèo khó vươn lên từ nghề nước mắm cổ truyền của địa phương và là người đã góp phần to lớn tạo ra nhiều thương hiệu nước mắm Phan Thiết nổi tiếng khắp cả nước. Cũng chính bà đã kiến tạo và để lại cho đời sau nhiều công trình kiến trúc đẹp, góp phần hình thành một đô thị Phan Thiết giàu đẹp ngày nay.

LÊ HUÂN






Monday, June 29, 2015

Hai Thế Hệ, Một Tấm Lòng

 
Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách. Huống chi chúng mình cũng là người có đôi chút chữ nghĩa Thánh Hiền.
 Cho nên có vài hàng tâm sự.
Thấm thoát mà đã 40 năm, từ khi cha mẹ tay bế tay bồng mang bầy con chạy trốn trước nguy cơ trả thù của những người thắng cuộc. Bây giờ, các bậc cha mẹ này đều ở tuổi trên dưới “cổ lai hy”. Nghĩ lại mà thấy kinh hoàng. Vì so với thời gian “Tôi xa Hà nợi năm lên mười tám khi vừa biết yêu”, rồi 20 năm “Bắc Kỳ Di Cư”, thì thời gian lưu vong xa xứ quá dài. Những 40 năm!.Và họ đã nghĩ đến trách nhiệm của các con trong nối tiếp công việc gia đình, xã hội. 
Di tản tới một môi trường hoàn toàn mới lạ, cha mẹ đã phải vất vả cực nhọc lắm để gây dựng lại cho con cái.
Với tuổi đời trung bình từ 35 tới 40, họ phải bắt đầu lại từ số không với rất nhiều khó khăn. 
Anh ngữ là trở ngại đầu tiên. Chỉ có một số nhỏ có tiếp xúc với nhân viên các quốc gia đồng minh là nói được chút đỉnh tiếng Anh. Còn hầu hết không nói được ngôn ngữ này. Mà không có ngôn ngữ thì rất khó hội nhập vào quốc gia mới. Có nhiều giai thoại rất vui về sự “đàm thoại bằng tay” này. Một lão bà, đi máy bay, mót tiểu, cứ ôm lấy cô chiêu đãi viên hàng không mà la “Rét Run! Rét Run!”. Cô ta không hiểu mô tê ất giáp gì. Nhưng khi bà cụ chỉ tay xuống bụng dưới , nhăn mặt là cô ta biết ý đưa bà cụ vào cầu tiêu...
Kiếm việc là trở ngại kế tiếp. Đa số các bậc làm cha mẹ khi đó là quân cán chính cũ ở Miền Nam, làm việc văn phòng hoặc đánh trận. Cho nên vào Mỹ là không có một nghề nào có thể xin việc được ngay. Ở xứ này, nghề nào cũng cần giấy phép hành nghề. Ngoại trừ nghề rửa chén, lau nhà. Do đó đa số bắt đầu với các công việc tương tự. Để có tiền cấp bách nuôi dưỡng con cái đi học rồi mới nghĩ tới việc học tiếng Anh, học nghề cho mình.
Rồi thích nghi với nếp sống văn hóa Mỹ quốc. 
Văn hóa mình vốn kín đáo, dè dặt, ít nói người Mỹ thì cởi mở, nghĩ sao nói vậy và nói thật nhiều. Họ sẵn sàng tranh luận, phê bình để làm tỏ vấn đề thì ta“ chín bỏ làm mười”, “ai sao tôi vậy”. Nhưng về nhà thì ấm ức, không vui nếu ý kiến của mình bị bác bỏ. 
Họ hướng ngoại, quan tâm tới sự việc chung quanh, còn các cụ ta phần nhiều chỉ nhìn về phía mình, làm một mình.... Vì thế trong những giao tiếp, họ thấy mình quá thụ động và bị hiểu nhầm là bất hợp tác. Cho nên khoảng cách hiểu nhau lại càng xa ra.
Ngay cả với con cái, dân Mỹ cũng có đối xử khác với mình. Họ coi con cái vừa là con vừa là bạn. Đôi bên có sự thảo luận, tìm hiểu rất cởi mở để đi đến hành động.
 Còn khá đông các bậc làm cha mẹ Việt thì vẫn ôm lấy mớ kinh nghiệm hơi xưa của mình mà không chấp nhận lối suy tư, hành động của con trẻ. Các vị vẫn theo tập tục cũ, có nhiều ra lệnh, cưỡng bách mà không có đối thoại, chia xẻ. Các cụ không hiểu, không đánh giá đúng khả năng của con cháu. Và khi gặp sự đối kháng thì các vị lại hờn dỗi, tủi thân, cho là hết quyền lực với con cái...
Và nhiều vất vả khác nữa để vươn lên.
Nhưng chỉ với những kiên nhẫn, cần cù, chung lưng đấu cật với nhau mà các gia đình tỵ nạn Việt đã tạo ra một thế đứng vững vàng trên đất Mỹ. Họ đã có những cơ sở thương mại tương đối thỏa đáng; đã có những việc làm ở hạng trung, không đến nỗi “ chân lấm tay bùn”. Con cái họ đã đạt được nhiều thành tích sáng chói tại học đường. Nhiều cháu đã tham dự vào việc tham mưu, điều hành chính quyền từ liên bang tới địa phương, đại diện dân cử cũng như trong các lãnh vực y tế, khoa học, giáo dục và ngay cả trong quân đội. Và cũng đóng góp nhiều vào sự “dễ thở hơn” cho đồng bào nghèo khó ở quê hương.
Sự thành công của người Việt tỵ nạn đã làm ngạc nhiên không ít cho dân bản xứ. Và đôi khi họ cũng nhìn mình với con mắt ghen tỵ. Và nhiều người đã ví von rằng Nữ Thần Tự Do còn quay lưng về phía châu Á, hướng về trời tây, đón mừng dân da trắng châu Âu cơ mà.
Sau gần 35 năm xa xứ, nhiều bậc làm cha mẹ xưa kia bây giờ cũng đã “ mỏi gối, chùn chân”.Tuổi đời chồng chất. Sức khỏe không còn hùng dũng như xưa. Thị lực giảm, thính giác khi nghe khi không. Bước chân đi đã bắt đầu nghiêng ngả. Vì mấy chục năm chiến tranh, tù đầy hành hạ. Cộng với 40 năm vất vả lập nghiệp từ hai bàn tay trắng.. 
Họ đã nghĩ tới việc bàn giao trách nhiệm cho các con. Trách nhiệm nối dõi tông đường. Trách nhiệm với cộng đồng mình, với đất tạm dung. Và nhất là trách nhiệm với quê hương xứ sở.
Với gia đình, họ kiêu hãnh nhìn bầy con trưởng thành, thịnh vượng, dâu rể, cháu chắt đoàn tụ. Như vậy là họ yên lòng. Chúng có phận của chúng. Vợ chồng già bây giờ “ An hưởng Tuổi Vàng” với nhau. Mọi sự chắc sẽ an lành cho tới ngày ra đi.
Với cộng đồng mình thì còn nhiều điều cần để tâm. 
Làm sao cộng đồng đoàn tụ, nương nhau mà tiến tới, mà hội nhập với dòng chính bản xứ. Tranh đấu cho các quyền lợi y tế xã hội cũng như giáo dục cho nhóm thiểu số mình. Hướng dẫn đồng hương về các quyền lợi cũng như trách nhiệm với đất tạm dung. Quyền của người công dân Hiệp Chủng Quốc, tự do ngôn luận, tự do cư trú, tự do tôn giáo...Những thứ mà đồng bào mình rất thiếu ở quê hương. 
Nhưng mình cũng có những trách nhiệm phải làm. Đóng góp xây dựng, bảo vệ lãnh thổ và quyền lợi Hoa Kỳ, nhiệm vụ bầu cử ( và quyền ứng cử nữa chứ) và các nhiệm vụ khác. Đa số chúng ta đã là người Mỹ gốc Việt rồi mà.
 Rồi bảo vệ văn hóa, truyền thống Việt Nam.
 Mỹ quốc là những trộn lẫn của nhiều văn hóa khác nhau. Các sắc dân khác duy trì văn hóa của họ được thì ta cũng có thể làm được. Nếu chúng ta ngồi lại với nhau. Tương nhượng, khoan dung nhau để đi tới mục đích, dù đường lối có thể khác nhau. “ Mọi con đường đều đưa tới cổ thành La Mã. Hơn nữa, chúng ta còn có cả “ Bốn Ngàn Năm Văn hiến” hỗ trợ cơ mà.
 Đó là trách nhiệm cộng đồng mà thế hệ đi sau có bổn phận phải gánh vác. Với sự khích lệ, góp ý của thế hệ đi trước và với một chút nền móng mà thế hệ này trao lại.
Với quê hương, đất nước thì công việc dường như phức tạp hơn. 
Có người nghĩ là nó hơi ở ngoài tầm tay của chúng ta. Chúng ta đã cố gắng. Chúng ta đã xử dụng rất nhiều nhiệt tâm. Mà kết quả dường như khiêm nhường. Và đã có người trông cậy ở giới trẻ. Giới trẻ trong và ngoài nước.Vì thường thường giới trẻ thực tiễn và cởi mở hơn. Họ có nhiều sáng tạo, hoài bão ước mơ. Họ dám làm, dám thử lửa.
Trong nước, giới trẻ quan tâm tới các nhu cầu canh cải điều hành, phát triển kinh tế, thay đổi giáo dục, bảo vệ lãnh thổ. Họ đang tích cực nhìn ra bên ngoài, để học hỏi, cầu tiến. Như các tiền nhân ta trong phong trào Đông Du thuở trước. Đóng cửa, bế quan tỏa cảng chỉ đưa tới diệt vong, hậu tiến.
Bạn trẻ mình ở nước ngoài thì kiến thức rộng, kỹ thuật cao, sẵn sàng đóng góp tiếp tay với lớp cùng lứa tuổi trong nước. Khi hoàn cảnh thuận tiện. Hy vọng là giữa họ, có một tương quan tốt về tâm tư, ý chí và rất ít tị hiềm, phe đảng.
 Đất nước quê hương là của mọi con dân, dù viễn cư hay tại xứ. Chia nhau công việc hỗ trợ nhau mà làm chứ chẳng nên chuyên chính, tập trung cũng như không theo phương thức của ta là chao đảo, tay sai.
Trong nước cũng như ngoài nước, lớp người sinh trước, thì lần lượt cũng  hai tay buông xuôi. Cũng trao lại bó đuốc cho lớp đến sau. Hy vọng là những bó đuốc được sửa soạn chu đáo và mang nhiều nhiệt tình, tốt ý.
Một điều mừng là lớp trẻ trong ngoài đều sẵn sàng lãnh đuốc. Nhiều người sốt ruột đợi chờ. Họ đã từng tâm sự: “Chúng cháu chỉ đợi các bác, các chú giao cho là chúng cháu sẵn sàng”. 
Và nhiều người lạc quan nghĩ là họ sẽ thành công. 
Để làm đẹp cho quê hương cũng như cộng đồng.

Bác sĩ Nguyễn Ý-Đức

Friday, June 26, 2015

HỒN PHỐ VÀ CHUYỆN BUỒN VỀ BẢO TỒN ĐÔ THỊ PHAN THIẾT


Người Phan Thiết từng tự hào về đô thị Phan Thiết có hàng trăm năm hình thành và phát triển, nhưng cũng có không ít nỗi buồn về chuyện bảo tồn vốn cổ của Phan Thiết hôm nay.


Kỳ 1: BẢO TỒN VỐN CỔ

Hồn phố
Đối với mỗi con người, hình ảnh về nơi chôn nhau cắt rốn, về nơi mình đã sinh ra và lớn lên, hoặc gắn bó với nơi ấy trong một thời gian dài là những gì rất thân thương. Mãi mãi, dù có đi đâu cũng không thể quên được hình ảnh đẹp đẽ ấy. Với cư dân phố thị thì góc phố, con đường, hàng cây, bưu điện, công sở, mái chùa, dòng sông, cây cầu… là những hình ảnh của quê hương, của ký ức, nó tồn tại hiển nhiên trong tình cảm và tâm hồn họ. Cái nhớ nhung đó hình thành là do sự liên kết giữa hình ảnh phố thị, những nét đặc trưng của phố phường với tâm hồn của mỗi con người. Và con người yêu nó thì qua nó nhìn thấy cả chiều sâu ký ức của một vùng đất. Thấy người xưa như đang về với mình, trò chuyện với mình, và nếu không có nó thì người ta cảm thấy mất liên lạc với quá khứ, cô đơn trong hiện tại cho dù đời sống vật chất của họ đủ đầy và hiện đại. Cái làm nên tình yêu đó gọi nôm na là hồn phố. Không có hồn phố thì sẽ không có ký ức, không có lịch sử của một địa danh, vùng đất… Thế nhưng điều gì tạo nên hồn phố?


Theo tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu, một chuyên gia về lĩnh vực khảo cổ, trùng tu và bảo tồn đô thị Việt Nam, “Hồn phố” là khái niệm phi vật thể vì nó là tình cảm, hoài niệm, nhớ nhung… của một người hay một cộng đồng, được nảy sinh và vun đắp trong quá trình sinh sống nơi phố thị. Hồn phố trong mỗi người luôn gắn liền với không gian sống và cụ thể hóa bởi những vật thể quen thuộc hay mang dấu ấn đặc biệt nào đó. Hồn phố là đặc trưng văn hóa tinh thần rất tinh tế và đầy chất lãng mạn của cư dân đô thị, nó tồn tại trong ký ức từng cá nhân, được di truyền và lan tỏa, và rồi nó trở nên vững chắc trong ký ức của cộng đồng. Bởi thế cho nên giữ gìn hồn phố là bảo vệ những gì tốt đẹp trong tâm hồn người đô thị, bảo vệ một lịch sử chung qua những ký ức riêng.


Với cư dân đô thị Phan Thiết, hồn phố của họ là gì? Ai cũng có thể trả lời ngay là những ký ức với những công trình kiến trúc xưa cũ, là cây cầu gỗ thanh thoát bắt qua dòng sông Cà Ty thơ mộng có tháp nước soi bóng, là con đường Lê Hồng Phong, Hải Thượng Lãn Ông rợp bóng cây với những tà áo dài thướt tha giờ tan học,....
Thế nhưng, giờ đây, với nhiều người Phan Thiết xa quê và cả những cư dân đang sinh sống tại Phan Thiết có gì đó như hụt hẫng, thậm chí xa lạ khi chứng kiến hình ảnh đô thị nơi mình đã và đang sống đã không còn giữ được hồn xưa phố cũ. Nhiều công trình kiến trúc xưa gần như đã mất đi để thay vào đó là những tòa nhà bê tông cứng nhắc… giữa không gian không quá rộng.


Thực trạng về bảo tồn đô thị Phan Thiết.
Trung tuần tháng 3 năm 2015, người Phan Thiết đã ngỡ ngàng khi chứng kiến người ta đập bỏ tòa nhà bưu điện trung tâm Phan Thiết xưa có tuổi đời hơn 120 năm tuổi để xây dựng tòa nhà kính 5 tầng. Ban đầu, khi thấy bưu điện thông báo ngưng hoạt động, rào chắn xung quanh, ai cũng nghĩ tòa nhà xưa cổ này sẽ được trùng tu để đẹp đẽ, khang trang hơn. Nhưng chỉ vài tuần sau đó nó đã biến mất trong niềm đau xót của không ít người dân.
Ngược dòng thời gian, từ lúc hình thành đô thị Phan Thiết đến nay, cũng như các đô thị khác ở Việt Nam, tòa bưu điện này cùng với kho bạc, tháp nước, công viên, tòa hành chính tỉnh, trường nữ,.. đã hình thành nên khu trung tâm của đô thị tỉnh lỵ Bình Thuận. Khu vực này với những công trình kiến trúc Pháp sắc nét trong từng họa tiết, hài hòa với cảnh quan đã tạo nên một không gian đô thị đẹp mỹ miều trong mắt cư dân và với cả lữ khách. Đây được xem là khu vực tiêu biểu của Phan Thiết trong ký ức của người dân về thành phố này.


Thế nhưng, đến nay, ngay tại khu vực này, hai tòa nhà kiến trúc Pháp nằm đối xứng nhau đã không còn, thay vào đó sẽ là hai tòa nhà 5 tầng hiện đại phủ kính xung quanh. Ngay cả với người không rành về kiến trúc và mỹ thuật cũng thấy nó không hài hòa có phần lạc lõng giữa không gian kiến trúc của quần thể nhà làm việc tỉnh ủy, tháp nước, công viên, trung tâm hội nghị và UBND tỉnh.. có những đường nét kiến trúc xưa.
Theo các chuyên gia, văn hóa đô thị thường thể hiện đậm đặc ở khu vực trung tâm, được hình thành lâu đời, xây dựng và quy hoạch phục vụ thiết chế hành chính – chính trị - văn hóa của đô thị. Khu vực này tiêu biểu cho “hồn” của đô thị cả về kiến trúc cảnh quan, cả về lối sống và văn hóa. Khu vực cốt lõi này nếu không được bảo tồn, bị phá vỡ về cảnh quan kiến trúc tức là đã phá hủy hồn của đô thị. 


Khu vực trung tâm là thế, mở rộng ra, nhiều công trình kiến trúc cổ rất thân thiết, gần gủi của cư dân Phan Thiết đã và đang dần mất đi trong vòng 15 năm trở lại đây. Tiêu biểu như tòa nhà xưa là trường tiểu học Hoàng Tỷ ( có thời gian là khách sạn Anh Đào ), sau 1975 là bưu điện Phan Thiết, được xây dựng từ thời Pháp thuộc có kiến trúc rất đẹp nằm ở khu vực ngã bãy trước chợ Phan Thiết cũng bị đập bỏ. Bệnh viện Phan Thiết xưa ngay góc Hải Thượng Lãn Ông – Nguyễn Hội cũng bị đập bỏ để xây dựng một trung tâm về phòng bệnh. Mới đây, một tòa nhà trên đường Trần Hưng Đạo được xây dựng từ thời Pháp, xưa thuộc sở hữu của hàm hộ Hồng Hương, từng là trường tiểu học Kiều Đàm, sau 1975 là nhà làm việc của chính quyền địa phương cũng đã bị đập bỏ để xây lại. Đối diện đó là tòa nhà được chính quyền sử dụng làm tòa án từ thời Pháp đến nay, hiện đang đóng cửa và nghe đâu cũng sắp tháo dỡ để xây dựng trụ sở làm việc,...


Ngoài sự mất đi của các công trình kiến trúc do nhà nước quản lý, nhiều biệt thự cổ có tuổi đời hàng trăm năm của người dân cũng bị tháo dở hoặc đang để xuống cấp mà không trùng tu hay bảo tồn vì nhiều lý do.
Theo thống kê của chúng tôi, hiện Phan Thiết còn hơn 20 biệt thự cổ hầu hết của các gia đình hàm hộ nước mắm xưa và nhiều khu phố cổ được xây dựng từ thời Pháp như: Hải Thượng Lãn Ông, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Ngô Quyền, Ngô Sĩ Liên, Chu Văn An, Triệu Quang Phục,... Các biệt thự và các dãy phố cổ này người dân sửa chữa hoặc xây dựng lại không theo một quy định về kiến trúc nào nên tân cổ giao duyên, chẳng có mỹ quan đô thị.
( còn tiếp )
Lê Huân

Thursday, June 25, 2015

Mối tình Maneli

 
I. “Mối tình Maneli” nghĩa là gì?
Mối liên hệ giao thiệp thương thảo bí mật của em trai cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm là ông Ngô Đình Nhu với Cộng Sản Hà Nội nhằm thúc đẩy hai miền Nam- Bắc của Việt Nam né tránh một cuộc xung đột ý thức hệ ngu xuẩn chỉ có lợi cho Trung Quốc được giới tình báo Hoa Kỳ tặng cho một cái tên là “Mối tình Maneli” ( “Maneli affair”)
Trong cuộc thuơng thảo này, Việt Nam Cộng Hòa đồng ý viện trợ kinh tế bao gồm lúa gạo, sản phẩm gia dụng và y tế cho Cộng Sản Hà Nội nếu Cộng Sản Hà Nội đồng ý tuyên bố đứng trung lập, không gia nhập khối Xã Hội Chủ Nghĩa và cùng với Việt Nam Cộng Hòa tham gia liên minh “Các Nước Không Liên Kết” của Ấn Độ. Việt Nam Cộng Hòa cam kết thuơng mại trao đổi với Cộng Sản Bắc Việt và sẽ cố gắng giúp Hà Nội thoát khỏi tình trạng đói kém do đang bị cô lập với thế giới bên ngoài và phải sống bằng viện trợ chu cấp mọi thứ bởi Bắc Kinh để đến nổi buộc lòng phải đi theo đường lối Đấu Tố của Mao Trạch Đông khiến hai trăm ngàn oan mạng bị giết chỉ trong vài năm.
Cộng Sản Hà Nội lưỡng lự trước nước cờ táo bạo này của ông Ngô Đình Nhu vì biết rõ những cam kết mà Việt Nam Cộng Hòa đưa ra rất thật lòng dựa trên sự ổn định phát triển kinh tế của miền Nam Việt Nam trong suốt gần chín năm sau hiệp nghị Geneve 1954.
Khi tình báo Hoa Kỳ liên tục gởi tín hiệu cho Washington biết về “mối tình Maneli” động trời này của hai anh em ông Diệm, Tổng Thống Kennedy vô cùng tức giận vì ông cho rằng, đây là một sự “phản bội tàn nhẫn.” Tòa Bạch Ốc từ đó quyết tâm loại bỏ hai anh em ông Diệm ra khỏi quyền lực bằng mọi giá.
Thế nhưng mười năm sau, nước Mỹ lại áp dụng y chang kế sách của ông Nhu, Henry Kissinger thất hứa với chính phủ Nguyễn Văn Thiệu, đi đêm với Chu Ân Lai làm cho Việt Nam mất quần đảo Hoàng Sa và thất thủ hoàn toàn sau đó; dẫn đến cả triệu thuờng dân Campuchia bị Cộng Sản sát hại, trên hai triệu người Việt bị tan nhà nát cửa và tù tội để có được một hòa bình trong nhục nhã. Đây mới đúng là một sự “phản bội tàn nhẫn” như Tổng Thống Kennedy đã từng thốt lên trước đó.
 
II. Tại sao lại gọi là “mối tình Maneli” ?
Maneli là họ của ông Mieczysław Maneli, một người Ba Lan được cho là sanh vào ngày 22 tháng Giêng năm 1922 tại Miechów và mất vào vào ngày 9 tháng Tư năm 1994 tại New York, Hoa Kỳ. Ông là đại diện cho Ba Lan trong Hội Đồng Giám Sát Hiệp Nghị Geneve 1954 về Việt Nam, có tên tiếng Anh là “the International Commission for Supervision and Control in Vietnam,” gọi tắt là ICC hay ICSC. Hội đồng này gồm ba quốc gia, một thuộc thế giới tự do là Canada, một thuộc khối Cộng Sản là Ba Lan và một thuộc khối Không Liên Kết là Ấn Độ.
Chính phủ Cộng Sản tại Ba Lan hoàn toàn không có chủ định can thiệp sâu rộng vào nội tình chính trị của Việt Nam lúc bấy giờ nhưng vì Hà Nội cần Ba Lan làm cầu nối ngoại giao độc lập khỏi sự kềm tỏa của Trung Quốc để tìm hiểu thêm ý định chiến lược của hai anh em ông Diệm. Cho nên, Maneli chỉ ráng đóng vai trong của một sứ giả, truyền đạt những thông điệp cần thiết từ Hà Nội, từ Moscow đến với hai anh em ông Diệm-Nhu và ngược lại. Tuy nhiên, vòng xóay chính trị giữa Moscow- Hà Nội- Sài Gòn- Ấn Độ – Hoa Kỳ khiến ông Maneli ngày càng bị lôi cuốn sâu vào nội tình Việt Nam.
Hoa Kỳ theo dõi chặt chẽ các chuyến đi ngoại giao của Maneli tới Hà Nội Sài Gòn để biết hiểu rõ thêm ý đồ chiến lược của hai anh em Diệm Nhu. Từ đó , cái tên “mối tình Maneli” (“Maneli Affair”) được hình thành.
Kết cục của “mối tình Maneli” là Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Nhu điều bị giết sau vụ đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963. Người bật đèn xanh cho cuộc đảo chánh dẫn đến cái chết của Tổng Thống Diệm là Tổng Thống Hoa Kỳ, John F. Kennedy, sau đó cũng bị ám sát bí hiểm không đối chứng trong cùng một tháng cùng năm. Tại Hà Nội, phe Lê Duẫn cũng lên thay thế quyền hành của Hồ, của Đồng và Tổng Bí Thư Đảng Liên Xô, Khrushchev, người ủng hộ lập trường Việt Nam trung lập của ông Diệm cũng bị truất phế bởi phe đầu đá Brezhnev ngay vào năm 1964.
Riêng Mieczysław Maneli, ông xin tỵ nạn chính trị tại Hoa Kỳ vào thập niên 1980 và sống tại xứ sở này cho tới ngày ông mất.
 
III. Nội tình của bên trong “mối tình Maneli” :
Không cách gì có thể trình bày hết được chi tiết và cũng không thể nào tóm gọn các chi tiết bên trong của “mối tình Maneli” chỉ qua một bài viết ngắn ngủi vì mỗi chi tiết điều có ý nghĩa vô cùng quan trọng liên quan đến lịch sử bị đát của Việt Nam Cộng Hòa, một quốc gia coi trọng tình tự dân tộc lên trên mọi chủ nghĩa, mọi tôn giáo, dẫn đưa đến tính mạng của gia đình Tổng Thống Ngô Đình Diệm, kể cả tính mạng của Tổng Thống Kennedy, cũng như liên quan đến kế hoạch “phế mã tranh tiên” của Hoa Kỳ làm toàn bộ khối Cộng Sản bị sa lầy trong chiến thắng quân sự mà rồi bị kiệt quệ và chia rẽ dẫn đến sự sụp đổ hoàn toàn tại Âu châu.
Tuy nhiên, một điều quan trọng nhất tạo sửng sốt cho mọi nhân vật có liên quan và khiến không ai có thể ngờ tới được nếu biết rõ tình tiết của “mối tình Maneli” là đích thân Tổng Thống Ngô Đình Diệm cam kết sẽ trục xuất Hoa Kỳ ra khỏi miền Nam Việt Nam ngay lập tức nếu Cộng Sản Bắc Việt chịu bãi binh và cùng đồng ý nắm tay với ông tham gia khối các nước Không Liên Kết do Ấn Độ chủ xướng.
Thái độ dứt khoát né tránh chiến tranh ý thức hệ tạo bởi hai siêu cường Liên Xô- Hoa Kỳ có Trung Quốc tham dự của Tổng thống Diệm làm sửng sốt không những Hà Nội mà ngay đến cả Moscow cũng bàng hoàng.
Moscow toan tính rằng việc trung lập hóa Việt Nam sẽ rất hay vì cùng một lúc xóa bỏ ảnh huởng vô cùng sâu rộng của Cộng Sản Trung Quốc lên Hà Nội và hất Hoa Kỳ ra khỏi Sài Gòn mà không cần súng đạn. Việt Nam từ đó sẽ theo liên minh Ấn Độ vốn có đường lối ngoại giao cởi mở đối với Liên Xô. Từ đó, Liên Xô có thể gián tiếp ảnh huởng lên Việt Nam thông qua Ấn Độ; dù sao, Ấn Đô vẫn đáng tin cậy hơn là Cộng Sản Trung Quốc, theo cách nhìn của Khrushchev, Tổng Bí thư Đảng Cộng Sản Liên Xô lúc bấy giờ.
Riêng về Cộng Sản Hà Nội, mở cửa qua lại kinh tế với Việt Nam Cộng Hòa là một điều không thể được vì cả miền Bắc vẫn còn đang rún sợ Đấu Tố và sẳn sàng ồ ạt bỏ Hồ Chí Minh nếu có thông thương với miền Nam Việt Nam. Cho nên, Cộng sản Hà Nội muốn kéo dài nổ lực trung lập Việt Nam của hai anh em ông Diệm để Hoa Kỳ có thì giờ loại bỏ ông Diệm ra khỏi quyền lực dù biết rằng Moscow ủng hộ đề nghị này. Hơn nữa, Cộng Sản Hà Nội trong đó có cả Hồ Chí Minh không đủ can đảm để qua mặt Bắc Kinh như ông Diệm cương quyết qua mặt Hoa Kỳ. Đối với ông Diệm, quốc gia vẫn là trên hết nhưng đối với Cộng Sản Hà Nội thì chủ nghĩa Mác Lê, thế giới đại đồng quan trọng hơn tương lai quốc gia.
 
IV. Hệ lụy của “mối tình Maneli”:
Sau khi “mối tình Maneli” tan vỡ, dân tộc Việt Nam đã phải đổ máu cho chiến thắng tất yếu của chủ nghĩa cuồng Cộng Sản, của thiên đường mù Xã Hội Chủ Nghĩa. Kết thúc cuộc chiến tranh ý thức hệ phi lý vô nghĩa gây ra bởi Cộng Sản Bắc Việt, dân tộc Việt Nam chẳng còn gì ngoài câu nói đau thuơng của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu : ” ĐỪNG NGHE NHỮNG GÌ CỘNG SẢN NÓI MÀ HÃY NHÌN NHỮNG GÌ CỘNG SẢN LÀM !”
Thông qua “mối tình Maneli”, các sử gia sẽ thấy ngay được tấm lòng yêu nước của hai anh em ông Diêm. Đối với hai ông, “quốc gia là trên hết!” Hai ông đã cố ráng tìm đủ mọi cách để cho đất nước có hòa bình dân chủ và độc lập bất chấp hy sinh tính mạng. Việt Nam sau này sẽ lại quay về với con đường Việt Nam Cộng Hòa mà hai ông đã khởi xướng và nhìn lại hình ảnh của hai ông như là điểm tựa của một niềm tin, đó là tình thần quốc gia Việt Nam Cộng Hòa không bao giờ chết!
© Tú Hoa

Wednesday, June 24, 2015

Tiểu Tử và những Truyện Ngắn của Ông


Họ tên : Võ Hoài Nam
Sanh : 1930
Nguyên quán : Gò Dầu Hạ ( Tây Ninh )
Bút hiệu : Tiểu Tử

- Tốt nghiệp trường Kỹ sư Marseille năm 1955.
- Dạy lý hoá trung học Pétrus Ký : 1955/1956.
- Làm việc cho hãng dầu SHELL Việt Nam từ năm 1956 đến 30/04/1975.
- Vượt biên cuối năm 1978. Ðịnh cư ở Pháp từ đầu năm 1979 đến nay.
- Làm việc cho hãng đường mía của Nhà nước Côte d' Ivoire ( Phi Châu ) :
1979/ 1982.
- Làm việc cho hãng dầu SHELL Côte d' Ivoire từ năm 1982 đến 1991, về hưu ở Pháp.
- Trước 1975, giữ mục biếm văn " Trò Ðời " của nhựt báo Tiến.
- Bắt đầu viết truyện ngắn khi lưu vong qua Côte d'Ivoire.
- Tập truyện " Những Mảnh Vụn " ( Làng Văn Toronto xuất bản ) là tập truyện đầu tay.