Thursday, August 20, 2020

OBAMA - MỘT DỊ TƯỢNG CỦA HOA KỲ

Vợ chồng Obama lên án, tố cáo Tổng thống đương nhiệm Donald Trump là "nguỵ quân tử". Không phải bây giờ vợ chồng Obama mới trâng tráo, trơ trẽn tự lột tuột mặt nạ trong suốt những năm Obama làm TT và cho tới bây giờ, khi đã thoái nhiệm.

Tôi gọi là dị tượng bởi nhìn lại hơn bốn mươi đời TT của Hoa Kỳ, chưa có một ai hành xử quái dị, quái thai, quái gở, quái ác... như Obama và vợ con của ông ta cùng đồng đảng DC. Tôi không có thói quen nghe người này, người kia nói về ông ta, mà luôn nhìn vào lời nói và hành vi để đánh giá.

Nhớ lại năm xưa, tôi tự thấy hổ thẹn, tự cười vào mặt mình khi ông ấy còn đương nhiệm và có chuyến thăm Việt Nam (2016). Vẫn còn đây, rờ rỡ cái khuôn mặt của tôi, cảm xúc của tôi khi hoà vào niềm vui của cả triệu triệu người Việt vẫy cờ, chào đón Obama cưỡi quái thú đi trên đường phố Hà Nội, Sài Gòn... Ánh mắt tôi hân hoan, trau truốt, vuốt ve từng cử chỉ, lời nói, dáng điệu của "ngài" trên chiếc tivi kê giữa căn phòng... Tôi thật sự ngưỡng mộ một TT Hoa Kỳ nói năng uyên bác, khúc triết, lịch lãm... Chao ôi là cảm xúc, là ngưỡng vọng về một đất nước Tự do!

Nhưng sau cái ngày rời khỏi Việt Nam ấy... chuyến phi cơ đưa ông ta đặt chân lên đất Cộng Tàu... Bỗng phong độ của Obama rớt như chứng khoán rớt sàn... Tôi và chúng ta quên làm sao được cái hình ảnh ông ta phải cun cút bước xuống cửa sau của máy bay, cái chân vừa tiếp đất thì đã bị mấy thằng an ninh sân bay gây gổ, làm rớt thêm một lần nữa thể diện quốc gia... Tội nghiệp! Trong khi tôi vẫn còn là "con nai vàng ngơ ngác" (thú thực, khi ấy tôi chả khác gì bọn người ăn theo nói leo bây giờ, mù màu hoàn toàn về Obama, ngưỡng mộ là do adua, do niềm tin trong nước bị khủng hoảng, bơ vơ, hụt hẫng... mà thôi), tôi thấy báo chí Đông Tây đưa tin coi thường, cộng đồng mạng cười nhạo "thần tượng" của tôi... tôi lại càng chẳng hiểu... Cho đến khi ông ấy và gia đình cuốn gói khỏi toà Bạch Cung..., thay vì "rửa tay gác kiếm" vui thú điền viên như bao tiền nhiệm, thì ông ta lại cặp kè ngay với nữ quái Hillary Clinton khuấy đảo nước Mỹ. Ông ta kêu gọi toàn cầu ủng hộ mõ già Hillary tranh cử TT. Ra sức quảng bá cho họ với những lời hứa mượt mà, ngọt ngào và tìm mọi cách chống lại "gã" thương gia Donald Trump... Khi ấy, tôi cũng vẫn khổ đau như "con nai bị chiều đánh lưới". Không hiểu. Không cảm xúc. Không ủng hộ ai. Quan sát, lắng nghe...!

Trải suốt 4 năm, tôi thấy "bên thắng cử" thì miệt mài làm lụng và chống đỡ biết bao khó khăn; "bên thua cử" thì hậm hực, cay cú, bày ra đủ mưu hèn kế bẩn để hãm hại một "chiến binh già", nào cáo buộc chuyện thông đồng với Nga gian lận phiếu bàu, nào nghe lén điện thoại, nào vu cho Trump tội phân biệt chủng tộc, trốn thuế, nào đàn hặc 18 tội... khi Covid Vuhan xảy ra... Thật tệ là khi vụ Folytrol rớt xuống, Obama và đồng đảng Biden, Hillary Clinton... vứt bỏ mặt nạ, té nước theo mưa làm loạn, vùi dập nước Mỹ. Quỳ gối tạ lỗi tên tội phạm, ủng hộ tổ chức Antifa - BML, giật dây chúng xuống đường quấy phá chính quyền Trump; đập phá, cướp bóc tài sản của dân lành; phá nát nhiều công trình công cộng; giật sập các tượng đài văn hoá; ủng hộ cánh tả phe dân chủ, những kẻ theo hệ tư tưởng cộng sản - Mác xít, xây dựng một chính phủ tự do - vô luật pháp, không cảnh sát, đòi cắt giảm nguồn tài chính cho những người hành pháp... Biến nước Mỹ trở thành XHCN - xã hội ăm bám, bất công - kí sinh trên những người làm ăn chân chính...

Không thể tin được, những năm đương nhiệm, Obama đã chẳng có gì để lại ấn tượng, ngược lại, còn làm nhiều điều gây hại cho nước Mỹ. Nhất là để hệ thống gián điệp Trung Cộng giăng mắc dày đặc qua các tổ chức hoạt động trên nước Mỹ và các hẵng điện thoại di động; nền kinh tế của nước Mỹ bị Tàu Cộng lợi dụng, làm suy yếu, người dân Mỹ bị cướp việc làm..., để con quỷ khát tiền, khát máu này ngang nhiên thao túng các tổ chức: Who, tổ chức Nhân quyền và cả Interpol, FBI, xây dựng căn cứ quân sự trái phép trên Biển Đông, vạch ra đường lưỡi bò, độc chiếm..., chống lại các giá trị nhân bản của loài người, nhảy lên tiếm quyền dẫn dắt thế giới.

Hiện OBama đang bị cáo buộc với nhiều tội danh, nguy cơ phải đối mặt với toà nhưng Obama vẫn để cho mụ vợ ra mặt, trâng tráo cáo buộc Donld Trump là "Tổng thống nguỵ quân tử" trong khi, Donald Trump đang đại diện cho Cái Thiện chống lại Cái Ác, tà ác, ác quỷ Trung Cộng - kẻ vẫn đang điên cuồng chống lại loài người. Vậy, Obama có phải là một dị mọ, dị tượng của nước Mỹ hay không?

ST FB 

Wednesday, August 19, 2020

ÐÀ NẴNG CỦA TÔI - Phan Xuân Sinh

 

Từ lâu tôi chờ đợi một người nào đó viết về quê tôi, như Phan Nhự Thức viết về Quảng Ngãi, Nguyễn xuân Hoàng viết về Nha Trang, Trần Doãn Nho viết về Huế. Thế nhưng chẳng có ai làm điều nầy giùm tôi, hoặc có người viết rồi mà tôi chưa được đọc, thôi thì bây giờ tôi viết về Ðà Nẵng của tôi vậy. Thật tình thì Ðà nẵng cũng không có nhiều danh lam thắng cảnh, cũng ít nơi thơ mộng. Người dân chúng tôi nòi văn chương chữ nghĩa cũng ít, nhưng nói ” móc họng” thì nhiều. Danh nhân thì đếm trên đầu ngón tay các ông Thái Phiên, Án Nại.mà những người chính tông Ðà Nẵng cũng ít người biết. Còn ông Phan Châu Trinh, Trần Quý cáp, Nguyễn Duy Hiệu v.v..tiểu sử các ông ai ai cũng biết…
Thường thì Ðà Nẵng-Quảng Nam là một, nó dính liền với nhau cùng một thân một gốc, từ phong tục, tập quán, văn hóa, xã hội và nhất là “cãi lộn” cũng đều y chang như nhau. Trong thời kỳ Pháp thuộc họ chia anh em chúng tôi ra làm hai cho dễ cai trị, nhưng chỉ mỗi một việc là hành chánh còn tất cả chỉ là một. Tôi còn nhớ khi học tiểu học, tôi học trường Hòa Vang, trường nầy thuộc tỉnh Quảng Nam mặc dù tôi là dân Ðà Nẵng, nhà tôi cách trường chừng bảy trăm mét. Họ chấp nhận cho tôi vào học tức là họ xem tôi là thành phần con cháu của Quảng Nam... Nói thế để quý vị các tỉnh khác biết rằng nói đến Ðà Nẵng tức là nói đế? Quảng Nam. Chớ dại thấy mấy ông Quảng Nam ngồi đó mà đụng chạm đến Ðà Nẵng thì quý vị sẽ bị phản ứng ngay lập tức, “cãi” cho tới cùng.
Tôi sinh ra và lớn lên tại làng Nại Hiên Tây thuộc trung tâm của Ðà Nẵng, (Ðà nẵng lúc ấy chỉ có 7 làng tại trung tâm: Bình thuận, Phước Ninh, Nam Dương, Thạch Gián, Thạch Than, Hải Châu, Nại Hiên Tây), ranh giới phía tây là ngã ba Huế, Phía nam là Chợ Mới, đông bắc đều giáp biển. Làng tôi nghèo nhất thị xã, dân chúng phần đông sống bằng nghề khuân vác bến tàu hoặc các kho hàng, một số ít buôn gánh bán bưng. Tôi lớn lên giữa một phố nghèo xơ xác. Có ai đó nói rằng quê hương như vậy thì chẳng có chi là thơ mộng nên làm sao mà viết được. Bây giờ tôi mới hiểu ra được một phần, tôi có quá nhiều điều để viết về quê tôi, từ con người đến con đường, từ mái nhà đến góc phố v.v. trong lòng tôi tất cả đều khác những nơi tôi đã đi qua, nó dễ thương hơn, đẹp đẽ hơn, mật thiết hơn, vì đó là quê hương của tôi. Nó là hiện thân những cái gì trân quý nhất chất chứa trong lòng tôi, “Quê hương mỗi người chỉ một...” câu hát khi còn ở Việt Nam tôi thấy nó rất “sáo” làm sao ấy, thế mà qua Mỹ thỉnh thoảng nghe lại bỗng dưng tôi ray rức, cuống cuồng. Mỗi lần nghe bài nầy là Ðà Nẵng hiện ra trước mắt tôi, giòng sông Hàn đang lững lờ trong đầu tôi, khuôn mặt của những thằng bạn nhỏ chập chờn ẩn hiện. Như vậy mới biết quê hương luôn luôn nằm trong trái tim, luôn luôn chực chờ, phục kích đâu đó sẵn sàng tràn ngập khi có dịp.

Nhà tôi gần Cổ Viện Chàm, những buổi trưa hè oi bức rủ vài thằng bạn vào đây ngồi dưới tượng Chàm mát rượi, chạy trốn cái nóng của gió Lào đang vật vã quê tôi, mỗi lần vào đây tôi thấy trong người lâng lâng, những hình tượng đầu voi, mặt khỉ không làm cho tôi sợ mà tôi lại thấy thân quen. Tôi thường hay ra ngồi những bậc tam cấp dưới những hàng sứ già nhìn ra sông Hàn, những con thuyền buồm trắng qua lại dọc trên sông thật thơ mộng. Hình như khi tôi biết những hình ảnh qua trước mắt tôi “thơ mộng” thì chính lúc đó tôi cũng bắt đầu làm thơ. Những câu thơ “con cóc” đầu tiên ra đời chuyên chở những thứ lãng mạn tưởng tượng. Hồi học lớp nhất đăng được một bài thơ trên báo Tuổi Xanh ở Sài Gòn mang vào lớp khoe với chúng bạn đến tai cô giáo, cô gọi tôi lên đưa tờ báo cho cô xem, cô không cho tôi một lời khen nào mà phán một câu: “Học hành chẳng ra chi mà bày đặt thơ với thẩn”. Cô giáo đã bóp chết tài năng của tôi vừa chớm nở. Từ đấy vì quá mắc cở với bạn bè tôi không dám làm thơ, không làm thơ nhưng học hành cũng chẳng ra chi, thi trượt vào đệ thất trường Phan Châu Trinh, đành phải mài lũng đít quần ở trường Tây Hồ và Sao Mai. Ðây là khoản thời gian đẹp nhất của tôi, để lại cho tôi biết bao kỷ niệm buồn vui nhất trong đời, cái thuở học trò vừa mới lớn, yêu thầm nhớ trộm, mơ mộng viễn vông.
Cũng như những thành phố khác Ðà Nẵng cũng có những con đường dễ thương, tình tứ, một bờ sông nên thơ mà những kẻ yêu nhau để lại ở đó biết bao kỷ niệm. Thuở còn đi học thỉnh thoảng trong lớp thường tổ chức những cuộc picnic bằng xe đạp, từng đoàn học sinh đạp xe lượn vòng trên các con đường đi Sơn Chà, Tiên Sa, Mỹ Thị, Non Nước, Nam Ô, Khuê Trung, Cẩm Lệ những địa danh thân thuộc mà mấy chục năm xa rời Ðà Nẵng tôi vẫn nhớ rành rọt từng gốc cây, con đường, bãi cát. Những quán cà phê Diệp Hải Dung, Cà phê Hạ, cà phê Ngọc Lan, cà phê Thông Tin, mà tôi đã ngồi hàng giờ để nhìn những giọt cà phê rơi xuống đáy ly. Kiosque bên kia đường của cà phê Thông Tin là tiệm bán kính đeo mắt, có một người con gái rất đẹp tên là Ðông, đã làm điêu đứng biết bao thằng học sinh trồng những gốc ”si” tổ bố, hình như lúc ấy tôi cũng ở trong nhóm lóc nhóc nầy. Rồi một ngày nào đó nghe tin Ðông lấy một ông sĩ quan Hải quân và vắng mặt ở tiệm kính bên kia đường, lúc ấy tụi tôi cũng không còn thích thú uống cà phê ở góc đường Thông Tin nữa.
Làm sao tôi quên được những cái tên Trương Thị Ngọc Thật, Lâm Thị Sâm, Phan Thị Sách, Nguyễn Thị Thy, những người một thời đã làm rớm máu trái tim “mới lớn” của tôi, đã nâng tôi lên chín tầng mây rồi nửa chừng thả tôi rơi xuống hố thẳm, cho tôi nếm thử mùi vị ngọt ngào, cay đắng của một thứ tình yêu tưởng chừng như không thật, cho tôi những tháng ngày buồn vui rộn rã, bơm cho tôi no tròn nhưng cũng đâm cho tôi xì hơi xẹp lép và cũng bắt đầu từ đó tôi sợ hãi những người con gái có chút nhan sắc nhưng lại tính toán chi li trong tình yêu, đem tình yêu làm trò tung hứng nô đùa. Ðà Nẵng giết mòn mõi tôi của những ngày mới lớn, đẩy tôi đến tận cùng bờ tuyệt vọng của cuộc đời.. Thế mà với tôi luôn luôn và bao giờ tôi cũng trân quý, thương nhớ đến thành phố nầy. Ngoài trừ bài học đầu tiên về tình yêu còn tất cả nơi đây đã tập và dìu dắt tôi từ bước đi đến lời ăn tiếng nói, từ một tấm lòng dành cho tha nhân đến căn bản đạo đức làm người, nghĩa là Ðà Nẵng là một biểu tượng cao quý nhất chiếm hầu hết những suy nghĩ của tôi.
 
Xa Ðà Nẵng gần 30 năm, mỗi lần gặp ai đó cùng quê nhắc lại hai chữ Ðà Nẵng là tự nhiên lòng tôi quay quắt muốn trở về. Tự nhiên những hình ảnh những người thân của tôi hiện lên. Ba tôi , một thầy giáo hiền hòa, suốt đời tận tụy với nghề nghiệp, suốt đời sống trong bần cùng nhưng trong sạch, người dân làng Nại Hiên quý trọng ông, ước ao của ông cũng bình dị như những người dân nghèo quê tôi là mong cho con cháu nên người, còn cái khổ cực của bản thân ông không đáng kể.
Khi tôi vừa đặt chân đến Mỹ vài tháng thì được nghe tin Ba tôi mất, ông chưa kịp hưởng được những đồng đô-la do tôi gởi về thì ông vội vàng ra đi, sống trong nghèo khổ chết trong thanh bạch. Ba tôi trước đây có một người bạn thân thiết như anh em ruột . Chú đúng là hình ảnh người Quảng Nam chân chính.. Cho đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ hình ảnh của chú, mỗi lần trong quê ra Ðà Nẵng dự đám giỗ kỵ, Chú mang khăn đóng áo dài, đôi guốc mộc bao giờ Chú cũng kẹp nách chứ không mang. Vào đến nhà ngồi trên ghế đàng hoàng, bắt đầu Chú phủi hai bàn chân vào nhau rồi nhè nhẹ đặt chân vào guốc, nếu xỏ mạnh như sợ đôi guốc bị đau. Từ bến xe về nhà tôi cũng xa, trưa nắng như đốt đường cái nóng sôi, thế mà chú Kết của tôi không sợ da chân bị lột, bị bỏng, mà sợ đôi guốc bị mòn. Có lần đến bên Chú hỏi về điều nầy, Chú mộc mạc trả lời, đi chân đất quen rồi mang guốc khó đi, hơn nữa đi xa sợ guốc mau mòn. Ðó là hình ảnh tiết kiệm cố hữu của những người dân quê tôi.
Ba tôi thường ngồi kể cho tôi nghe những chuyện về con người, tập quán, phong cách, ăn uống của người Quảng Nam Ðà Nẵng qua cái nhìn mang chút hài hước của ông. Có lần nhìn chú Kết, ông nói với tôi, các thư sinh Quảng Nam ngày xưa ra Huế đi thi, làm sao mà mang guốc lội bộ qua năm cái đèo, phải đi bằng chân đất như Chú Kết bây giờ vậy, ra đến Huế thì đoàn thư sinh Quảng Nam không giống ai hết, quần thì ống cao ống thấp, áo thì vắt vai, guốc thì kẹp nách, giọng nói rổn rảng khó nghe có phần cộc cằn, đôi lúc “móc họng” người ta. Thế mà các tiểu thư Huế lại chịu cái loại đàn ông nầy, đàn ông thật thà chất phát, ăn cục nói hòn nhưng trong bụng đầy kinh thư chữ nghĩa.  Bằng chứng là năm ông quan đầu triều Nhà Nguyễn được phong” Ngũ Phụng Tề Phi”. Người Quảng đi đâu, ở đâu mỗi lần nhắc nhở về quê hương, họ cũng đều hãnh diện, sướng rân lên với cái xứ sở ” Ngũ Phụng Tề Phi” của họ.
Ðể an ủi cho cái nghèo, cái thiếu ăn, họ cho rằng đất của họ ” nhân tài mọc nhiều quá lúa mọc không nổi”, nên cái chuyện quanh năm không đủ gạo phải ăn độn là chuyện bình thường. Nói đến cái ăn thì quê tôi “kỵ” nhất là đồ ăn có nước nhiều lỏng bỏng mau đói, mì Quảng thì rau phải xắt nhỏ để chứa được nhiều, nước lèo chan vừa đủ thấm. Không có nơi nào ăn mặn bằng dân Quảng Nam, mắm phải mặn cho đở hao. Mít thì thích ăn mít ướt để ăn được nhiều còn mít ráo vài múi thì đã ớn. “Ăn chắc mặc bền” đó là câu thực dụng nhất cho quê tôi. Khi còn ở Sài Gòn tôi có một cơ sở làm ăn nhỏ, thỉnh thoảng cũng làm mì Quảng, bánh đập để đãi công nhân.. Theo thói quen mì chan ít nước giống như ngoài mình, nhưng dân Nam Kỳ ăn như vậy không quen họ phải chan nước cho đầy như bún bò hay phở, còn bánh đập họ không chấp nhận được vì bánh đập trong Nam có thịt bò nướng kẹp vào, bánh tráng bánh ướt trống trơn chấm mắm thì chẳng có chi hấp dẫn. Có một lần về lại Ðà Nẵng các bạn tôi dẫn đi Cẩm Lệ để ăn bánh tráng cuốn thịt heo, khi chấm vào chén mắm cái, tôi mới giật mình vì mắm quá mặn, khẩu vị của tôi không còn thích hợp vì mấy chục năm sống trong Nam tôi quen với mắm nêm có vị lạt hơn, ngọt hơn.

Một lần về thăm Ðà Nẵng, ngồi trước nhà người bạn ở đường Ðộc Lập, một chuyện thật tức cười làm tôi thấy thương và tội nghiệp cho quê tôi.  Ðường Ðộc Lập xưa nay chỉ chạy một chiều, xe đang chạy thuận giòng bỗng dưng có một thanh niên từ đâu chạy ngược chiều và tông vào một xe khác. Hai bên thả xe ra giữa đường to tiếng cãi nhau suýt ấu đả, phải trái gì không biết cứ cãi nhau, đúng ra chỉ một lời xin lỗi thì mọi chuyện đều xong, vì hai xe chẳng thấy hư hại gì, thế mà họ “tiết kiệm” một lời xin lỗi và dùng thoải mái lắm lời cho việc cải vã. Ðúng là xứ Quảng Nam hay cãi của tôi.  Về Sài Gòn kể lại chuyện nầy với anh Tường Linh, bằng cái giọng lý sự rất Quảng Nam của ảnh vừa nói chơi vừa nói thật: ” ông bà của mình ngày xưa tội đồ của Triều đình bị đày vào xứ Quảng Nam, trên đe dưới búa, thấp cổ bé họng, sự uẩn ức lâu ngày đè nén nên khi tràn ra được thì cứ tràn, cãi nhau không cần phải trái trắng đen, miễn sao cho hả được giận. Nên tụi mình có cái “gen” nầy.” Người xứ khác làm sao hiểu được cái “kỳ cục” nầy của người ngoài mình, họ chỉ thấy sự ương ngạnh ngang ngược, câu nói mang hai ba nghĩa mạt sát, thọc gậy, móc họng đối phương. Họ làm sao hiểu được cái bản tính dứt khoát, chịu đựng, chung thủy của mình. Yêu, ghét, bạn, thù phân minh. Hồi còn nhỏ tôi sợ nhất là những ngày giỗ kỵ hay chạp mã, thế nào trong bữa ăn cũng có cãi lộn, cũng to tiếng, cũng nói móc, xỉa xói với nhau, hình như đây là cái tật và đúng dịp để mọi người tự do phát biểu, nói ra được các điều u uất trong lòng cho vơi đi chút tự ái, thua thiệt.
 
Bạn bè của tôi phần đông ở các quận Ðại Lộc, Ðiện Bàn, Duy Xuyên, Hội An nên nhà tôi ở Ðà Nẵng là trung tâm vãng lai của bạn bè. Hạ Ðình Thao, Lê văn Trung, Vũ Ðức Sao Biển, Kiều Uyên, Ngô Thi, Ðỗ Hơn, Nguyễn Thang, Thái Tú Hòa. Ðó là những người khách thường xuyên nhất của tôi khi còn học sinh, chúng tôi có với nhau những kỷ niệm sâu đậm của thuở hàn vi, các “thi hào” nầy dần dần rụng mất sau cái thời Tiểu Thuyết tuần san của ông Nguyễn Thiện Dzai đình bản, chỉ có một hai người còn đeo đuổi nghiệp viết lách như Vũ Ðức Sao Biển, Lê Văn Trung. Cái thời học sinh thật dễ thương, mang nhiều mộng mỵ, thư tình viết tràng giang đại hải không biết mệt, thuốc lá hết điếu nầy sang điếu khác hút không kịp thở.
Ở Sài Gòn nhà tôi sau nầy cũng trở thành nhà khách cho các bạn cũ ở Ðà Nẵng vào và thêm các anh Hà Nguyên Thạch, Ðinh Trầm Ca, Phan Nhự Thức, Uyên Hà.. Tôi có dự đám cưới của anh Phan Nhự Thức hồi còn ở Sài Gòn, ngồi cùng bàn với Anh Chị Hồ Thành Ðức và Bé Ký (nhưng lúc ấy tôi không quen với anh chị và cũng chẳng có ai giới thiệu cho tôi biết). Anh Tường Linh sau 75 cùng làm việc với tôi ở một tổ hợp sản xuất Bột trẻ Em Ðông Phương ở đường Bạch Ðằng Bình Thạnh. Còn anh Ðinh Trầm Ca cùng làm với tôi ở kem đánh răng Mimosa. Ðó là những khuôn mặt văn nghệ của xứ Quảng mà tôi đã quen và thân thiết.

Tôi lập gia đình tại Sài Gòn, vợ tôi là người Bắc, khi quen nhau không biết rằng vợ tôi trước đây sống và lớn lên ở Ðà Nẵng, xuất thân từ Trường Pascal. Khi hai đứa đến hồi “gở không ra” thì tôi mới phát hiện vợ tôi biết quá nhiều về quê tôi, kể vanh vách cho tôi nghe từ con đường góc phố, từ ly chè Ngã Năm đến tô bún bò Bà Ðào, từ bánh bèo chén trường Nam Tiểu Học đến bánh xèo đường Lê Ðình Dương, từ bến đò Hà Thân đến bãi biển Thanh Bình. Và cuối cùng phán cho một câu: “Em sợ cái xứ đó quá rồi chạy vào đây mà cũng không tránh khỏi”, lời trách móc đáng yêu đó tôi nhớ suốt đời.
Con gái Bắc tế nhị, khéo léo bao nhiêu thì con trai Quảng Nam cộc cằn, độc đoán bấy nhiêu, họ kín đáo, thầm lặng bao nhiêu thì mình hoạch toẹch, ồn ào bấy nhiêu. Ôi cái xứ mình tạo ra những con người như thế, quá thẳng thắng, quá cứng rắn, mà cái gì “quá” thì nó cũng căng dễ đứt, không hay. Vừa phải chừng mực thì tốt hơn. Thế nhưng người Quảng thì không chịu thái độ không dứt khoát nầy, chấp nhận tràn đầy chứ không thể lưng chừng. Ðó là một đức tính rất tốt nhưng khi xử thế rất ít thành công. Một lần về thăm lại Ðà Nẵng chở vợ đến nhìn lại ngôi trường Pascal, đứng trước cổng trường vợ chồng tôi xúc động ghê ghớm, không ngờ một ngôi trường đẹp đẽ hiền hòa đã bị tàn phá thô bạo như vậy, thảm cỏ xanh mướt ngày nào bây giờ thành bãi chất cây cối ngổn ngang, những lớp học ngày xưa biến thành chổ sản xuất. Vợ tôi không còn can đảm đứng nhìn thêm, cúi đầu rưng rưng nước mắt...
 
Tới trường Sao Mai đứng ở cổng sau (đường Lê Ðình Dương) nhìn vào, ngôi trường hằng mấy chục năm không được tu bổ, tường rêu phong loang lổ, học sinh ăn mặc lếch tha lếch thếch, thầy cô giáo cũng chẳng hơn gì. Nhớ ngày xưa các thầy của tôi đứng trên bục giảng oai phong biết mấy, quần áo tươm tất, cà vạt hẳn hoi. Làm sao tôi quên được hình ảnh đó của các thầy cô: Trương Thị Thúy, Mai văn Bộ, Hoàng Vinh, Hà Thúc Lễ, Vĩnh Linh, Lâm sĩ Hồng, Hồ Sĩ Hùng, Lê văn Nghĩa, Phạm Xuân Hương, Nguyễn Tàu, Lê Chương, Ðức Cha Lê Văn Ấn, Cha Vũ Như Huỳnh, những người dìu dắt tôi cho tôi những kiến thức để sống với đời, những căn bản đạo đức để sống với người. Bao giờ trong tôi các thầy cũng để lại một sự kính trọng không thể phai nhạt được. Sau một vòng thăm lại các trường cũ trở về, vợ chồng tôi ngậm ngùi đau xót.   Ðà Nẵng của tôi tang thương như vậy sao, tâm trạng vợ chồng tôi lúc ấy giống như Trần Doãn Nho đã viết: ” Tôi đi trên thành phố thân thương mà như đang phiêu du ở vùng đất xa lạ”, hoặc ” Tôi sống giữa quê hương mà như người khách lạ.”. Nơi đó cũng còn lại những người bạn học cùng tôi thuở nào: Liêu, Ký, Bích, Dũng, Quang, Kim Sơn, Hường, Trang , Thùy Dương, Nga,Thư. Mỗi lần có dịp về lại Ðà Nẵng họ tiếp đón tôi như một người thân. Bạn trai, bạn gái trong tiệc rượu nâng ly cụng với nhau chẳng nệ hà, sống lại với nhau những ngày xa cũ.

Tôi ở vùng ngoại ô Boston, Bạn của tôi là mấy ông Quảng Nam rất cực đoan ở cách xa nhau, họ cho tôi là thứ Quảng Nam mất gốc bởi cái tính ba phải cả nể của mình, “thằng mô không phải là chưởi dô mẹt hắn, chớ đừng nhân nhượng ốt dột như rứa”. Chỉ có Trần Trung Ðạo hay bênh vực cho tôi, không có bao nhiêu người mà mỗi lần gặp nhau cãi nhau như mỗ bò. Thế nhưng tuần nào có làm món ăn Quảng Nam là gọi nhau ơi ới, nhà anh Dư Mỹ hay nấu những món đặc sản Quảng Nam và vợ chồng tôi là khách thường xuyên. Nhà anh Nguyễn Ngọc Thanh thì hay sưu tầm các loại mắm Quảng Nam, cho đến bây giờ tôi cũng không biết làm cách nào mang các thứ ấy vào Mỹ, những thứ mắm cái cá nục, cá cơm còn nguyên con đỏ au mùi vị y chang như mắm ở ngoài mình, quý lắm thân thiết lắm như tôi với anh Dư Mỹ mới được xớt một chút ít. Ở quê mình vài con mắm một trái ớt là xong bữa cơm, chẳng cần chi cao lương mỹ vị, quả thật dân mình quá khổ. Ði xa càng thấy nhớ và càng thương cho những con người không thể rời bỏ quê cha đất tổ, mồ mã ông bà. Những con người suốt cả cuộc đời bám chặt với ruộng vườn, không màng đến vật ngon của lạ, khoai sắn là chất độn trường kỳ. Ngồi đây mỗi lần nghe tin bên quê nhà gặp thiên tai bão lụt là lòng tôi thóp lại, cái cảnh màn trời chiếu đất khi còn nhỏ đã chứng kiến tự nhiên hiện lên trước mắt tôi, chỉ còn biết cách cầu trời khẩn phật cho quê tôi sống bình yên. Ðó là điều rất khó bởi lẽ giãi đất Miền Trung nơi chịu nhiều tai họa, chỉ có nhiều hay ít, chứ không thể nào có bình yên thật sự.

Ðà Nẵng của tôi, làm sao tôi trang trải hết được tấm lòng của đứa con xa xôi, nghĩ về quê me.? rên những giòng chữ làm sao tôi mô tả sự dấu yêu, thương cảm, mà tôi đã dành hết cho giãi đất chôn nhau, cắt rốn thân yêu nầy. Chữ nghĩa của tôi cũng hạn hẹp, không đủ, thì làm sao tôi diễn đạt những điều ray rức của nhớ mong trên những trang giấy. Thôi thì, có viết thêm cũng không thể nào viết hết. Ðà Nẵng cho tôi xin cúi đầu từ biệt..
 
Phan Xuân Sinh, Boston

Friday, August 14, 2020

CHUYỆN PHIẾM VỚI MỘT ANH XE ÔM ĐÃ CÓ BẰNG ĐẠI HỌC

Trình độ đại học đi làm xe ôm công nghệ cũng bí
Sưu tầm (Ghi lại câu chuyện của một bác lớn tuổi và một cậu xe ôm công nghệ tốt nghiệp đại học)

Một bác lớn tuổi bực mình với một cậu Grab Biker:

- Sao tao đợi mày ở đây đến 20 phút mà mày cứ nói đến rồi là sao?

- Dạ, cháu tưởng số 2 Đồng Khởi là Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn nên cháu đứng đó đợi...

- Khổ quá... Mày không biết xem số à?

- Cháu có xem, nhưng chỗ Nhà thờ không có số. Cháu nghĩ số 2 là đầu đường nên chờ mãi. Đang tính báo “Hủy” thì bác gọi lại...

- Mày học hành sao mà đầu đường, cuối đường không biết?

- Dạ, cháu có đi học chứ. Cháu mới tốt nghiệp Đại học Luật bác ạ. Nhưng quê ở Tây Ninh. Giờ tốt nghiệp, xin việc hoài không được, phải chạy Grab kiếm cơm. Bác thông cảm . . .

- Thôi được, chạy đi. Tao dạy mày một lần cho biết nhé. Cái đó gọi là Kiến thức phổ thông, nhưng tao biết gần như 100% người Việt ở Việt Nam không biết. Từ xếp lớn đến thằng chạy xe ôm như mày. Vì có học đâu. 100 anh chạy xe ôm đều không biết trừ những anh tao nói thì biết thôi. Nhớ nhé:

Trong một đô thị đã có quy định: Mặc nhiên là số nhỏ luôn tính từ sông lên. Ví dụ: Số 2 đường Đồng Khởi là Cà phê Runam tao đang đứng đây là số nhỏ vì nó giáp sông Sài Gòn. Vậy, chỗ mày chờ lúc nãy là ở Nhà thờ Đức Bà là cuối đường Đồng Khởi. Số lẻ luôn bên tay trái, số chẵn bên tay phải khi mày đứng nhìn từ đầu đường đến cuối đường. Vậy khách Tây nó nói cho xe đến trung tâm Sài Gòn thì mày chạy đi đâu?

- Dạ... Chắc chạy ra Nguyễn Huệ phải không bác?

- Trật lất. Ở một đô thị, trung tâm là nơi có nhà ga xe lửa chính. Rồi nếu không có thì là Bưu điện Trung tâm. Tức là chỗ Nhà thờ Đức Bà vừa nãy đó.

Trước 1975, trung tâm Sài Gòn là Nhà ga xe lửa ở chỗ gần chợ Bến Thành, chứ không phải là Chợ Bến Thành. Sau năm 1980, nhà ga này dời về Hòa Hưng nên trung tâm Sài Gòn hiện nay là Bưu điện trung tâm Sài Gòn.

Đó là các kiến thức phổ thông. Mày biết thì đi đâu ở nước ngoài cũng không sợ bị lạc đường. Nó có những quy tắc phổ quát ở đô thị, trong một xã hội băn minh. Phải được dạy dỗ từ bé. Nhưng người ta không làm. Người ta dạy rất nhiều thứ vô bổ. Người Việt đi nước ngoài khổ lắm. Đi từng đoàn, xem bản đồ không biết, xem la bàn không biết. La hét inh ỏi. Xấu hổ ghê lắm . . .

Trong khi ở các nước khác, trước khi học toán, học lý, họ dạy người ta sống với nhau như thế nào. Gọi là học cách Cư xử, cách Đối nhân xử thế giữa người với người, giữa trẻ với người lớn tuổi. Rồi dạy kỹ năng sống, kỹ năng sinh tồn, nhóm lửa trong điều kiện khó khăn, cách dựng lều, trại, cách bắt cá, cách xử lý thịt sống... Rồi học bơi, học thoát khỏi đám cháy, nhà sập, động đất hay bị bắt cóc... Học cách ứng cứu y tế sơ đẳng... Nhiều lắm... Như trẻ con ở Nhật, từ lớp 1 đến lớp 6 chỉ học như vậy. Và một ít chữ. Toán, Lý, Hóa chỉ sau này mới học. Và nếu có năng khiếu có đam mê mới theo một ngành nào đó và học cấp cao hơn. Nhưng trước đó đứa bé đã biết mọi thứ để tự lo cho cuộc sống của mình.

Tao sang Canada... Người ta dạy lắp điện, sửa ống nước, thoát nước với những điều cơ bản từ trong trường phổ thông. Cái gì lo cho bản thân mình chính là phổ thông. Còn ở Việt Nam không có. Vì vậy, ở Việt Nam làm gì cũng mướn thợ. Ở nước ngoài, người ta ai cũng làm được hết, dù là phụ nữ hay đàn ông, từ điện đến cấp, thoát nước... Chỉ những người muốn công việc chuyên nghiệp và quá bận rộn mới mướn thợ.

Còn ở Việt Nam, rất nhiều đàn ông không biết lắp điện, không biết sửa ống nước. Vì có được học đâu?

Trẻ con Việt Nam yếu về mọi kỹ năng, cái gì cũng không biết. Vì chúng phải bỏ thời giờ để học yêu lãnh tụ, yêu đồng bào. Đó là sự xuẩn ngốc. Vì tình yêu không thể dạy để yêu được. Tình yêu là một tình cảm tự nhiên và lòng yêu nước cũng tự nhiên dù không dạy cũng vậy. Hôm qua, thằng cháu ngoại của tao mới vào lớp vỡ lòng về hỏi: Ngoại ơi, tổ quốc là gì hả ngoại, có phải là tổ con chim quốc không ngoại, sao cô giáo dạy phải yêu? Tao nhức đầu quá, chẳng biết giải thích sao.

Sao không dạy cho bọn nó trước hết yêu ông, bà, cha, mẹ, anh chị, bạn bè, kính trọng thầy cô, người lớn trước khi dạy nó những thứ khác? Đầu óc non trẻ của tụi nó sao kham nổi mấy khái niệm xa lắc xa lơ?

Lớn lên, chúng còn mất thì giờ học Toán cao cấp như Vi phân, Tích phân. Mấy đứa sau này làm ca sỹ, nhân viên bán hàng, cầu thủ đá banh như Công Phượng, Quang Hải hay chạy Grab như mày . . . cần gì những thứ này? Hầu hết đều vứt đi sau khi thi xong, quá lãng phí công sức người dạy lẫn người học. Cái không dùng tới trong đời sống hàng ngày sao gọi được là phổ thông? Nó chỉ nên dạy ở đại học . . .

Còn nhiều thứ vô bổ khác nữa được nhồi nhét vào đầu chúng. Chẳng biết nhằm mục đích gì? Cách dạy cũng vậy, từ cấp nhỏ đến đại học toàn đọc, chép, thầy cô bảo sao nghe vậy, đứa nào có ý khác một tý, cãi một tý thì mắng là hỗn, láo mặc dù mình sai lè lè! Chẳng khác gì biến chúng thành một lũ cừu dễ bảo.

Gíao dục bây giờ thật tệ hại. Cho nên nói cứ nói mà không có mục tiêu nào đạt được. Đại hội Đảng năm 1976, người ta nói đến 1980 cơ bản biến nước ta thành nước Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá. Và giờ đã 43 năm rồi mà vẫn còn xa vời...

Hôm nọ có một gã chức nhớn mới nói: Gíáo dục của ta chưa bao giờ tốt như bây giờ, kể từ thời Vua Hùng đến giờ...

Một cậu bé bán vé số đứng cạnh mới hỏi:

- Có đúng không bác?

Ông bác lớn tuổi tự hào trả lời:

- Đúng chứ cháu. Cháu mới 10 tuổi mà biết sử dụng Ipad, Iphone nhoay nhoáy. Bác chắc là Vua Hùng sống lại cũng không giỏi như cháu đâu. Nên mới nói giáo dục của ta bây giờ hơn thời Vua Hùng nhiều lắm . . 

ST FB

Khuynh hướng tăng thuế của bà Thượng nghị sĩ (TNS) Kamala Harris.

Hôm thứ 3 (Aug 11) TNS Joe Biden đã chọn bà TNS Kamala Harris làm phó tt để ra tranh cử với Tổng Thống Donald Trump và phó Tổng Thống Mike Pence. Việc chọn bà TNS KH không có gì ngạc nhiên vì giới bình luận, báo chí cũng đã đoán gần như 80-90% là TNS Biden sẽ chọn bà vì bà có gốc da đen + Ấn Độ mà cấp này da đen đang là sắc tộc đứng đầu trong khuynh hướng của đảng DC (No lives matter until black lives matter). Thường thì chọn phó tt là chọn lựa dựa trên vùng miền, tuổi tác, khuynh hướng tương đối khác với Tổng Thống .. Nếu Tổng Thống là miền đông thì chọn phó miền tây, miền bắc thì chọn phó là miền nam. Tổng Thống tuổi già thì chọn phó trẻ và ngược lại. Ngoài ra các tiểu bang có đông dân cư (số cử tri đoàn cao) cũng là một yếu tố quan trọng để chọn phó tt ở tiểu bang đó. Thành ra hiện tại khuynh hướng cực tả trong đảng DC càng ngày càng lấn áp thành phần có khuynh hướng ôn hòa hơn cho nên việc chọn bà TNS trẻ (56 tuổi) để cân bằng với TNS Biden 77 tuổi quên trước quên sau, có dấu hiệu lú lẫn cũng là điều dễ đoán.
Điều mà làm tôi chú ý về bà đó là những đề nghị về thuế của bà (source Taxfoundation.org)

Kamala Harris (KH) đòi đổi luật thuế và sau đây là đề nghị của bà
1) 1% những người giàu nhất nước Mỹ sẽ tăng thuế lợi tức lên từ 37% đến 39.6%
2) đánh thuế thêm 4% vào những gia đình có thu nhập trên 100k để lấy tiền cho chương trình bảo hiểm toàn dân (medicare for all).
3) tax credit (the LIFT Act) cho những người có thu nhập thấp và trung bình (cái này còn rất mơ hồ)
4) tăng thuế đầu tư (capital gains tax) cho những đầu tư trên một năm.. Hiện tại thuế của loại này vào khoảng 0%, 15%, hay 20% tùy theo hồ sơ khai thuế.
5) tăng thuế thu nhập của công ty (corporate income tax) từ 21% hiện tại (Tax Cuts and Jobs Act năm 2017) lên trở thành 35%.
6) tăng thuế thừa hưởng tài sản (estate tax) để dùng số tiền này trả thêm quyền lợi cho thầy cô giáo
7) Lập ra loại thuế mới gọi là Financial Transaction Tax (FTT) cho mỗi lần mua bán stock trên thị trường chứng khoán là 0.2% và bán bond (công trái phiếu) là 0.1%.

Điều làm tôi quan tâm đó là thuế corporate income tax .. bà đòi tăng lên 35% (thuế liên bang) + 2% thuế tiểu bang Mỹ trở thành nước có corporate tax cao nhất thế giới.. trong khi chúng ta mong các hãng xưởng quay trở lại Mỹ để cho dân Mỹ có việc làm mà quất thuế kiểu này .. ngu sao về. Rồi gia đình nào có income trên 100k phải đóng thêm 4% cho chương trình bảo hiểm toàn dân … hell NO! .. từ khi cái Obamacare ra đời .. người đi làm phải đóng bảo hiểm cao hơn mà benefit lại ít hơn .. còn những người đóng vai nhà nghèo thì hầu như được miễn phí bảo hiểm sức khỏe.. Một hình thức bóc lột của người lao động chân chính để san sẻ cho những người trốn thuế hoặc làm biếng..
Một trong những slogan của đảng DC là tăng thuế người giàu.. Tôi thì không phải người giàu, nhưng cũng không nghèo nhưng theo tỷ lệ thuế hiện tại tôi thấy người “giàu” đã đóng nhiều hơn người nghèo rồi .. còn đòi tăng thuế họ nữa vậy tiền họ đầu tư ở nước nào đóng thuế ít .. như thế thì làm sao nước Mỹ có job?

Hiện tại tỉ lệ đánh thuế thu nhập/lợi tức của mỗi người đi làm ở Mỹ như sau
1) 10% thu nhập: 0-$9700 (single); 0-$19,400 (cả hai vợ chồng khai thuế chung)
2) 12% thu nhập: $9701 - $39,475 (single); $19,401- $78,950 (cả hai vợ chồng khai thuế chung)
3) 22% thu nhập: $39,746- $84,200 (single); $78,950- $168,400 (cả hai vợ chồng khai thuế chung)
4) 24% thu nhập: $84,201-$160,725 (single); $168,401-$321,450 (cả hai vợ chồng khai thuế chung)
5) ..32%
6)..35%
7) .. 37% thuế cho ai làm trên $510,301 (single) và $612,351 (cho hai vợ chồng khai chung)..
(nguồn IRS)
Như vậy chúng ta thấy tiền thuế lợi tức là người giàu phải đóng nhiều hơn người nghèo. Theo số liệu năm 2016. Thì 1% người giàu nước mỹ (có lợi tức thu nhập trên 500k) đóng 37.3% thuế liên bang, và nhóm người có thu nhập trung bình từ $40,078 trở xuống đóng 3% thuế liên bang.
Rồi hàng loạt thuế bà đề nghị như thuế estate, thuế bán stocks/bonds.. Nói chung “hy sinh đời bố củng cố đời con” đi làm cả đời dành dụm có được căn nhà mà sau này để lại cho con cái .. bả cũng đòi quất thuế trên đó .. thì chắc chỉ muốn dân chúng toàn bộ nghèo cứ ngửa tay xin tiền chính phủ hàng tháng và như thế chúng ta sẽ lệ thuộc vào chính phủ và cứ phải bầu cho họ .. như vậy họ sẽ có một cái nghề ngồi ở quốc hội suốt đời như Nancy Pelosi, Dianne Feinstein, Chuck Schumer .. 40-50+ năm.. Oh No!
(tháng rồi sửa nhà .. đi mua hàng ở lowes và home depot thấy nhiều mặt hàng sản xuất ở Mỹ, những mặt hàng bằng nhựa đơn giản mà cũng đã sản xuất ở Mỹ .. mừng ghê và cái nào không sản xuất ở Mỹ thì mua của VN để ủng hộ cho công nhân bên quê nhà có việc làm).

(fb Buu Che)

Thursday, August 13, 2020

Cà Phê “trị liệu” “Coffee Theraphy” Huy Phương

 Buổi sáng gọi điện thoại lại nhà ông bạn già hỏi thăm, nghe cô con gái trả lời đầu dây là “Ba con đi uống cà phê với bạn chưa về.”
Mỗi lúc có bạn ở các tiểu bang xa về Cali chơi, cũng hẹn gặp nhau ở quán cà phê. Quán cà phê thật có quan trọng trong đời sống của những người tha phương, luống tuổi như chúng ta không?
Quán Cà Phê: “phòng mạch chữa bệnh tâm lý.”
Ðây là những quán cà phê đông khách, phần đông có một chỗ ngoài trời cho người hút thuốc lá, là nơi thường trực, tụ họp của các nhóm bạn bè, 80% đến đây chỉ uống cà phê hay các thức uống khác hơn là tìm chỗ ăn.
Khách của những quán cà phê này không có nhu cầu “rửa mắt” hay “thử thời vận” nên không có tiếp viên ăn mặc hở hang hay máy đánh bạc. Khách đến quán cà phê chỉ là chuyện trò, gặp gỡ. Một trong những quán cà phê loại này ở khu Bolsa là Cà phê Factory trên đường Brookhurst.
Có thể nói đến một nhân vật gần như có mặt thường trực hằng ngày ở Factory là Bác Sĩ Phạm Gia Cổn. Ông là giáo sư về ngành thuốc mê và đau nhức kinh niên tại UCLA về hưu gần hai năm và hiện nay là Chưởng Môn của Khí Công Hoàng Hạc.
Một tuần ba buổi sau giờ dạy Hoàng Hạc, ông có mặt tại đây, bốn ngày khác gần như chỗ hẹn hò với bạn bè xa gần cũng là đây.
Ông nói đùa đây là một phòng mạch của ông: “phòng mạch chữa bệnh tâm lý.”
Theo BS Phạm Gia cổn, chúng ta qua đây, sau chiến tranh, di tản, tù đày ai cũng có những vấn đề tinh thần cần giải tỏa, ngồi lại với nhau, chuyện trò tức là đã tổ chức được một nhóm sinh hoạt liệu pháp tâm lý tập thể “group theraphy.”
Thường thì mỗi quán cà phê có một nhóm người trạc tuổi, cùng nghề hay chung một giới nào đó có nhu cầu tìm đến nhau, nhưng Factory quy tụ đủ mọi lứa tuổi, mọi nghề nghiệp, đặc biệt không như những quán cà phê thường dành cho đàn ông, ở đây chúng ta gặp rất nhiều phụ nữ đi với bạn trai hay bạn bè.
Ðáp câu hỏi vì sao chọn quán cà phê này mà không là nơi khác, ông Phạm Gia Cổn cho biết có lẽ theo thói quen đã nhiều năm, dành cho số người Việt còn có thói quen hút thuốc lá, cần chỗ thoáng ở ngoài trời.
Uống cà phê mỗi sáng, nhưng chuyện cà phê ngon hay không cũng không thành vấn đề, chỗ hẹn hò, gặp gỡ nhau và nhất là không phải vất vả tìm chỗ đậu xe mới là quan trọng.
Cà phê Factory ở Bolsa – nguồn người Việt
“Đấu láo” để giải tỏa ẩn ức tâm lý?
Tuy không phải là chuyên gia tâm lý nhưng Bác Sĩ Phạm Gia Cổn, có chuyên môn về bệnh “đau nhức kinh niên”, một bệnh liên quan đến chứng trầm cảm, nhất là đối với những người lớn tuổi, nên ông đã giải quyết được nhiều trường hợp cho bạn bè tại phòng mạch “hưu trí-ngoài trời” là quán cà-phê.
Ðặt câu hỏi của chúng tôi với Chưởng Môn “Cà Phê Trị Liệu”: “câu chuyện hằng ngày tại bàn cà phê lúc quý vị gặp nhau là gì,” BS Phạm Gia Cổn cho biết đề tài chỉ là chuyện đưa đẩy, có thể nói đây là nơi “đấu láo” hay nói chuyện “bá vơ”cũng được.
Có người than thở chút chuyện gia đình cho nhẹ người, cũng có bạn đưa thông tin về sức khoẻ một người bạn ở xa. Ðề tài có thể là chuyện thời sự, chính trị hay thể thao, lan man từ chuyện này sang chuyện kia, nhưng ông chưa hề thấy ai tọc mạch chuyện nhà người khác hay nói xấu người vắng mặt.
Ðó là câu chuyện của những người tử tế chỉ muốn gặp gỡ nhau để giải tỏa một chút nhàm chán hay phiền muộn trong cuộc sống.
Những bác sĩ tâm lý chữa bệnh thường gợi ý cho bệnh nhân vận dụng trí nhớ, hồi tưởng để nói hết những chuyện vui buồn trong cuộc sống nhất là những chuyện khó khăn đang đè nặng lên tâm lý bệnh nhân, mà đây là lúc, gọi nôm na là “trút bầu tâm sự,” được nói ra cho nhẹ nỗi lòng.
Trong các tờ báo thường có mục “Giải Ðáp Tâm Tình”, “Nỗi Lòng Biết Nói Cùng Ai!” cũng chỉ nhắm mục đích cho độc giả xem tờ báo hay người phụ trách cột báo là người có thể tin tưởng để cho mình giãi bày tâm sự.
Ðược nói ra bằng lời hay bày tỏ trên giấy bằng cách viết nhật ký, làm thơ, viết văn xuôi… là những cách để “giải tỏa… stress,” thì quán cà phê cũng là nơi để trị loại bệnh này. Ai lại không có những ẩn ức về chiến tranh, gia đình hay đời sống hiện tại.
Không chỉ là nơi gặp gỡ nhau để tự chữa bệnh, trong câu chuyện hằng ngày bên ly cà phê hay trong khói thuốc lá với những người bạn cũ hay mới gặp, khách hàng của những buổi quây quần tại quán cà phê có khi được gặp lại những người bạn cũ thất lạc đã trên 50 năm hay chợt nghe về tin tức một người bạn mà mình đang cố tìm kiếm.
Dumont Louisiana
Cà phê Dumond ở Louisiana – nguồn interludetours.com
Ông Phan Văn N., HO. 5, ở thành phố Irvine, mỗi ngày phải thức giấc vào lúc 4:00 sáng để đến sở làm, nhưng cũng dành những sáng Thứ Bảy, Chủ Nhật xuống Bolsa sớm để gặp gỡ bạn bè, uống ly cà phê để cho “đời sống đỡ căng thẳng.”
Trong khi đó, ông cụ Trần Ð., một cựu quân nhân khác, về hưu đã 10 năm nay, ngoài những giờ phải đưa đón các cháu nội ngoại, cũng “tranh thủ” gặp bạn bè ở quán cà phê vì “không có bạn bè, đời sống rất tẻ nhạt.”
Ý kiến của quý bà ra sao?
Bà vợ ông H.O. Ðặng Trần H. cho ý kiến: “Ðối với tôi là đạo trung dung, đàn ông ru rú ở trong nhà cũng không được, lâu lâu phải ra ngoài gặp bạn bè cho đỡ buồn, nhưng đàn ông ngày nào cũng ngồi ở quán cà phê suốt buổi tôi cũng không bằng lòng.
Công việc của người đàn bà trong gia đình không bao giờ hết, người chồng phải biết chia sẻ và thông cảm với người vợ!”
Một “phu nhân” khác: “Cà phê ở những nơi mà ông nói, không phải là cà phê bên Saigon bây giờ, thì đâu có gì đáng sợ. Tôi cũng biết bạn bè của ông ấy toàn là bạn lính, bạn tù, nhưng cũng “một vừa hai phải,” thôi nhé, sa đà suốt ngày là không được với tôi đâu!”
Báo chí đưa tin rằng cà phê làm cho người ta sống lâu, trị được nhiều bệnh, ông Chưởng Môn của Khí Công Hoàng Hạc, lại cho rằng quán cà phê là “phòng mạch chữa bệnh tâm lý.” Ý kiến của bạn đọc ra sao?
Huy Phương

Wednesday, August 12, 2020

Tờ lịch gỡ mỗi ngày

  

Nhà tôi treo một “lốc” lịch to nơi phòng khách. Mỗi sáng thức dậy, tôi gỡ một tờ, quẳng đi… Khi ló tờ mới, tôi xem kỹ câu danh ngôn nếu có, coi đấy như lời dạy dỗ đầu ngày của các bậc tiền bối! Không biết ai sao, riêng tôi thấy tâm đắc việc này lắm!
 
TỜ LỊCH GỠ MỖI NGÀY 
Ví như, sáng thứ hai tuần trước, ngủ dậy, liền đến bóc lịch, tờ mới có ghi câu danh ngôn của Turenne (*): Tôi có ý kiến này muốn tặng bạn: Đó là mỗi khi muốn nói, bạn hãy làm thinh.” Xem câu ấy xong, tôi ngẫm nghĩ… và thấy có lý, hay lắm. Quá hay đi chứ! Lời khuyên răn này rất xác đáng, đã đúc kết một kinh nghiệm quý báu trong cuộc sống đầy những chuyện khôn lường của lòng dạ con người! Và, ngày hôm đó, tôi cẩn ngôn hơn! Tôi chỉ thực hành nửa câu nói ấy mà cũng thấy mình khá rồi! Còn thực hành nguyên câu dĩ nhiên là không nổi! Xin cảm ơn ông hay bà Turenne người nước nào tôi không rõ, đã cho tôi một chút của báu giắt lưng, phòng thân trên đường đời gian truân! Tôi không muốn coi tiếp câu danh ngôn của ngày kế tiếp… Ừ, cứ giữ bí mật để đó, vội gì!

Đến sáng ngày thứ ba, ngủ dậy, tôi lại gỡ lịch, gặp câu nói của Swift: Nổi giận là tự gánh giùm lỗi của người khác! Chí lý! Dại gì mà nổi giận cơ chứ! Quả nhiên, câu ấy tác động nơi từng sâu thẳm tâm hồn. Ngày hôm đó, gặp nhiều việc bực mình, mà tôi đâu có thèm giận! Ngu gì gánh lỗi kẻ khác! Lại phải cảm ơn cái ông Swift hay bà Swift gì đó nữa!…

Rạng đông ngày thứ tư, lại ló tờ lịch ghi câu của Montesquieu: Phải khóc con người lúc sinh ra, chứ đâu phải lúc chết.” Chết rồi, có phải làm gì nữa đâu mà cực với nhọc! Thế thì cũng chả nên khóc lóc mà làm chi! Ừ nhỉ! Lạ thật! Cái chết đột nhiên giảm bộ mặt khủng khiếp trong tâm tưởng tôi, nói chí tình cũng phải có chút ít tác dụng của Montesquieu mới ra thế! Và, ngày hôm đó, tôi có nghị lực hơn, yêu đời hơn! Lại cảm thấy mình cứng cáp lên!

Sang ngày thứ năm, tờ lịch hiện lên câu ngạn ngữ Ba Tư:Lưỡi dài thu ngắn đời sống.” Ôi, quá hay! Dân Ba Tư kinh nghiệm quá dày dặn! Nói lắm chỉ được cái “nguy to”, chỉ được cái “rước hoạ vào thân”! Còn nhớ trong ngày ấy, lúc nhậu cùng bạn bè, vậy mà tôi cũng ráng tịnh khẩu! Cứ sợ sa vào cái “vạ mồm”!

Đến ngày thứ sáu, tờ lịch ghi câu danh ngôn khác, thật cao siêu của Villier de l’Isle Adam: Người nhục mạ bạn, họ chỉ nhục mạ ý nghĩ của họ có về bạn, tức là họ nhục mạ chính họ! Câu này quá đúng, nhưng thực hiện quả là thiên nan, vạn nan! Lên hàng thánh mới làm được! Tâm đắc lắm, nhưng cứ cất yên đấy! Công lực chưa đủ, chờ thời gian nữa hẵng hay!

Sáng ngày thứ bảy, lại ló câu của Cervantes: Ăn to thì di chúc nhỏ.” Úi cha! Cũng có lý quá! Tôi coi tiếp luôn câu Chủ nhật xem sao… Đó là câu của G. Herbert: “Ai cũng có một thằng điên trong ống tay áo.” Trời đất! Lại cũng quá đúng! Những lúc bưng ly bia, cốc rượu chỗ đông người, trong ống tay áo tôi thường rớt ra thằng điên, thậm chí đôi lúc rớt ra hai thằng! Say quá, có khi rớt tới ba thằng!

Ôi chao! Riêng về phần danh ngôn, tờ lịch vậy mà hay! Một lần nữa xin cảm ơn, cảm ơn… tờ lịch gỡ mỗi ngày! Việc gì phải đi thư viện đọc sách cho hao thời gian, cứ lịch đấy mà học mãn đời không hết!…
ST

Nụ cười của cô gái bán cá khô.

Một lần về Phước Hải (Bà Rịa) thăm người bạn cũ, tui ghé qua làng chài định mua ít cá trích tươi về làm món gỏi cá trích cuốn bánh tráng rau sống, chuối chát, còn lại kho rục với mía ăn với bánh mì. Lòng vòng trong làng chài một hồi mà không tìm thấy chổ nào có bán cá trích, tui thả bộ dọc theo bãi biển định đi dạo một chút rồi về, chợt thấy có một dãy giàn tre phơi cá khô. Có một cô gái đang gom những con cá khô trên giàn vào một cái rổ. Nhìn thấy tôi, cô gái nói : “mua cá khô về trộn gỏi xoài nhậu đi anh, cá em phơi tại nhà ngon lắm, không mặn đâu”. Thấy tui hơi lừng khừng, cô nói thêm: “cá này em vừa phơi xong 3 nắng, ăn rất ngọt nờ anh”. Nghe giọng nói ngọt ngào dễ mến của cô gái quê Phước Hải, tui dừng lại ngắm nghía những con cá khô đù trong rổ mà cô vừa lựa vào để bán. Cô gái giải thích thêm :”cá này là của cha em thả lưới ngoài biển, anh mua về nướng lên ăn cơm hoặc xé ra trộn với xoài sống, khế chua, nhậu ngon hết sẩy, anh mua đi, em bán nới cho nờ” (“nới” là bán giá phải chăng, “nờ” là tiếng đệm cuối câu mà người dân Phước Hải hay dùng). Tui hỏi cô có bán cá trích tươi không, cô nói : “mùa này biển chưa có cá trích, may ra tháng tới mới có nờ”.
Thấy cá khô ngon, cộng thêm sự vui vẻ rất có duyên của cô gái, nhứt là gì cũng “nờ” nghe êm tai, tui hỏi giá rồi kêu cô cân 2 ký mà không trả giá. Cô lựa cá bỏ lên cân, đồng hồ chỉ đúng 2 ký, cô bóc thêm 2 con nữa bỏ lên rồi nói : “em thêm cho anh 2 con nữa, 2 ký giác rồi nờ”. Tui móc tiền ra trả, cô nói :”thấy anh mua nhanh nhẹn, em bớt cho anh hai chục mở hàng, dìa ăn ngon mốt nhớ ghé em mua nữa nghen”. Tôi nói cám ơn và hỏi cô cá khô này có để lâu được không, cô dặn :”anh về gói trong giấy sạch rồi bỏ vào ngăn đá, để được 3 tháng, nhớ đừng bỏ trong bọc ni lông nghen”. Cô vừa trả lời vừa cười rất tươi, nụ cười thân thiện rất “marketing” của một người bán hàng, dù tui biết chắc rằng cô chưa bao giờ học qua “kỹ năng giao tiếp bán hàng”.

Nhìn nụ cười của cô rất tươi và dễ mến, tui xin cô chụp tấm hình kỷ niệm, cô liền nói :”chụp đi anh, lâu lắm em chưa được chụp hình nờ, anh nhớ đưa lên mạng để quảng cáo dùm em nhen”. Chụp tấm hình xong, tui đưa cho cô gái xem, rồi cầm bịch cá khô đi về nghe lòng nhẹ nhàng, phơi phới, nghĩ đến món gỏi cá khô mà cô gái vừa giới thiệu.
Mỗi khi nhớ lại nụ cười thân thiện của cô gái bán cá khô ở chợ Phước Hải, tui lại nhớ đến lần ra Hà Nội đi mua trà bắc ở phố hàng Điếu nổi tiếng về trà. Tui hỏi bà bán trà giá bao nhiêu một ký, bả liền lên giọng tenor : “không nhìn thấy giá niêm yết à?”. Nét mặt của bà bán hàng khinh khỉnh, không chút thiện cảm. Nghe xong tui hết muốn mua, nhưng bỏ đi sợ bị ...đốt phong long xui xẻo, nên mua đại 1 ký. Cầm gói trà ra về, tui nghe có chút ấm ức trong lòng, tự nhủ sẽ không bao giờ mua trà bắc ở Hà Nội nữa. Không phải là trà không ngon, mà là thái độ của người bán trà không thiện cảm, nếu không nói là thiếu lịch sự. Tui chợt nghĩ, cái thời còn bán hàng “mậu dịch quốc doanh”, đi mua như đi xin, chắc bà này không thèm trả lời khách luôn.

Nói thiệt, nhiều khi mình mua một món đồ mắc hơn một chút, nhưng có được nụ cười thân thiện của người bán, vẫn khoái hơn là mua được món đồ rẻ mà bị nghe giọng tenor của người bán.
Chỉ là một ký trà bắc và hai ký cá khô, nhưng đã để lại trong tui 2 ấn tượng khác nhau : hình ảnh một cô gái bán cá khô ở miền quê Phước Hải thật vui vẻ, nhã nhặn, thân thiện và hình ảnh một bà bán trà bắc ở thủ đô thiếu thiện cảm.

Quân Nguyễn FB 

Truyện ngắn: Giường lúc rộng lúc chật - Vũ Thị Huyền Trang

TTO - Nhà hai tầng, rộng thênh thang, nằm chỗ nào cũng được nhưng chỉ có một cái giường. Giường dạng phản, kích cỡ 2mx2m2, bằng gỗ mít.

Bạt thuê đóng lúc làm nhà với cái giá năm triệu rưỡi. Chẳng biết thợ đóng thang giường kiểu gì mà kêu cót két suốt. Đã mấy lần Bạt hì hụi dỡ ra sửa lại, hết cưa đến đục mà chẳng cải thiện gì. Thỉnh thoảng giường vẫn kêu cót két...

Mùa đông thì trải thêm đệm, mùa hè sẵn phản cứ thế nằm lăn lóc. Lúc đầu chỉ có hai vợ chồng, rõ ràng giường rộng mà không hề thấy rộng. Vì vợ chồng mới cưới lúc nào cũng quấn chặt lấy nhau, đâu để ý đến phía giường thừa. Rồi Viên bầu đứa con đầu lòng. Bụng to, giường chật thêm một chút. 

Con ra đời, chỗ nằm của một đứa trẻ nhiều hơn hai người lớn cộng lại. Lúc bé đặt con nằm riêng ra một góc. Con lớn, nó chen vào nằm giữa, đẩy hai người lớn về hai phía thành giường. Rồi đứa thứ hai ra đời, bố mẹ càng nằm xa nhau hơn. Chiếc giường không nở ra nên ngủ ngoan thì vừa mà ngủ hư thì chật. 

Ấy là nói cái dáng nằm xiên xẹo của đứa con gái lớn. Đầu trên ngực bố, hai chân vắt ngang cổ mẹ. Có khi đầu lộn xuống cuối giường, hai chân dạng ra đạp bụm bụp vào người nằm cạnh.

Đêm nào cũng vậy, mười hai giờ đêm tụi nhỏ vẫn chưa chịu ngủ. Bạt bực lắm vì chúng chưa ngủ thì bố mẹ cũng đừng hòng yên thân. Đứa con gái lớn đang tuổi nghịch ngợm, tay chân chẳng để yên lúc nào. 

Nó nhảy nhồm nhồm lên người bố, bắt làm trâu làm ngựa. Nó vò tóc, bứt tai, bịt mũi, cù li cho đến khi Bạt cáu ầm lên mới chịu buông. Bạt là công nhân, đi làm ca kíp. Nhiều hôm làm ca chiều hơn mười một giờ đêm mới về đến nhà, sáng hôm sau sáu giờ đã phải dậy đi làm, thời gian ngủ nghỉ chẳng còn được là bao. 

Có hôm muốn gần gũi vợ, Bạt nằm chờ con ngủ, ai ngờ lúc mở mắt ra đã thấy trời sáng tỏ, chuông báo thức reo vang.

Dạo này Bạt thường trốn con sang phòng bên cạnh nằm. Trải đệm ra đất vậy là có chỗ nằm rộng rãi, thảnh thơi chẳng sợ bị con nhỏ quấy rầy. Bạt nằm xem phim, lướt Facebook, chát nhóm Zalo trò chuyện với bạn bè chán chê mới mò sang giường nằm. 

Lúc ấy mấy mẹ con Viên vừa vật lộn nhau xong. Đứa lớn đã ngủ. Đứa nhỏ cũng đã buông ti mẹ ngủ say, trên má còn đọng giọt sữa non thơm tho. Viên mệt quá ngủ tự lúc nào, áo vẫn vén cao lộ bầu ngực căng tròn. 

Đàn bà chăm con mọn giấc ngủ vụn vằn. Đã vậy dạo này Viên hay mất ngủ. Chỉ cần con ọ ọe đòi bú là Viên tỉnh giấc, thức luôn đến sáng. Ấy vậy mà Bạt chẳng ý tứ gì. Thích lúc nào là mò sang chỗ vợ. Chẳng cần biết Viên mệt mỏi thế nào sau một ngày dài. Giường cọt kẹt kêu lên, Viên tỉnh giấc nhìn chồng ngán ngẩm. 

Bạt tắt bóng đèn ngủ, lần tìm cơ thể vợ. Có hôm Viên hất tay chồng, nằm quay lại ôm con. Bạt nằm vật ra giường, lăn lộn bực dọc một hồi với những tiếng thở dài nặng như chì. Ngày hôm sau, Bạt chẳng động tay động chân đến bất cứ công việc nào trong nhà. Cũng chẳng thèm đoái hoài đến con, dù cho tiếng "bố ơi, bố à" nghe tội nghiệp.

Để yên cửa yên nhà, Viên cố gắng chiều chuộng theo ý của chồng. Mặc cho những giọt nước mắt mặn chát lăn dài trên má, trời tối quá chắc Bạt không nhìn thấy. Khuôn mặt vợ vốn là nơi Bạt không bao giờ chạm tới. 

Sau khi rời khỏi cơ thể vợ, Bạt ngủ ngáy khò khò. Hai đứa nhỏ đêm ngủ đều tìm hơi mẹ nên chỗ nằm của Viên cứ chật hẹp dần. Có những đêm Viên phải nằm nghiêng bởi xoay thế nào cũng va phải tay con bé nhỏ. 

Viên mở mắt nhìn bức tường trắng toát, đếm từng chuyến tàu hỏa chạy qua nhà. Con thạch sùng thỉnh thoảng lại tặc lưỡi não nề. Chắc là giường chật quá nên Viên thấy ngột ngạt. Cũng có thể là giường rộng quá nên Viên thấy cô đơn...

Một phần ba quãng đời của chúng ta sống trên giường. Chiếc giường là nơi bắt đầu cũng là nơi kết thúc của đời người. Chiếc giường bằng gỗ mít kích cỡ 2mx2m2 mà Bạt thuê đóng lúc làm nhà có thể là chiếc giường cuối cùng của đời Viên, sau khi đã từng nằm trên rất nhiều chiếc giường khác nhau trong cuộc đời nay đây mai đó. 

Ngày bé, nhà dột nát, giường ọp ẹp chứa cả gia đình. Đó là chiếc giường ông ngoại cho lúc bố mẹ ra khai hoang làm nhà ở riêng. Nó đã cũ, kích cỡ 1m6x2m. Nó không chỉ là chỗ ngủ mà còn là cái kho chất đồ. Nhà chật quá mà, mẹ chất lên đó mấy bao tải quần áo, chăn màn mùa đông, có khi cả sắn đã khô hay mấy túm ngô đang phơi dở. 

Vậy mà ba đứa con lần lượt ra đời. Năm người nằm cùng nhau, trải qua những giấc mơ đẹp đẽ. Ngày mưa, nhà dột tứ tung, chỗ khô nhất trên giường bố mẹ nhường các con nằm ngủ. Đó là chiếc giường vừa vặn, ấm cúng nhất đời người. 

Sau này Viên sống trên những chiếc giường trong cuộc đời ở trọ. Ăn trên giường. Ngủ trên giường. Làm việc trên giường. Đêm ngủ một mình tha hồ lăn lóc. Viên cứ nghĩ đó là chiếc giường rộng nhất.

Dạo này Viên rất hay nằm mơ thấy mình trẻ lại, được theo đuổi, được yêu thương. Nhưng giấc mơ dù đẹp đẽ thế nào rồi cũng phải tỉnh lại. Như lúc nghe tiếng con ọ ọe khóc đòi ti, Viên mở mắt ra đã thấy Bạt chồm qua người mình để vỗ vào lưng con nhè nhẹ...

Vũ Thị Huyền Trang

DÒNG THỜI GIAN - Lê Cẩm Tú

Thời gian mãi âm thầm trôi đi không bao giờ trở lại, và cũng chẳng dừng lại chờ ai, nó cứ theo những làn sóng sáng và tối của ngày và đêm trên trái đất quay đúng một vòng quanh mặt trời để làm tròn một năm, rồi tiếp tục qua vòng khác để thêm tuổi cho mọi người. Ngày nay người ta sống vội vã, vùi đầu vào công việc, họ dùng hai chữ thời gian hầu như hằng ngày, “phí thời gian”, “mất thời gian”, “hết thời gian”… cho đến một ngày nào đó khi có dịp nhìn lại những tấm hình trong cuốn album cũ, tôi mới thật sự cảm nhận được ý nghĩa của nó và thốt lên: “Ôi thời gian.”

Ngày ấy đã ba mươi năm rồi, hồi mới qua Toronto được vài tháng, tôi ở nhà làm babysit lo nấu nướng chùi dọn, được ăn uống đầy đủ, ít dầm sương dãi nắng nên trắng da dài tóc, người trẻ trung. Vào một ngày thứ Bảy đẹp trời, người bà con của tôi chở tôi đến mall để mua sắm ít áo quần. Lúc ngang qua tiệm chụp hình thấy có bảng đề “promotion $10”, tôi bảo người nhà cho tôi vào chụp một tấm để gởi về cho ba mẹ tôi vui. Sau một tuần đến lấy hình, tôi đứng ngắm nghía hai tấm hình trên tay rồi nói với ông phó nhòm tôi cười có dấu chân chim thấy già quá, tôi xin ông cho tôi chụp lại một pô khác thật chính diện để che dấu chân chim trên hình. Ông bảo chụp lại hôm nay giá ba chục đô. Tôi năn nỉ ông cho tôi giá mười đô như tuần trước. Ông nhất định không chịu, tôi làm eo bảo vậy thì tôi chẳng muốn đem hình về. Ông phó nhòm là một người lớn tuổi, đứng nhìn tôi như một con nhà quê lên tỉnh đi chụp hình mà trả giá. Ông mỉm cười bảo: “Lấy hình về đi, năm năm sau cô sẽ thấy đẹp, chứ để lại tôi cũng dzụt đi thôi.” Thế là tôi miễn cuỡng cầm hai tấm hình về cất kỹ vào trong thùng đồ cũ dưới basement, và chẳng bao giờ có cơ hội coi lại.

Cho tới cách đây mấy hôm, khi lệnh giới nghiêm của Covid chưa gỡ bỏ, tôi ở nhà tìm việc làm cho qua ngày tháng. Lúc tôi xuống lục những thùng đồ cũ để vất bỏ bớt, thì gặp phải hai tấm hình đó và những cuốn album bị lãng quên một thời gian dài khi digital camera đã thay thế những tấm hình trên giấy. Tôi cầm tấm hình mỉm cười, rồi tự nói một mình: “Hồi đó mình trẻ thiệt”, mà trẻ thì thường đi đôi với đẹp, hèn gì ông phó nhòm bảo mình đem mấy tấm hình về cũng phải.

Tôi kéo cái ghế bên cạnh ngồi xuống chậm rãi coi lại mấy tấm hình trong cuốn album cũ, lòng bàng hoàng nhớ lại những tháng năm đầu tiên trên quê hương mới. Thời gian đã xây dựng cho tôi một quá trình sống với bao nhiêu kỷ niệm vui buồn, những khó khăn trải qua, và những thành quả gặt hái. Hình ảnh của cô gái ngây thơ năm nào giờ đây là một grandma với mái tóc bạc, da chùng, nhưng sao tôi chẳng thấy buồn chút nào, có lẽ thời gian đã bù lại cho tôi nhiều thứ quí giá hơn, kinh nghiệm, hiểu biết và khôn ngoan. Nếu có bà tiên nào đó xuất hiện hỏi tôi có muốn đổi lại tôi bây gìờ để lấy tôi ngày xưa không, tôi sẽ lắc đầu lia lịa nói với bà rằng: “Không”! Tội gì đổi một thùng gạo đầy để lấy thùng gạo rỗng mặc dù là cái thùng có mới hơn. Một ngày nào đó những gì trong tôi sẽ phai mờ và ra đi; tôi sẽ không nuối tiếc gì vì tôi đã sống hết mình trong từng khoảnh khắc của thời gian qua bao thăng trầm của cuộc đời.

Ai đó đã có những mối tình tan vỡ, đã mất đi người thương yêu nhất trong đời, đã bị sự lừa lọc dối trá cướp đi phẩm chất của con người, tưởng chừng không vực dậy nỗi, vậy mà chỉ cần vài ba tháng là họ có thể đứng lên với cuộc sống đang đợi chờ phía trước. Tất cả đều nhờ đến thời gian, nó giúp ta quên đi những đau buồn để tiếp tục vững bước. Một hôm bà hàng xóm hốt hoảng gọi tôi vì con gái mười sáu tuổi của bà bị thằng bạn trai đầu tiên tuyên bố “break up”, cô bé nằm lì trong phòng bỏ ăn hai ngày liền khiến bà lo sợ. Tôi bảo bà bỏ bên cạnh giường nó vài lon pop, rồi canh chừng chờ nó tự đứng dậy. Sáng hôm sau cô bé thức dậy sửa soạn đi học lại. Khoảng một tháng sau bà gặp nó ngoài đường dung dăng dung dẻ với một thằng bạn trai khác. Bà gọi tôi bảo bà mừng quá. Tôi nói với bà chỉ cho nó ít thời gian thì nó tự lành chứ chẳng có thuốc gì chữa được bệnh tương tư.

Thời gian là vàng bạc. Trong thành phố tôi ở mọi người đều cần nhiều tiền, và có nhiều người rất mê tiền nên chẳng có thời gian. Họ dùng gần hết thời gian để đổi ra tiền, rồi dùng tiền để đẻ ra tiền nên mấy khi họ có được thời gian cho bạn bè, và người thân. Có những nghề nghiệp hoặc business mỗi giờ có thể kiếm vài trăm tới vài ngàn đô thì làm sao họ có thể bỏ tiền để lấy thời gian. Tôi không lạ gì những gia đình cha mẹ bận rộn kiếm tiền, thuê người giữ con từ sáng tới tối cho tới khi các con đã lên giường, những đứa trẻ lớn lên không tình thương nhiều khi trở nên vô tâm, vô tình, rồi cha mẹ lại ngồi than thở tại sao. Có những người khác không có cơ hội kiếm tiền nên dư thời gian, họ rất rộng lượng với thời gian, làm gì cũng từ tốn không hối hả, họ rất kiên nhẫn chờ đợi khi phải sắp hàng dù cho hàng có dài bao nhiêu, người ta gọi là sống chậm. Mấy năm sau nầy tôi nghe người ta hay khuyên nên sống chậm để tốt cho sức khỏe tinh thần và thể lực, như vậy thì chỉ có những người hưu trí hoặc những người không cần phải làm việc mới có thể thực hiện được, chứ khi người ta đã bỏ chân vòng quay của công việc thì làm gì có thời gian để sống chậm!

Mỗi năm đi qua thì mọi người già trẻ đều được thêm một tuổi, không thiếu không thừa, không lấy đi bỏ lại, không mua không bán với thời gian, thời gian rất công bằng với mọi người. Tôi có đọc đâu đó nghe thủ tướng Lý Quang Diệu ở Singapore nói với những người trẻ rằng bán cho ông một năm của tuổi trẻ để đổi lấy một triệu đô xanh; hồi đó triệu đô US chắc lớn lắm. Tôi hiểu ý ông là thời gian của tuổi trẻ rất quý giá, là năng lượng để khởi nghiệp và làm việc, già không còn nhiệt huyết nữa nên đừng để phí thời gian của tuổi trẻ, đừng để nó trôi qua vô nghĩa, vì thời gian chỉ đi một chiều. Tôi của hôm nay khác với tôi của hôm qua. Trên thị trường thì cái deal của giờ này khác với deal của giờ kế tiếp. Có nhiều người hay than thở giá gì thời gian trở lại cho tôi làm lại từ đầu tôi sẽ làm tốt hơn, nhưng cái đẹp của cuộc sống là không hoàn hảo nên thời gian chẳng bao giờ quay lại. Tuổi tác không dùng để đánh giá con người như ngày xưa ông bà ta thường nói “sống lâu ra lão làng”, mà những đóng góp của họ trong cộng đồng mới đáng kể. Mỗi sinh mạng đều có giá trị riêng của họ, không cần thời gian để làm nên sự nghiệp, có người mới hai mươi, ba mươi đã cống hiến nhiều thứ cho xã hội, có người bảy mươi vẫn chưa làm gì cho cộng đồng nhưng có thể họ là một người cha hoặc người mẹ tốt trong gia đình.

Thời gian đã quan trọng như vậy mà bỏ chữ “gian”, để lấy chữ “thời” thì còn quan trọng hơn nữa. Nào là “kịp thời”, “lỡ thời” “gặp thời” “đúng thời,” “hợp thời” “hết thời”… nó nói lên thời điểm để người ta gặp dịp may hoặc phận rủi khi làm một việc gì. Ra làm ăn mà gặp thời thì lên như diều, con gái con trai không lấy được chồng được vợ dưới bốn mươi tuổi gọi là lỡ thời, thoát khỏi một tai nạn gọi là kịp thời, toàn những việc lớn trong đời đều cần đến chữ thời. Để chữ thời đi qua không nắm bắt được gọi là lỡ vận. Gần hai mươi năm trước, cô bạn cùng sở và tôi đều tìm nhà để mua, tôi có thể làm quyết định một mình nên sau hai tháng tìm kiếm tôi đã mua được nhà, còn cô ta có ông partner, ông này và cô mỗi người có một đứa con trai riêng mới vào tuổi teen, họ muốn mua nhà cho con họ có sân chơi bóng rổ và không gian rộng rãi để sinh hoạt cho gia đình bốn người. Người địa ốc dẫn họ đi xem cả chục cái nhà trong vòng hai năm, cái nào ông cũng chê, nào là sân sau hẹp, kiểu nhà xấu, địa điểm không tốt… và giá nhà càng lúc càng tăng vuợt khỏi số tiền của hai người có thể mua được, họ không ngờ giá nhà tăng quá nhanh chóng, họ ngồi chờ giá nhà xuống lại để mua nhưng điều ấy chưa xảy ra ở Toronto thì hai đứa con của họ bắt đầu lên đại học phải xa nhà. Con trai của ông trước khi đi xa đã cay đắng nói với ông rằng ba không phải mua nhà nữa vì ba không còn chơi bóng được và con trai của cô bạn thì chua chát bảo mẹ không phải mua nhà vì nhà rộng mẹ không còn sức để chùi. Thế là cả hai người đã lỡ vận, tìm đâu ra những năm tháng đầm ấm bên nhau cùng với con cái dưới một mái nhà. Cô bạn than với tôi chữ thời quá quí giá mà cô đã để lỡ.

Những lúc đi bộ thể dục trong công viên, tôi thường gặp một phụ nữ trẻ, tuổi cỡ bốn mươi hay mỉm cười với tôi. Cô mặc đồ thể dục và chạy chứ không đi tà tà như tôi. Vào một ngày đẹp trời của mùa thu năm ngoái, tôi đứng nhìn những chậu cây dưới giàn hoa, cô cũng vừa bước tới nghỉ mệt ở đó, cô vui vẻ làm quen bằng câu hỏi “Bà có muốn tôi chụp cho bà một tấm hình với mấy chậu hoa đó không?”, tôi rút phone đưa cho cô, click click… xong cô và tôi đều ngồi nghỉ chân ở hai đầu ghế đá, cô lấy phone ra nói chuyện với chồng một chút rồi tắt phone xoay qua tôi với nụ cười chưa tắt hẳn, cô ngồi hỏi han tâm sự với tôi, nét mặt cô vui tươi. Cô bảo cô may mắn gặp được người chồng tốt nên mới có thời gian để tập thể dục và tự chăm sóc mình. Cô làm công việc giảng dạy trong trường Đại học của thành phố, hồi mới ra trường cô kết hôn với một đồng nghiệp trong tám năm liền, nhiều lần cô muốn sinh con nhưng không được, cả hai đều cảm thấy cuộc sống hôn nhân lạnh nhạt và buồn tẻ vì họ đều bận rộn với nghề nghiệp nên đã thuận tình ly hôn và cô được giữ căn nhà chung. Cô thuê anh thợ mộc đến nhà sửa mấy cái kệ tủ, và đóng bàn ghế cho hợp trong nhà. Vài tuần sau hai người đã yêu nhau mặc dù cha mẹ cô chẳng hài lòng. Trong vòng năm năm cô đã sinh hạ được ba đứa con 5, 3, và 1 tuổi. Cô nói lúc ly hôn xong cô ta đã ba sáu và nghĩ là mình rất khó tìm được người thương. Vậy mà cô đã chớp ngay anh chàng carpenter tốt bụng và nhanh chóng có những đứa con với chàng. Chàng chịu làm house husband lo con cái và việc nhà để nàng có thì giờ theo đuổi nghề nghiệp của mình. Chàng đã làm tốt công tác dân vận lôi kéo hai bà mẹ đến giúp đỡ nuôi cháu. Thế là cô đã nắm bắt được chữ thời, đàn bà con gái có một thời để yêu, để thu hút người khác giới, chứ ba sáu rồi mà còn kén chọn thì lúc nào mới gặp được người yêu, dễ gì có ông nào chịu làm house husband, rồi cuộc sống hôn nhân lại trở về con đường cũ. Tôi nghe cô kể xong cười ha hả và nói lời chúc mừng ngay với cô bạn.

Thời gian cứ mãi trôi đi có bao giờ trở lại, vậy thì đừng hẹn đến ngày mai. Ngày mai sẽ có việc của ngày mai, gặp cảnh gặp người giúp được thì giúp, đừng chần chờ đến một cơ hội khác vì có thể cơ hội khác không bao giờ đến nữa, mà có đến thì không như hôm nay. Một lần tôi có dịp chuyện trò với một cô giáo ở Ottawa, cô kể hồi đó trước năm hai ngàn cô cùng chồng theo phái đoàn đi dự hội nghị ở VN, trong lúc một số người vào phòng họp thì một số người khác cùng cô ngồi chờ trên xe van đậu ở lề đường. Bỗng cô thấy một thương phế binh đi ngang qua, cô xuống xe tặng người TPB mười đô, ông TPB đi vào trong xóm khoe với những ông bạn TPB khác rồi họ rủ nhau ra xem người đẹp, đẹp cả mặt lẫn lòng. Cô lại bước xuống xe tặng mỗi người một tờ giấy bạc khác cho đến khi túi cô trống rỗng, mặc dù những người trên xe ngăn cản bảo cô không nên làm như vậy, muốn cho thì về nộp tiền cho hội từ thiện, họ sẽ chuyển đến sau. Cô nói lại: “Tôi đang động lòng với sự hy sinh và thiệt thòi của họ, tôi muốn tạo cho họ một ngày vui ngay hôm nay, trở về Mỹ tôi có thể bận rộn mà quên đi hoặc không tìm ra hội từ thiện nào; tôi lại không biết số tiền đến tay họ được bao nhiêu, họ nhận tiền trong tủi hờn hay trong một ngày đẹp trời vui vẻ như bây giờ, vậy xin mấy người đừng cản tôi.” Nghe vậy tôi biết cô là dân thứ thiệt, mặc dù mới biết cô lần đầu. Không dễ tỏ lòng biết ơn những người đã hy sinh cho lý tưởng tự do.

Trong cuộc sống nhiều khi người ta hơn thua nhau chỉ trong một chớp mắt. Nhìn các vận động viên tập luyện cực khổ như nhau, vậy mà khi thi đấu người này có thể hơn người kia một vài phần trăm của second lại được huân chương vàng để được mọi người nhớ mãi, thần tượng hóa họ, trả tiền cho họ để làm quảng cáo, còn những người khác thì bị lãng quên không còn ai biết đến. Chỉ một phần trăm của second là đã tạo sự khác biệt rất lớn trong đời người, anh giám khảo thời gian càng trở nên khắc nghiệt với những cái đồng hồ digital nhạy bén. Thời gian quá tinh vi. Mấy lực sĩ tuy không đạt thành tích nhưng tôi chắc họ sẽ có niềm vui riêng vì họ đã làm những điều họ thích.

Thời gian thường làm thay đổi lòng người, và làm phai nhạt ký ức. Có những mối tình khắn khít, đưa nhau ra những chỗ linh thiêng để thề thốt trọn đời bên nhau, vậy mà có ngày họ phải đưa nhau ra tòa xin xa nhau. Thời gian là thước đo lòng người, “Thức khuya mới biết đêm dài, ở lâu mới biết lòng người phải chăng.” Có khi hình ảnh của tôi hoàn toàn ra khỏi tâm trí của một người bạn cũ hoặc một người quen nào đó tình cờ gặp lại, tôi chẳng bao giờ hờn trách vì nhiều khi sức họ có hạn, memory đã đầy, muốn hay không cơ chế tự delete những data không cần thiết, không lập lại là tự nhiên. Tôi chỉ tiếc cho họ là đã quá tải cái trí nhớ của mình…

Cả mười mấy năm nay trong hộp thư của nhà tôi tuần nào cũng có vài cái thư của địa ốc dụ bán nhà, họ bảo nhà của tôi chỉ list lên ba ngày là bán ngay, tôi chẳng nghĩ tới chuyện bán nhà nên dụt hết vào thùng recycle và nghĩ là quảng cáo nói láo ăn tiền. Gần đây cô bạn đồng hương ở thành phố bên cạnh gọi tôi la lớn trong phone: “Trời ơi, nhà chị mà giá gấp đôi nhà em hả, chị có biết không?” Hai đứa con cô mới vào Đại học ở Toronto nên cô muốn mua thêm căn nhà nho nhỏ để con cô khỏi đi về mất thời gian, và ông địa ốc đã trả lời với cô như vậy. Căn nhà mới độc lập của cô rộng gấp ba lần căn nhà cũ kỹ hằng trăm năm về trước của tôi mà giá chỉ bằng một nửa, thì ra hồi đó nhiều người đã chán ở nhà cũ chật hẹp, sửa chữa hoài nên họ nhanh chóng bán rẻ mà tôi có thể mua được để đổi lấy căn nhà mới rộng rãi hơi xa một chút. Mấy năm sau họ thấy nhà mới lỏng lẻo không cây cối và đi lại tốn thời gian, xăng nhớt nên nhiều người trở lại mua nhà cũ sau khi đã được chủ mới tu sửa đẹp đẽ, và bây giờ thì giá đã tăng gấp bội. Những khu nhà xưa cho người ta cảm giác ấm cúng, gần gũi vì có bề dày của thời gian với những hàng cây xanh to lớn và những building cổ kính oai phong.

Ôi thời gian, chuyện thời gian dài vô tận như dòng thời gian chảy không ngừng, và nó không bao giờ quay ngược trở lại để chúng ta có cơ hội làm lại những lỗi lầm. Sống với những gì mình có được hôm nay, hạnh phúc hay đau khổ chỉ là những hương vị cay đắng ngọt bùi, hãy vững tâm bước theo dòng đời qua từng khoảnh khắc, tôi tự nhủ.

Nhiều khi chúng ta cũng phải biết mở to mắt để nắm bắt chữ thời cho đời lên hương. Sướng khổ gì chúng ta cũng phải xuyên suốt cuộc đời của mình cùng với dòng thời gian.

 Lê Cẩm Tú