Tuesday, September 22, 2015

NGƯỜI VIỆT TRANH CÃI BẤT CẦN LÝ LẼ



Nhà nước Cộng sản Việt Nam không vì số phận của “khúc ruột xa ngàn dặm” mà cần đầu cầu thâm nhập thị trường nước ngoài và làm chủ “con gà đẻ trứng vàng” nên tìm mọi cách khống chế cộng đồng người Việt hải ngoại.
Bao nhiêu quan chức cao cấp của Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam công du hải ngoại cũng chưa thu phục được người gốc Việt làm cánh tay nối dài cho Đảng Cộng sản, tuy có dụ dỗ được một số người tham lợi.
Với các quân bài gốc Việt thân-Cộng đã gieo, Hà Nội chỉ gây phân tán chút ít trong khi vẫn bị đa số người Việt tị nạn chống đối quyết liệt.
Người Việt hải ngoại cũng đưa nhiều đợt người về cố quốc để vận động thay đổi chế độ mà thất bại nhiều hơn thành công.
Cộng sản Việt Nam có lợi thế về quan hệ ngoại giao, về ngân sách, về danh nghĩa quốc gia. Nhưng, bất lợi về đường lối, chính sách không phù hợp với trào lưu tiến hoá của nhân loại.
Suốt 40 năm qua, Nhà nước Việt Nam áp bức dân chúng tàn tệ, tạo ra đói rét bất công, xây dựng một nền kinh tế làm thuê từ quốc nội cho tời nước ngoài, trong khi cán bộ nhũng nhiễu, hoang phí vô độ.
Với ngân sách giáo dục chiếm tỉ lệ GDP cao nhất thế giới mà chẳng có quốc gia nào công nhận bằng cấp của Việt Nam . Tỉ lệ tiến sĩ trong guồng máy Nhà nước Việt Nam gấp 5 lần Nhật Bản mà trình độ phát triển vẫn đứng sau các nước Brunei, Tân Gia Ba, Mã Lai Á, Indonesia, Phi Luật Tân. Về văn hoá, ngày càng lai căng và cuồng tín làm cho xã hội bại hoại.
Chưa có dấu hiệu nào chứng tỏ Đảng Cộng sản có ý chí chính trị và khả năng thay đổi chế độ lấy mục tiêu phát triển đất nước lên hàng tối thượng.
Từ Đại hội IV (1976) đến hết Đại hội XII (2015) đầy những ngôn ngữ đội đá vá trời mà Việt Nam vẫn chưa bắt kịp láng giềng nên đa số người Việt quốc nội và hải ngoại khó tin lời lẽ tuyên truyền. Hoá ra đảng viên cộng sản chỉ giỏi nghề chém gió!
Người Việt Hải ngoại đến từ các nguồn gốc và lý do khác nhau như tị nạn chính trị, đoàn tụ gia đình, tị nạn kinh tế, di dân tình báo nên mỗi nhóm đều theo đuổi giấc mơ khác nhau khiến cho mục tiêu chính trị thêm phần phức tạp.
Do đó, người Việt hải ngoại khá đồng nhất về mục tiêu chủng tộc, tập tục, văn hoá mà rất khác biệt về quan điểm và đường lối chính trị.
Hơn nữa, hậu duệ của người Việt hải ngoại ngày càng gắn bó với quê hương mới từ văn hoá, tập tục, lối sống cho chí quan điểm chính trị nên cư xử với Việt Nam tương tự như bất cứ quốc gia nào khác trên thế giới.
Vì thế, đi tìm một sự đồng thuận về quan điểm và đường lối chính trị cũng khó như mò kim đáy biển! Tình báo cộng sản khoét sâu khác biệt này nên tạo ra môi trường tranh cãi triền miên và gay gắt trong cộng đồng người Việt hải ngoại.
Tuy nhiên, nhờ sinh sống tại các quốc gia dân chủ tiên tiến nên người Việt hải ngoại có điều kiện thu thập, tìm hiểu cặn kẽ mọi sự việc đã, đang và sẽ xảy ra nơi cố hương mà không bị yếu tố tuyên truyền che dậy.
Giới truyền thông hải ngoại đã soi sáng nhiều mảng lịch sử bị che đậy làm cho Đảng Cộng sản hiện nguyên hình không son phấn, dao kéo!
Để biến “khúc ruột xa ngàn dặm” thành một đàn cừu nên Đảng Cộng sản phải tìm mọi cách khống chế môi trường truyền thông hải ngoại.
Thứ nhất, đưa các “điệp viên phái triển” am tường văn hoá, chính trị định cư tại các quốc gia có nhiều người Việt sinh sống để làm giảm nhẹ tội lỗi của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản trong các giai đoạn lịch sử. Đồng thời, thuyết phục dư luận tin vào “sự thay đổi tất yếu” do các “đảng viên tiến bộ” làm “ngọn cờ đầu dân chủ” mà không cần tới cuộc “cách mạng lật đổ” hoặc “cách mạng màu” giống mô hình xảy ra dồn dập trên thế giới từ thập niên 1980 đến nay.
Thứ hai, đưa người có vỏ bọc dày thâm nhập trực tiếp vào một vài cơ quan truyền thông ở hải ngoại để điều khiển đường lối đấu tranh “không gây phương hại tới vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam ”.
 
Thứ ba, vận động cho các nhân vật thân-Cộng cầm đầu hoặc ở trong nhóm lãnh đạo cộng đồng, hội đoàn để thao túng sinh hoạt.
 
Thứ tư, tạo ra các sự kiện, ngôn từ gây tranh cãi làm cho người Việt mất phương hướng và chia rẽ.
Trong chế độ dân chủ chín muồi thì bất đồng chính kiến làm nên sức mạnh cho cuộc sống, xã hội, đồng thời cũng gây nhiều sóng gió.
 
Do đó, cần phân biệt giữa cãi nhau và tranh luận trong lĩnh vực chính trị, văn hoá, xã hội. Cãi nhau nghiêng về miệt thị, phỉ báng. Tranh luận hướng về lý lẽ.
 
Những người Việt quốc nội và hải ngoại tự nhận là “nhà đấu tranh vì nước Việt Nam tự do, dân chủ, phát triển, cường thịnh” thường xuyên cáo buộc lẫn nhau bằng các loại ngôn từ như “cực đoan, cuồng tín, quá khích, công kích bất công, bới lông tìm vết, thù nghịch vô lý, nhỏ nhen, ghen tị …”.
 
Ai cũng thích viện dẫn Tu chính án số 1 trong Hiến pháp của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ mà rất dễ nổi xung thiên khi bị phê phán hay chỉ trích về những hành động và ngôn ngữ do mình thể hiện!
 
Không ít vụ kiện trước Toà án ở Mỹ liên quan đến các bài viết bị cáo buộc phỉ báng, mạ lỵ cá nhân bởi vì cộng đồng người Việt hải ngoại chẳng có cơ quan nào được quyền thụ lý, xét xử.
 
Hơn 40 năm chứng kiến biết bao nhiêu cuộc bầu cử địa phương cũng như toàn quốc với nhiều vụ xoi mói từ giấy khai sinh, tới cuộc sống trai trẻ, gia đình, công ăn việc làm nếu ai đó muốn trở thành khuôn mặt công chúng. Chẳng người chất vấn nào bị đưa ra toà. Tại sao người Việt lại tự phong cho cái quyền được đối xử khác hơn?
Khuôn mặt công chúng nào cũng phải biết sợ dư luận, nếu không sẽ dẫn tới việc làm càn, trở thành mối hoạ cho xã hội.
 
Các nhà tự nhận là chiến sĩ đấu tranh cho nước Việt tự do khi bị chất vấn về sai lầm của chế độ cộng sản Việt Nam lại nói “hãy để cho lịch sử phán xét” và buộc tội thù hận vào người đặt câu hỏi!
 
Đảng Cộng sản đã tham gia vào sinh hoạt chính trị của Việt Nam liên tục từ năm 1930 mà vẫn chưa đủ để đánh giá công/tội hay sao? Cách viết lịch sử của Đảng Cộng sản có phản ánh trung thực, đáng tin cậy hay không?
 
Cuối năm 2011, cựu thiếu tướng cộng sản Nguyễn Trọng Vĩnh đăng bài “Từ Đảng Cộng sản ban đầu đến Đảng Cộng sản hiện nay” nhằm đội “Cụ Hồ” lên tận mây xanh. Và, tán tụng “ĐCS sinh ra vì nước vì dân, không phải vì lợi ích riêng tư nào của Đảng”.
Nhưng, chính Tổng bí thư Lê Duẩn tuyên bố “Ta đánh Pháp, đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc” làm cho 4 triệu người Việt chết vì chiến tranh và đấu tranh giai cấp.
Vậy mà, Tướng Vĩnh lên án “những phần tử chống cộng cực đoan phủ định toàn bộ công lao Đảng CSVN”.
Tướng Vĩnh hô hào chống Trung Quốc lại tôn vinh ĐCS, thủ phạm bán nước tại Hội nghị Thành Đô năm 1990, cắt đất, nhượng biển vào các năm 1958, 1999, 2000. Hiện tại, Nhà cầm quyền Đà Nẵng đang chuẩn bị cho phép công ty Trung Quốc tham gia quy hoạch Đảo Lý Sơn (Cù Lao Ré) thuộc tỉnh Quảng Ngãi, cách đất liền 15 hải lý.
 
Nếu người Việt hải ngoại có tư cách pháp nhân với lãnh thổ, quân đội, cơ quan hành chính như một quốc gia bình thường thì việc thu nhận, hợp tác với những nhân vật đó rất dễ dàng. Bởi lẽ, chúng ta có đủ điều kiện giám sát và chế tài các hoạt động vượt ngoài khuôn khổ pháp luật hoặc đường lối chính sách chung.
Rất tiếc, người Việt hải ngoại chỉ là một bộ phận trong xã hội công dân nên phải hiểu rõ đối phương trước khi hợp tác mới mong đạt tới mục tiêu góp phần xây dựng chế độ dân chủ thực sự tại cố quốc.
Có người công khai buộc tội người Việt hải ngoại đã “thù nghịch vô lý với những trí thức có tâm, có tầm kể cả dũng khi bị bắt buộc phải bị đẩy ra nước ngoài”.
 
Thực sự, “chiến sĩ dân chủ” nào rời quê hương giống như “lá bài đã cháy” do mất điều kiện đấu tranh trực tiếp. Họ cần phải thích ứng với môi trường mới và điều kiện hoạt động xa lạ để góp sức thay vì ôm tham vọng “làm ngọn cờ đầu” để dẫn dắt công cuộc đấu tranh cho một nước Việt Nam độc lập, tự do, dân chủ, phát triển.
Tham tán Thông tin-Văn hoá thuộc Toà Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, Terry White ra tuyên bố “… hoan nghênh quyết định của chính quyền Việt Nam trả tự do cho bà Tạ Phong Tần và bà đã quyết định đi sang Hoa Kỳ sau khi ra tù”.
Tổ chức Theo dõi Nhân quyền bình luận “Việc thả tù này cho thấy cách thức hiểm độc của chính phủ Việt Nam là buộc các nhà bất đồng chính kiến có tên tuổi từ nhà tù đi thẳng ra nước ngoài lưu vong, với giá phải trả cho tự do là rời bỏ đất nước ngay lập tức”.
Đồng thời, “kêu gọi Hà Nội trả tự do cho các nhà hoạt động khác đang bị cầm tù và cho phép họ ở lại trong nước nếu họ muốn”.
Hoa Kỳ không nhận bất cứ ai chẳng muốn đến nước họ, vậy, chớ nên đánh bóng hình ảnh “cứ như bị áp giải lên máy bay”!
Ba Lan và Tiệp Khắc chỉ mất 10 năm đã lật đổ được chế độ cộng sản khi mà thế giới cộng sản chiếm hơn nửa dân số địa cầu và một lực lượng tưởng chừng không thể đánh bại.
Một số quốc gia Bắc Phi và Trung Đông chỉ mất mấy tháng trong năm 2011 để lật đổ nhiều chế độ độc tài.
Việt Nam thì “thời kỳ quá độ tiến lên dân chủ” phải kéo dài đến bao giờ?
Đừng chờ Đại hội 12 sẽ thay đổi, chớ mong Đảng Cộng sản lột xác mà rơi vào môi trường “tuyên truyền xám”.
Bất cứ hành động nào của Đảng Cộng sản hiện thời cũng tác động trực tiếp lên cuộc sống của người Việt quốc nội lẫn hải ngoại nên cần phải có phản ứng thích đáng tức thời.
                                  
Đại-Dương 
22-9-2015

Friday, September 11, 2015

Từ đâu có hỗn danh “dân chơi cầu Ba Cẳng”?

Trong thế giới ngầm, thế giới ăn chơi, để phân biệt đẳng cấp và vị trí của người chơi, giới chơi và cách chơi, giang hồ thường đặt cho một hỗn danh để ngầm quy ước vai trò quan trọng hay thể hiện đúng vị thế, dấu ấn của dân chơi.

Hỗn danh “dân chơi cầu Ba Cẳng” ra đời trước năm 1975 và lưu truyền đến nay để nhắc về một lớp đàn anh “ngang trời dọc đất” nhưng dám chơi mà không dám chịu, đụng chuyện thì tránh né. Hỗn danh này còn được gắn cho một tay anh chị do Mã Ban cầm đầu một nhóm ăn chơi thuở xưa, nhưng sau đó gác kiếm, rút lui khỏi giới giang hồ về với đời thường một cách lặng lẽ.
Cầu Ba Cẳng không còn cẳng nào
Trước hết phải khẳng định cầu Ba Cẳng là một cây cầu có thật. Theo bút ký của nhà văn Trương Đạm Thủy, vùng Q.6, Chợ Lớn cách đây mấy mươi năm có một cây cầu bằng sắt có hình dạng rất lạ, có ba chân. Vì cầu chẳng có cái tên chính thức nào như cầu Bông, cầu Kiệu, cầu Nhị Thiên Đường, cầu Tân Thuận… nên người dân lấy hình mã đặt tên, tức cầu Ba Cẳng. Ngày ngày, dân bụi đời ưa tụ tập ở đó để cờ bạc, đá gà, ăn nhậu gây mất trật tự và vẻ khó coi cho khu Chợ Lớn mới. Đêm đêm dân chơi đi… “bắt bò lạc” là mấy em gái ăn sương cũng thường coi cầu Ba Cẳng là điểm hẹn để tìm một đêm vui. Vì thế mà cái tên “cầu Ba Cẳng” lần hồi đã trở nên nổi tiếng. Đi xa hơn, loại dân chơi nào bị coi là chơi không đẹp, chơi nhếch nhác, chơi thiếu… mỹ quan thì bị thiên hạ gán cho cái tên “dân chơi cầu Ba Cẳng”.
 
 Cầu Ba Cẳng (Chợ Lớn). Ảnh: Tư liệu
Còn theo ghi chép của Hội những người yêu Sài Gòn, trước 1954, thành phố Sài Gòn thường quen được gọi là “Sài Gòn - Chợ Lớn” để phân biệt như hai khu vực. Một vùng do đại đa số người Việt sinh sống, còn vùng kia là người Việt gốc Hoa buôn bán làm ăn phát triển (từ Q.5 tới Q.11, trừ Q.9 thành lập sau này thuộc vùng Sài Gòn).
“Cầu Ba Cẳng” thuộc vùng Chợ Lớn bắc qua một cái vàm (ngã ba kinh rạch) của kinh Hàng Bàng, do quan Khâm sai người Pháp (không nhớ tên và thời điểm) ra lệnh xây dựng. Lúc đầu mang tên cầu Khâm Sai. Do một trận hỏa hoạn lớn ở đường Gia Long, người ta đổ xô lên cầu chen lấn, đứng xem quá đông khiến cầu bị sập. Sau đó cầu được xây lại thành ba nhánh bằng bê tông cốt sắt vững vàng hơn. Dân chúng trong vùng không còn gọi là cầu Khâm Sai nữa mà gọi theo hình dáng xây dựng là “cầu Ba Cẳng”. Cầu nằm cuối đường, phía sau chợ Kim Biên P.13, Q.5, thuộc Chợ Lớn. Cầu Ba Cẳng nay không còn nữa. Xưa, cầu ở đầu đoạn rạch Bãi Sậy, sau đó được lấp thành đường Bãi Sậy và Phan Văn Khỏe, Q.6. “Cầu Ba Cẳng” nằm ở khúc rẽ phải ra kênh Tàu Hũ, hai chân nằm ở bến Bãi Sậy và bến Nguyễn Văn Thành, còn chân kia ở bến Vạn Tượng. Cầu tồn tại đến năm 1990 thì bị sập hoàn toàn.
Dân chơi "Hồng Kông bên hông Chợ Lớn"
Hỗn danh “dân chơi cầu Ba Cẳng” ngụ ý là dân giang hồ không có tính toán, mưu lược, chơi ẩu, cứ thấy có chuyện gì lạ là nhào ra xía vô, không nghĩ gì tới lợi hại, như kiểu thấy hỏa hoạn ở tuốt đường Gia Long rồi kéo nhau lên cầu coi cho thỏa ý tò mò tới độ cầu bị sập, sinh ra tai nạn. Khi nói “dân chơi cầu Ba Cẳng” còn một ngụ ý khác nữa, ám chỉ là dân giang hồ dám làm mà không dám chịu, chuyên tránh né, không dám hiên ngang chống đỡ với đối lực, từ câu chuyện kể. Năm 1955, có một đám côn đồ sau khi làm việc phi pháp bị hai cảnh sát rượt đuổi. Chúng chạy lên cầu Ba Cẳng. Vì cầu có ba hướng lên xuống mà cảnh sát chỉ có hai người, do đó chỉ chặn được hai ngả. Bọn này cứ như chuột, lúc nào cũng có ngả hở thoát thân. Tóm lại, các dạng dân chơi chuyên lừa đảo để kiếm tình, kiếm tiền, dụ khị đàn ông, lừa bịp đàn bà, theo các dạng bát nháo trên đều có thể liệt vào hạng “dân chơi cầu Ba Cẳng”.
 

 
Ảnh: Tư liệu
Sài Gòn trước 1975, dân chơi tứ chiếng tràn ngập và là mảnh đất anh tài hội tụ. Lớp người Hoa thời kỳ đó rất nhộn nhịp, bởi Hòn ngọc Viễn Đông lúc đó đâu đâu cũng có những phố xá ăn chơi sành điệu bậc nhất. Sài Gòn lúc đó như chiếc bánh ngọt được các băng nhóm giang hồ chia nhỏ thành lãnh địa riêng rồi phân nhau hùng cứ. Vì vậy, các bậc đàn anh, đàn chị giang hồ nổi lên cát cứ khắp nơi. Chính quyền vô cùng đau đầu, đã lập ra danh sách đen các bậc anh chị có “số má”, với những hỗn danh có tiếng vang để lùng bắt nhằm ổn định an ninh trật tự. 
Theo nhiều tài liệu, thời kỳ đó một nữ A xẩm Tiều nán (người Triều Châu) ở gần Chợ Lớn mới (chợ Bình Tây, Q.6, TP.HCM ngày nay) góa bụa giữa lúc nửa chừng xuân. A xẩm đi nấu ăn cho nhà giàu kiếm tiền nuôi đứa con trai lớn tên Mã Ban ăn học. Mã Ban học tiểu học rồi trung học dành cho học sinh người Hoa ở Chợ Lớn. Tuy nhiên, thay vì học hành chăm chỉ thì Mã Ban lại lao vào ăn chơi khiến cho người mẹ nghèo rất buồn khổ. Bị mẹ la mắng nhiều, thương mẹ, Mã Ban quyết định tự lập kiếm tiền để ăn chơi. Không tiền, không nghề nghiệp, Mã Ban thu thập đàn em để làm bảo kê, chuyên xử lý các băng nhóm quậy phá. Có tiền rủng rỉnh, Mã Ban cùng đám đàn em lao vào những cuộc ăn chơi thâu đêm suốt sáng. Thời gian sau, Mã Ban được một đại gia người Hoa quý mến, gả con gái cho. Nhằm giúp Mã Ban trốn quân dịch, người cha vợ lắm tiền nhiều của của Mã Ban đã đút lót cho viên chức cao cấp để Mã Ban trở thành cảnh sát viên của Tổng nha cảnh sát. Từ đó, Mã Ban nổi lên với những cuộc ăn chơi đàn đúm, sử dụng súng rulo bá phát và luôn có những người đẹp nổi tiếng vây quanh.
Sau khi Sài Gòn phỏng giái, năm 1984, Mã Ban đã rũ bỏ nghiệp giang hồ, quay về cùng vợ con, mở nhà hàng ăn uống ở Chợ Lớn. Tuy nhiên, do vẫn còn máu chơi hào phóng nên chẳng bao lâu buôn bán lỗ lã, dẹp tiệm. Từ đó, bắt đầu cuộc sống khó khăn, vợ bệnh, con đau, không tiền bạc, Mã Ban từ một tay anh chị phong lưu trở thành tay trắng. Dân chơi “cầu Ba Cẳng” lại lưu danh thêm một đàn anh vào danh sách để nhắc nhớ quá khứ oanh liệt Sài Gòn - Chợ Lớn ngày xưa

Monday, September 7, 2015

Aylan Kurdi ơi: Em đã chết cho mọi người được sống! / Nam Lộc



Hình ảnh của em bé thuyền nhân tỵ nạn Syrian 3 tuổi tên là Aylan Kurdi nằm gục mặt chết trên bãi cát khi xác của em trôi dạt vào bờ biển Bodrum, Thổ Nhĩ Kỳ tuần qua đã làm thức tỉnh lương tâm nhân loại trong lúc các con đường dẫn những người phải bỏ nước ra đi vì chế độ độc tài và diệt chủng để tìm đến một nơi an toàn tại các quốc gia Âu Châu lánh nạn đã bị chặn lại và cánh cửa nhân đạo hầu như đều khép kín.  

Aylan đã chết đuối cùng với người anh lớn hơn em 2 tuổi và người mẹ của mình cùng hàng chục người khác khi chiếc xuồng của họ bị chìm đắm trên vùng biển Bắc Đại Tây Dương. Hoàn cảnh của hàng trăm ngàn người tỵ nạn từ các nước Iraq, Afghanistan và đặc biệt là từ Syria tràn vào Âu Châu bằng đường bộ hay bằng đường thuyền cùng với sự xua đuổi của những người lính Hung Gia Lợi trong tuần qua đã gợi lại cho đồng bào tỵ nạn Việt Nam chúng ta cơn ác mộng vượt biên 30 năm về trước. Âm thanh của bài hát Xác Em Nay Ở Phương Nào hoặc câu “tự do ơi, tự do, em đổi bằng thân xác…” bỗng dưng vọng lại bên tai như những Lời Kinh Đêm quen thuộc mà thuyền nhân đã cầu nguyện thuở nào! Thì ra người Việt chúng ta đã trải qua những nỗi gian truân đó từ lâu, khủng khiếp hơn, khổ đau hơn và bất hạnh hơn. Chỉ khác là vào thời điểm đó phương tiện truyền thông chưa phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng như hiện nay để thế giới biết rằng có đến gần nửa triệu người VN đã chết trên biển Đông như số phận cùng hoàn cảnh của cậu bé Aylan.

Nhưng cũng chính vì sự tiến bộ kỹ thuật bây giờ mà hình ảnh của cậu bé Aylan chết tức tưởi, oan khiên trên biển cả, đã như một phép lạ từ từ mở rộng những cách cửa đã bị loài người ích kỷ khóa lại từ suốt gần một tuần qua. Chính phủ Hung Gia Lợi đã phải làm những hành động tối thiểu, dù không tiếp nhận, nhưng cũng đã cung cấp xe bus để đưa người tỵ nạn đến biên giới của những quốc gia nhân đạo hơn, Phần Lan đã mở rộng cánh tay, Đức đã quyết định tiếp nhận và sẵn sàng cung cấp công ăn, việc làm cho hàng trăm ngàn người tỵ nạn, sau đó là Áo, Anh, Bỉ, Pháp v..v.. và dĩ nhiên là cả Hoa Kỳ, đất nước được xem là có một trách nhiệm lớn trong cuộc khủng hoảng ở Trung Đông, đặc biệt là chính sách bị nhiều người chỉ trích là “bất nhất” của chính phủ Obama từ suốt 3 năm qua về vấn đề Syria cùng nhà lãnh đạo độc tài và tham quyền, cố vị: Bashar ai-Assad.

Nhưng tình hình đã có phần nào thay đổi theo chiều hướng tích cực trong mấy ngày qua, phải chăng nỗi bất hạnh của Aylan Kurdi cùng gia đình em đã được đổi lại bằng sự may mắn và hạnh phúc của hàng trăm ngàn nạn nhân của bọn độc tài, khủng bố đã quyết định vượt biên và có thể cũng sẽ là niềm hy vọng cho hàng triệu người khác đang sống nhục nhằn trong các trại tỵ nạn ở Lebanese, tại Thổ Nhĩ Kỳ hay ngay tại đất nước Syria hiện nay? Các nhà lãnh đạo ở trên thế giới kể cả tay cựu trùm KGB, Vladimir Putin, đang là tổng thống nước Nga dù cứng đầu đến đâu cũng phải quyết định ngồi xuống để tìm ra một giải pháp hầu giải quyết cơn khủng hoảng trầm trọng này hầu cho người dân Syria có một cuộc sống ổn định ngay trên quê hương của họ thay vì phải mang đời lưu vong. Và nếu đúng như vậy thì Aylan Kurdi ơi, em đã chết cho mọi người được sống!

Nhìn hình ảnh bé Aylan nằm chết như mơ, như thiên thần đang gục đầu ngủ yên trên bãi cát, nó cũng thảm thương như thân phận của những đứa trẻ VN bất hạnh thuở nào, lòng tôi trùng xuống một nỗi buồn vô hạn. Trước đó một tuần, khi xem được đoạn phim chiếu cảnh người đàn ông Syrian gò lưng đi bán từng cây bút nắp xanh để kiếm được miếng ăn cho đứa con gái nằm ngủ trên vai trong cơn nóng thiêu đốt trên đường phố ở Beirut, bỗng dưng tôi nhớ lại tình cảnh của hơn 2000 “Người Việt Còn Lại” ở Phi Luật Tân vào những năm đầu thập niên 2000, những người đã bị thế giới lãng quên qua gần 20 năm trời khổ hạnh với mẩu “căn cước” được đóng dấu là dân “vô tổ quốc" (Stateless)! Và ở đó, tôi cũng đã thấy hình ảnh người đàn ông tỵ nạn VN cõng trên vai đứa con gái chưa đầy 2 tuổi trong cơn nóng thiêu đốt ở Palawan để bán từng đôi dép cho những người dân làng hầu may ra mua được cho con mình một khúc bánh mì hay một bình sữa lạnh!


Tiếng reo của chuông điện thoại làm tôi tỉnh lại, sờ lên mắt, không biết là mình đã khóc từ lúc nào, và tự nhủ lòng, có lẽ mình sẽ phải làm một điều gì để cùng đồng hương chúng ta xoa dịu được một phần nào vết thương đang nhỏ máu của nhân loại dù chỉ là một điều nhỏ nhoi như hạt cát trong sa mạc.

Bên kia đầu gây là giọng nói của một người bạn trẻ tên là James ở Toronto, Canada, em ngỏ ý muốn mời tôi làm MC cho một buổi “sinh hoạt” tại đây, sau khi thỏa thuận thù lao xong, tôi hỏi em về nội dung chương trình, lúc đó James mới cho biết mục đích của ngày sinh hoạt này là để phát động chiến dịch gây quỹ cho dự án có tên là “Lifeline Syria Project” ngõ hầu tìm phương tiện để bảo trợ cho các gia đình người tỵ nạn Syrian đang phải đối phó với những nỗi khốn cùng trên đường tìm tự do! Lòng tôi chợt bùng sáng lên như một kẻ đang đói khát được người ta ban phát cho một khúc bánh mì cùng ly nước lạnh! Tôi hân hoan nói với James, em ơi, tôi sẵn sàng nhận lời tham dự và xin phép cho tôi được đóng góp toàn bộ số tiền thù lao của tôi vào buổi gây quỹ trong ngày hôm đó để tiếp tay với ban tổ chức. James thoạt đầu hơi ngạc nhiên và ngần ngại, nhưng sau đôi lời trao đổi em đã hiểu lòng tôi và vui vẻ đồng ý. Tuy nhiên khi James đề cập đến thời điểm của buổi tổ chức sẽ rơi vào một ngày cuối tuần trong tháng Mười sắp tới thì tôi vô cùng lo lắng và hơi thất vọng, vì lịch trình diễn đã đầy ắp, không còn rảnh một weekend nào trong tháng Mười cả, đấy là chưa kể đến chuyến đi Úc Châu kéo dài hơn một tuần lễ vào giữa tháng Mười, 2015! Nhưng khi mở lịch ra xem, thì tôi thấy còn trống một ngày Thứ Bẩy duy nhất đó là October 3rd, nhưng đã dự định mua vé để bay sang Washington DC cho một event khác diễn ra vào buổi trưa Chủ Nhật October 4th.  Và như một “phép lạ”, James cho tôi biết, vì tính cách cấp bách của sự việc cho nên BTC đã quyết định tổ chức vào ngày Thứ Bẩy mùng 3 tháng Mười, 2015. Nghe em nói lòng tôi như mở hội, như vậy thì xem như “giấc mơ” ấp ủ “được làm một điều gì để cùng đồng hương chúng ta xoa dịu phần nào vết thương đang nhỏ máu của nhân loại” đã thành sự thật. Hai anh em chúng tôi cùng vui, và sau khi James email cho tôi thêm chi tiết cùng tấm ảnh chúng tôi chụp chung với nhau trong lần tiếp đón và bảo trợ những người Việt tỵ nạn cuối cùng từ Thái Lan đến Vancouver vài tháng trước đây, tôi mới biết đó là James Nguyễn, cựu chủ tịch Hội Người Việt Toronto, và buổi gây quỹ lần này sẽ phối hợp cùng tổ chức VOICE Canada và một số cơ quan, đoàn thể người Việt tại đất nươc giầu lòng nhân đạo này. VOICE Canada cũng không xa lạ gì với tôi, vì ngoài nỗ lực tranh đấu, vận động cũng như định cư những người Việt tỵ nạn muộn màng, vào tháng Tư 2015 vừa qua, họ còn gây quỹ được $100 ngàn dollars đễ tiếp tay cho Hội HO Cứu Trợ Thương Phế Binh VNCH và Quả Phụ Tử Sĩ do bà Hạnh Nhơn làm chủ tịch.


James Nguyễn cựu chủ tịch và cô Lê Hoa Lương
cựu phó chủ tịch Hội Người Việt Toronto, Canada

Tôi tin rằng điều may mắn được góp mặt cùng “Lifeline Syria Project” lần này là do sự sắp đặt của Thượng Đế như một “ơn gọi” của Bề Trên, của Trời Phật dù lời cầu xin của tôi chỉ mới là những tiếng nhủ thầm trong bụng. Tôi đem chuyện này chia sẻ với các gia đình tỵ nạn VN từ Palawan, Phi Luật Tân, những người cũng đã từng bị thế giời lãng quên. Họ đang tổ chức ngày “Tri Ân và Hội Ngộ” để kỷ niệm 10 năm định cư, đồng thời để cảm tạ những người đã giúp họ được làm lại cuộc đời nơi đất khách. Trong đêm họp mặt gọi là “tiền hội ngộ”, Thứ Bẩy  mùng 5 tháng Chín, 2015 vừa qua, sau khi nghe tôi trình bầy có người đã rơi nước mắt, hồi tưởng lại thân phận mình và so sánh với hoàn cảnh của người tỵ nạn Syrian cùng thân xác của vị “Thánh Tý Hon” tên là Aylan Kurdy, đã hy sinh cuộc đời để cho đồng bào mình được cứu sống! Và kết quả là trong đêm họp mặt ngày hôm sau, mùng 6 tháng 9, trước sự hiện diện của các quan khách cùng ân nhân Việt, Mỹ và đặc biệt là đại diện của chính phủ Phi Luật Tân, quốc gia duy nhất đã không trục xuất thuyền nhân VN. Luật Sư Trịnh Hội đã đại diện các gia đình tỵ nạn VN từ Palawan chính thức loan báo rằng những thuyền nhân người Việt muộn màng này sẽ bảo lãnh 4 gia đình người tỵ nạn Syrian, và họ nhờ tôi liên lạc với các cơ quan thiện nguyện để bắt đầu thủ tục định cư tại thành phố Houston. Anh Trung Đình Nguyễn, trưởng ban tổ chức đã cho các ân nhân và quan khách Việt, Mỹ cũng như Phi Luật Tân hiện diện trong ngày hôm đó biết rằng: “Cách duy nhất mà chúng tôi có thể làm được bây giờ để trả ơn quý vị là đưa tay ra để cứu giúp những người bất hạnh khác, như quý vị đã cứu giúp chúng tôi”! Thật là một hành động dấn thân mang đầy ý nghĩa.

 Đêm “Hội Ngộ và Tri Ân” tại Houston, Texas, September 6, 2015

Nhân đây chúng tôi cũng xin cám ơn quý vị đồng hương ở khắp mọi nơi đã đáp lại lời kêu gọi của chúng tôi để đóng góp vào quỹ “Thank You America” của cơ quan thiện nguyện USCC hầu giúp đỡ và tiếp tay cho tổ chức đã từng bảo trợ chúng ta để định cư những người tỵ nạn Syrian bất hạnh nói trên. Tính đến cuối Tháng Bẩy, 2015, sau 4 tháng phát động, hội USCCLA cho biết là họ đã nhận được khoảng 60 ngàn dollars từ cộng đồng người Việt, và cơ quan này cũng đã gởi thơ cám ơn đến từng quý vị ân nhân đã đóng góp.

Qua nghĩa cử cao đẹp trước hết là của “Lifeline Syrian Project” ở Toronto, Canada, theo sau là anh chị em trong nhóm “Người Việt Còn Lại” tại Houston, Texas, chúng tôi mong mỏi sẽ có những tổ chức hoặc các hội đoàn hay cá nhân ở những địa phương khác cũng sẽ tiếp tay đóng góp, đón nhận hoặc bảo trợ các gia đình tỵ nạn đang sống khổ sở tại các trại tỵ nạn ở nhiều nơi trên thế giới. Nếu muốn tìm hiểu thêm chi tiết hoặc tin tức, xin quý cứ email về địa chỉ của chúng tôi là: namloc@sbtn.tv

Friday, September 4, 2015

Hoa Tím Bằng Lăng



Vì chiều cao “rất khiêm tốn” của mình, tôi cứ phải loay hoay điều chỉnh cái máy video cầm tay, cố gắng thâu lại hình ảnh của Tuân đang từ từ bước lên khán đài nhận bằng kỹ sư để mai mốt mang về Việt Nam “vinh quy bái tổ”. Tuân là đứa con “rất đặc biệt” của chúng tôi. Vợ chồng tôi mới cưới nhau được 10 năm nhưng Tuân năm nay vừa tròn 22 tuổi! Gia đình bên vợ và người ngoài cứ nghĩ nó là con riêng của tôi mang theo từ Việt Nam; và chúng tôi nghĩ Tuân cũng tin như thế, vì mỗi lần gọi điện thoại về Việt Nam nó vẫn gọi mẹ tôi là bà nội.
Tuy nhiên, Tuân vẫn một lòng kính trọng Oanh như mẹ ruột, và vợ tôi cũng rất thương yêu và lo lắng cho nó ngay cả trước khi chúng tôi nên vợ thành chồng.
Sau bao nhiêu lần thử nghiệm và biết chắc chắn tôi không thể có con; thay vì buồn phiền, Oanh lại săn sóc cha con tôi nhiều hơn. Đã mấy tháng nay nàng chạy ngược chạy xuôi lo thu tục giấy tờ để tuần sau chúng tôi về Việt Nam nhận một đứa cháu gái của tôi làm con nuôi. Ngày nhận được kết quả thử nghiệm xác định tôi không thể có con, Oanh đã âu yếm nhìn tôi thỏ thẻ: “Ngay từ đầu em vẫn tin anh. Em không buồn đâu anh ạ! Em chấp nhận số phận, nhất là chúng mình đã có Tuân... Tuy nhiên, em nghĩ chúng mình cũng nên nhận thêm một đứa con nuôi cho vui cửa vui nhà. Nếu anh đồng ý, em sẽ lo giấy tờ để chúng mình nhận một đứa con của chú Khang làm con nuôi. Mình nuôi cháu vẫn tốt hơn...” Đó là lý do Oanh sắp xếp để ngay sau khi Tuân ra trường, chúng tôi sẽ về Việt Nam thăm gia đình và nhất là đưa Tuân về thăm lại mộ Trang, người mẹ ruột của Tuân đã ra đi trong tủi nhục ngày nó mới được 3 tháng tuổi, và Tuân trở thành “con trai” của tôi từ hơn hai mươi năm về trước tại Bình Giả, Việt Nam.

o0o

Ngày đó tôi cũng khoảng tuổi của Tuân bây giờ... Tôi trở về Bình Giả năm 1979, sau mấy năm gồng mình cầm cự với nghề “gõ đầu trẻ” tại một trường tiểu học ở vùng kinh tế mới thuộc tỉnh Sông Bé. Tôi thương đám học trò nghèo đói nhiều lắm nhưng chính tôi cũng không chịu nổi cảnh đói nghèo vì lương không đủ ăn nên đành phải bỏ trường về quê ăn bám gia đình sống qua ngày. Sau mấy năm vừa dạy học, vừa làm rẫy sống lây lất qua ngày, sức tôi đã kiệt quệ! Tôi đã “cắt hộ khẩu” ở trường cũ, nhưng không xin “nhập hộ khẩu” tại Bình Giả vì tôi trở về với ý định tìm đường vượt biên. Đã mấy năm rồi, bà con trong làng ai cũng biết tôi đi dạy học ở vùng “Kinh Tế Mới”, và thỉnh thoảng vẫn về quê thăm cha mẹ cũng như xin thêm gạo, bắp... nên không ai thắc mắc hay hỏi han giấy tờ tạm trú. Mùa mưa năm đó, ngoài việc chuẩn bị dầu nhớt cho chuyến vượt biên chung với một số bạn bè ngoài Láng Cát, tôi vẫn theo các em làm rẫy, làm ruộng, và nhất là vào rừng kiếm măng tre. Trong một dịp mò mẫm giữa rừng tre, tôi đã gặp lại anh Thành, một người trốn trại cải tạo, đang lẩn trốn trong rừng để tìm cách liên lạc với người vợ mới cưới được mấy tuần trước ngày anh đi học tập. Hôm đó trời trở cơn giông đột ngột, tôi chạy vội tới một gốc cây bằng lăng để trú mưa vì lúc đi rừng tôi quên không mang theo áo mưa. Lúc tới được gốc “cây cổ thụ”, tôi đã “hồn vía lên mây” khi nghe tiếng gọi tên mình vọng xuống từ ngọn cây:

- Toàn. Toàn phải không?

Tôi ngơ ngác kiếm tìm xem ai đã gọi mình, nhưng trời đã tối mịt vì cơn mưa trong rừng nên chẳng thấy gì. Tôi sợ quá, đang định chạy trốn thì một sợi giây thòng xuống từ một cành bằng lăng rậm rạp phía trên đầu... Một bóng người trùm kín trong chiếc áo mưa cũ kỹ, vừa tuột xuống vừa lên tiếng:

- Mình đây. Thành đây.

Anh Thành đã xuống đất. Tôi đứng chết sững ngó đăm đăm người “đàn anh” nổi tiếng đẹp trai và hào hùng của mấy năm về trước, bây giờ ốm yếu da bọc xương, đen đủi hốc hác đang run cầm cập vì đói và rét. Tôi ngập ngừng:

- Trời ơi! Đúng là anh Thành đây mà. Sao anh ra nông nỗi này?

- Mình trốn trại cải tạo về đây đã mấy tuần rồi nhưng không dám về nhà vì sợ bị bắt lại. Trời xui đất khiến cho mình gặp được Toàn ở đây. Đúng là số mình chưa chết.

- Anh đừng nói gở. Bây giờ anh tính sao?

- Toàn có gì ăn không? Hơn hai tuần nay mình...

Tôi chỉ định đi kiếm măng vài tiếng đồng hồ nên chẳng mang theo gì ngoài con dao cán dài để đào măng. Cũng may trong túi còn gói thuốc lá và mấy miếng kẹo cao-su (chewing gum). Sau khi kể cho tôi nghe sơ qua về cuộc đào thoát từ trại cải tạo, anh bẻ một cành hoa bằng lăng mầu tím, khắc một dấu hiệu đặc biệt lên đó và nhờ tôi mang về cho Trang, vợ anh, đang ở với cha mẹ chồng trên Xuân Mỹ, Làng Ba. Tôi vội vàng trở về, hẹn hôm sau sẽ dẫn người nhà của anh vô rừng sớm. Thấy tôi trở về với một cành hoa bằng lăng mầu tím, mẹ và em gái tôi ngạc nhiên lắm, nhưng tôi cũng chẳng giải thích. Tôi dò hỏi đứa em gái về Trang, vợ của anh Thành. Lúc đó tôi mới biết chuyện anh Thành trở về Bình Giả sau năm 1975 với một cô gái người miền Nam, bổn đạo mới. Gia đình anh Thành không chấp nhận nhưng cũng đành xin cha xứ làm phép cưới cho hai người mấy tuần trước ngày anh ấy lên đường đi “học tập”. Năm đó Trang mới 17 tuổi, nhưng vì loạn lạc, gia đình chẳng còn ai nên đã theo người yêu là anh Thành trở về Bình Giả. Niềm vui chưa trọn vẹn thì hoàn cảnh ngang trái đã chia cách đôi vợ chồng trẻ hơn bốn năm nay. Trang ở với gia đình cha mẹ chồng như một chiếc bóng cô đơn bên đường, mòn mỏi đợi chờ ngày chồng trở lại!

Tôi mang cành hoa bằng lăng mầu tím lên Xuân Mỹ tìm nhà anh Thành. Hai bác tỏ vẻ khó chịu khi tôi hỏi thăm và muốn gặp Trang. Về sau tôi mới hiểu là ở Bình Giả đâu có ai mang hoa tới nhà cho con gái; hơn nữa, nàng lại là một người con gái đã có chồng! Từ nhà bếp đi lên, nhìn thấy tôi cầm cành hoa bằng lăng mầu tím trong tay, nàng đứng sững sờ nhìn tôi, miệng ấp úng nói không nên lời. Tôi vội vàng lên tiếng:

- Có người nhờ tôi trao cành hoa này cho Trang. Có dấu hiệu khắc trên đó.

Trang cầm cành hoa rồi bật khóc nức nở:

- Trời ơi! Anh Thành! Anh đã gặp anh Thành...

Bác gái vừa đỡ Trang ngồi xuống bên cạnh, vừa dồn dập hỏi tôi:

- Cậu Toàn gặp thằng Thành nhà tôi ở mô rứa? Công an đang truy nã nó mấy tuần nay. Trang nín đi con. Tai vách mạch rừng. Chết! Chết cả nhà bây giờ! Ngày nào cũng có người tới nhà hạch hỏi về nó. Ông đóng cửa lại mau đi. Khổ thân con tôi!

Tôi thầm thì kể lại cuộc gặp gỡ anh Thành trong rừng hồi chiều cho hai bác và Trang nghe. Cuối cùng cả nhà quyết định sẽ chuẩn bị một số thức ăn và thuốc men rồi tờ mờ sáng hôm sau Trang xuống nhà tôi đi vào rừng tìm gặp anh Thành. Nếu có ai hỏi thì nói là gia đình tôi thuê nàng đi làm cỏ lúa ở Đồng Tròn. Bác trai cũng muốn đi theo nhưng không dám vì sợ hôm sau công an lại tới nhà làm việc.

Suốt một tuần liền, ngày nào Trang cũng “đi làm thuê” cho tôi để vào rừng gặp gỡ anh Thành. Cám cảnh trước hoàn cảnh hiện tại, sau mấy ngày bàn bạc cùng gia đình, tôi đã quyết định nhường chỗ trên ghe cho anh Thành. Chúng tôi cũng sắp xếp cho anh Thành theo xe bò của một người quen ở Hòa Long đi lấy cọc tiêu để tránh gặp gỡ những người quen, rồi tôi đón anh ấy ra Long Hương “ở nhờ” nhà một người bạn thân của tôi để chờ ngày ra đi. Hơn hai tháng trời, tôi và Trang trở thành những người đi buôn chuyến. Thực ra, tôi chỉ chở Trang ra Long Hương gặp chồng, có khi ở đó một hai ngày trong lúc tôi đi Hố Nai, Gia Kiệm... lo việc riêng. Người trong làng đã bắt đầu đồn đãi về việc tôi và Trang đi buôn chung với nhau, nhất là còn đi qua đêm nữa! Mẹ tôi buồn lắm! Mặc dầu tin tôi, nhưng “lời ong tiếng ve” đồn thổi nhiều chuyện ly kỳ hấp dẫn về chúng tôi nên bà rất khổ tâm. Cha mẹ của anh Thành có vẻ bình tĩnh hơn vì nghĩ rằng những lời đồn đãi đó sẽ làm người ta quên dần chuyện anh Thành trốn trại cải tạo. Tôi vẫn xem Trang như một người bạn thân vì tôi cũng chỉ hơn nàng một tuổi, còn anh Thành thì xem tôi như một đứa em ruột, “một vị cứu tinh” đã dám liều mình cưu mang và giúp đỡ anh trong cơn hoạn nạn.

Anh Thành và một số bạn bè của tôi đã ra đi đột ngột trước ngày dự tính vì công việc “bến bãi” bị đổ bể. Sau một tuần không thấy tin tức gì về chiếc ghe đó, chúng tôi yên chí anh Thành đã ra khơi bằng yên. Tôi lại theo bạn bè tìm cách mua lại một chiếc ghe cũ ở Cần Giờ, đút lót xin giấy tờ tạm trú và bắt đầu công việc sửa chữa chuẩn bị một chuyến đi mới. Công việc bề bộn nên gần ba tháng sau tôi mới trở về thăm gia đình. Mẹ tôi vừa khóc vừa kể cho tôi nghe về hoàn cảnh của Trang. Nàng đã có thai, bụng càng ngày càng lớn. Anh Thành coi như mất tích vì không có tin tức gì. Bà con trong họ chất vấn nàng nhiều lần về đứa bé trong bụng. Lúc đầu cha mẹ anh Thành tin Trang, nhưng không biết làm sao để giải thích. Mọi người đổ tiếng xấu cho tôi và nàng. Dần dà cả gia đình nhà chồng cũng tin lời đồn đãi của thiên hạ, nhất là chờ mãi không thấy tin tức gì của anh Thành nên bắt đầu hạch hỏi và coi khinh nàng. Hai bác đã xuống nhà nói chuyện với mẹ tôi, có vẻ trách móc và đặt vấn đề tại sao chính tôi cũng trốn biệt từ mấy tháng nay. Mẹ tôi chỉ biết ngồi khóc vì tủi nhục! Em gái tôi cũng nửa tin nửa ngờ nên đã tìm gặp Trang để hỏi cho ra lẽ. Nó tin lời giải thích của Trang nên càng ngày càng thân với nàng.

Tuổi trẻ bồng bột và nhiều tự ái nên tôi đã lên gặp cha mẹ anh Thành đôi co và cãi vã với cả gia đình và giòng họ anh ấy để bênh vực cho Trang, nhưng rồi mọi người lại càng khinh bỉ và ghét bỏ Trang nhiều hơn trước. Quá tủi nhục và hổ thẹn, Trang đã liều mình tự tử! Cũng may người nhà phát giác kịp thời và cứu chữa cho nàng và bào thai trong bụng. Mặc dầu được cứu sống nhưng Trang trở nên lầm lì ít nói, sống vật vờ như một cái xác không hồn giữa sự khinh ghét của giòng họ nhà chồng.

Lúc bấy giờ em gái tôi cũng mới mang thai nên đã bàn với mẹ xin cho Trang về ở chung cho đỡ buồn và cùng đỡ đần giúp đỡ nhau trong lúc bầu bì cho có chị có em. Chính vì lòng tốt của em gái tôi mà cả làng đều nghĩ đứa con trong bụng Trang là của tôi. Mỗi lần tôi về thăm, Trang khóc nức nở không phải vì nỗi tủi nhục khi bị mọi người phỉ báng, nhưng nàng khóc vì đã làm hại danh dự của gia đình tôi. Lại một lần nữa, mẹ tôi gọi hai đứa lên hỏi han ngọn nguồn, và khi nghe chúng tôi thề thốt không hề có tà ý với nhau, mẹ tôi đã “ngồi xổm trên dư luận” để nhận Trang làm con tinh thần trong khi mọi người nghĩ rằng mẹ tôi làm thế để tránh tiếng vì bà đã biết chắc chắn bào thai trong bụng Trang là cháu nội của bà. Mẹ tôi âm thầm ngậm đắng nuốt cay để an ủi vỗ về Trang, mong cứu vớt một linh hồn vì mẹ tôi sợ rằng Trang lại liều mình tự tử như mấy tháng trước. Ôi! Mẹ đã hy sinh chịu nhục vì con và vì thương một người côi cút trong cơn hoạn nạn. Con xin cúi đầu bái phục lòng can đảm của mẹ cho đến trọn đời.

Trước ngày ra đi, tôi đã trở về để từ giã gia đình. Ngay khi biết tin tôi sắp sửa ra đi, Trang đã khóc nức nở và chuyển bụng sinh con. Vì bao nhiêu biến cố xẩy ra dồn dập suốt thời kỳ mang thai, Trang đã trải qua một đêm dài đau đớn, quằn quại đến kiệt sức nên y tá trong làng đề nghị phải đưa nàng đi cấp cứu ở bệnh viện để mổ. Đáng lẽ sáng hôm sau tôi phải trở lại Cần Giờ để chuẩn bị ra đi, nhưng tôi đi không đành nên đã lỡ một “chuyến đò”. Tôi theo mẹ và Trang ra bệnh viện. Trong lúc làm thủ tục giấy tờ trước khi đưa Trang lên bàn mổ, người ta đòi phải có thân nhân ký tên trong giấy tờ nên tôi đã đứng ra lo liệu... Cũng có thể vì lầm lẫn, và cũng có thể do số phận an bài nên các bác sĩ và y tá đã ghi tên tôi là “chồng” của Trang trong hồ sơ bệnh lý. Đó là lý do tại sao Tuân trở thành con tôi! Khi nghe tin Trang đi mổ, cha mẹ anh Thành cũng ghé thăm và xin lỗi mẹ tôi vì những hiểu lầm trước đây. Mẹ tôi cũng không chấp nhất gì nên mọi người đều vui vẻ.

Sau hai tuần Trang được xuất viện, trở về nhà với mẹ tôi. Mẹ tôi bàn qua với hai bác việc lên cha xin rửa tội cho cháu, và chính tờ giấy bệnh viện ghi tên tôi là cha đứa nhỏ đã gây nên sóng gió ồn ào cả xứ đạo. Cha xứ lắng nghe, nhưng Ban Hành Giáo và bà con trong họ anh Thành quyết liệt phản đối. Họ đến nhà hạch hỏi mẹ tôi đủ điều. Tuổi trẻ háo thắng nên tôi đã nổi nóng đuổi hết mọi người và quyết định chẳng thèm xin rửa tội cho Tuân nữa! Tôi chỉ muốn mọi người để cho chúng tôi yên nhưng miệng người không phải dễ “khóa”! Tôi ngang tàng chấp nhận sự dèm pha của mọi người và cứ hiên ngang ngẩng đầu tiếp tục chạy mánh tìm ghe lo chuyện vượt biên lần nữa. Lần này tôi quyết định sẽ đưa mẹ con Trang cùng đi.

Tôi có thể “đạp dư luận xuống bùn đen” để sống, nhưng Trang phải âm thầm than khóc từng đêm, nức nở đè nén “nỗi oan Thị Kính” từng giờ từng phút nên đã bị băng huyết cho đến chết, và chết trong tủi nhục vào một đêm tôi vắng nhà! Tôi trở về nhìn xác Trang nằm im bất động mà thấy lòng muốn nổi loạn. Tôi biết chắc chắn những phút cuối đời Trang đã phải quằn quại trong đớn đau tủi nhục! Tôi đã thực sự thù ghét mọi người trong xứ khi biết tin “người ta” không muốn cho tôi chôn Trang ở nghĩa trang giáo xứ vì bà con trong làng nghĩ rằng Trang đã tự tử! Tôi không hiểu tại sao cả xứ lại lên án và “trừng phạt” thân xác một người đã chết trong khi hằng tuần ở nhà thờ vẫn đọc kinh “Thương Người Có 14 Mối, Thương Xác 7 Mối”, trong đó có ghi rõ việc “chôn xác kẻ chết!” Đâu có ai hiểu được nỗi đau đớn và tủi nhục đã gặm nhấm tim gan Trang từng giây từng phút vì bị cả làng, cả xứ kết tội oan ức, và nhất là sự dằn vặt nàng phải gánh chịu vì đã “gieo họa” cho gia đình tôi! Đâu có ai ở gần kề bên Trang trong những giây phút cuối đời của nàng để “kết án” nàng đã “liều mình tự tử”!!! Mẹ tôi muốn lên xin cha xứ giúp đỡ nhưng tôi đã điên lên phản đối. Tôi nhờ bạn bè ở xa về đào huyệt chôn Trang trong một góc rẫy của gia đình tôi ở mép rừng. Tôi đã bỏ xưng tội, bỏ lễ cả mấy năm trời vì lòng thù hận vẫn chưa nguôi! Đã nhiều đêm tôi gục đầu dưới tượng chịu nạn van xin lòng nhân từ hay thương xót của Chúa thay đổi trái tim “thù hận” của tôi, và tôi cũng xin Ngài thương tha cho những người đã kết tội “oan” cho chúng tôi! Tôi chỉ thật sự trở về với Chúa như “một con chiên lạc” mấy tuần trước ngày vượt biên... 

Cháu Tuân tuy mồ côi mẹ nhưng được bú nhờ sữa của em gái tôi cũng mới sinh được vài tháng nên cháu vẫn lớn lên theo ngày tháng trong tình thương yêu đùm bọc của gia đình tôi. Tôi vẫn đi đi, về về tìm mối làm ghe vượt biển. Những hôm ở nhà, thỉnh thoảng tôi bế Tuân ra rẫy, đến ngồi bên mộ Trang khấn nguyện. Công việc làm ghe càng ngày càng khó khăn nên mãi 4 năm sau tôi mới thành công. Trước khi lên đường, tôi đã vô rừng tìm kiếm và đào được một cây bằng lăng nhỏ đem trồng bên mộ Trang để làm kỷ niệm. Lúc bấy giờ Tuân đã chạy nhanh, nói sõi và lúc nào cũng quấn quít bên tôi những ngày tôi về quê. 

Cuối cùng tôi quyết định sẽ dẫn Tuân cùng đi mặc dầu mẹ tôi can ngăn nhiều lần. Tôi đã đi và tôi đã đến. Chính nhờ sự liều lĩnh của tôi mà Tuân có được ngày hôm nay. Tôi hãnh diện vì sự thành đạt của Tuân. Tôi mang ơn Oanh vì nàng đã tận tình yêu thương săn sóc “cha con” tôi từ bao nhiêu năm qua. Nếu không có tình yêu và lòng vị tha thông cảm của Oanh, tôi đã ngã quỵ trong cô đơn nơi xứ lạ quê người, và Tuân lại một lần nữa thành trẻ “mồ côi”! 

Nhìn hình ảnh Tuân hiên ngang bước lên khán đài, tôi cảm động rưng rưng nước mắt. Tôi không khóc khi Trang chết. Tôi không khóc khi phải chôn nàng ở mép rừng thay vì chôn ở nghĩa trang của giáo xứ. Tôi không khóc khi từ giã mẹ già và gia đình ra đi, nhưng giờ này tôi khóc vì biết chắc chắn Tuân đã trưởng thành, và mấy ngày nữa sẽ về thăm mộ mẹ đang nằm cô đơn hiu quạnh dưới gốc cây bằng lăng “cha con tôi” đã trồng trước ngày “biệt xứ”.

o0o

Oanh đứng nép sát vào người tôi, run run cảm động nhìn Tuân đốt hương cắm lên mộ Trang rồi quỳ xuống gục mặt khóc thật to. Tôi dìu Oanh đến cạnh gốc cây bằng lăng đã bị đốn từ mấy năm trước, chỉ còn một số chồi non mới lên được vài mét. Tôi kinh ngạc khi khám phá ra một cành bằng lăng mới chớm vài nụ hoa mầu tím. Tôi với tay bẻ rồi cùng Oanh đến quỳ bên cạnh Tuân, nhẹ nhàng đặt cành hoa mầu tím trên ngôi mộ của Trang. Tuân ngẩng mặt lên nhìn hai chúng tôi khẽ nói:
- Con biết mẹ con đang mỉm cười bên kia thế giới. Con xin thay mặt cha mẹ quỳ lạy ba má đã nuôi con nên người.

Tuân nhẹ nhàng trao cho tôi tờ giấy thử nghiệm mẫu DNA xác định nó và tôi không phải “cha con”!


Nguyễn Duy-An