Thursday, July 2, 2015

Về Galang


Nghĩa Trang Galang là chứng tích của một giai đoạn lịch sử không thể xoá bỏ về một hành trình đi tìm tự do bằng mọi giá của cả triệu người Việt.
• Trùng Dương

Tôi đến Thái Lan tả tơi, ủ dột, eo xèo và bèo nhèo như một cái mền sakymen thấm nước. Vì không có thân nhân ở Hoa Kỳ, từ đây, tôi được đưa sang một trại tị nạn chuyển tiếp để chờ một hội thiện nguyện bảo trợ cho vào Mỹ.
Thế là tôi bắt đầu cuộc đời ly hương của mình bằng những ngày mưa đầu mùa ở Galang, một hòn đảo nhỏ bé, thuộc Nam Dương.
Những chiều mưa đầu mùa bao giờ cũng buồn. Những chiều mưa đầu mùa nơi đất lạ thì buồn muốn chết! Tôi cứ ngồi bó gối, nhìn những giọt nước trong veo (nương nương) chạy theo mái láng mà nhớ nhà muốn khóc.
Có hôm tạnh ráo, đi lang thang quanh đảo mãi cho đến lúc gần xẫm tối, tôi lạc vào một khu đất trống. Thoáng nghe tiếng muỗi vo ve, tôi nhìn xuống chân và hốt hoảng nhận ra là mình đang dẵm chân trên những nấm mồ của những người đã qua đời tại trại.
Giữa buổi chiều tà vắng lặng, trên một hải đảo hoang vu, cách quê nhà cả một đại dương xanh thẫm, đứng trên những nấm đất “xè xè” – mọc đầy cỏ dại, vương vãi mấy chân nhang đã bạc phếch mầu – tôi bỗng cảm được hết sự lạnh lẽo, thê lương, và ảm đạm của cái cảnh “vùi thây nơi đất khách quê người.” Cùng lúc, tôi cũng hiểu ngay tại sao trên những ban thờ nho nhỏ – ở quê nhà – thường luôn có khói hương ấm áp, và ngọn đèn dầu hột vịt (tù mù) cho đỡ phần quạnh quẽ.


Photo: Nghĩa Trang Galang. Bên phải là trụ xi măng trạm hình cờ vàng ba sọc đỏ của VNCH, buộc phải sơn lại trắng đen bởi áp lực của nhà đương cuộc Hà Nội. Ảnh: N.C.B
Tôi rời Galang vào một buổi sáng cuối năm 1980 và trở lại ba mươi bốn năm sau, vào một chiều cuối năm 2014. Nghĩa trang của trại là nơi tôi cùng người bạn đồng hành (anh N.C.B) đến viếng đầu tiên. Nhìn những mộ phần khang trang, ngăn nắp, vôi quét trắng tươi, cỏ dọn sạch sẽ, nằm gọn gàng ngay ngắn – giữa biển trời bao la – tôi mới chợt nhận ra rằng mình là một kẻ (sống) rất vô tình.
Tôi đã hăm hở và hối hả rời bỏ Galang, để lại không biết bao nhiêu là nấm mồ hoang lạnh của những đồng bào và đồng cảnh mà chưa bao giờ nhìn lại (dù chỉ một lần) cho mãi đến khi tóc đã đổi màu.
May mắn là không phải mọi kẻ tị nạn nào đều bạc bẽo như nhau, và không ít người sống rất có tình; nhờ vậy, hôm nay tôi mới có “lối” để về thăm chốn cũ.
Tôi rất thích bản nhạc Nha Trang Ngày Về (... ngồi đâу tôi lắng nghe... Ƭôi như là con ốc, bơ νơ nằm trên cát. Chui sâu vào thân xác lưu đầy...) dù không được quen biết bất cứ ai ở miền “thùy dương cát trắng.” Tôi cũng không có mối tình nào ở Galang, dù có viết mấy câu thơ, viết “dùm” cho những cô gái bị người tình phụ (mà dân ở đảo gọi là Galang tình xù) nhưng không còn nhớ được toàn bài:

Xa anh trời vào hạ
Thái Lan mưa đầu mùa
Bây giờ là cuối hạ
Nam Dương trời đang mưa
Galang đời cũng đẹp
Người ta thường có đôi
Riêng mình em thì trót
Yêu anh rồi nên thôi
Em rất thường ra biển
Nhìn về phương trời xa
Cali anh có nhớ
Biển đêm nào, Songkhla
Đường em đi trước mặt
Chắc là Galang II
Thêm vài năm lận đận
Ai mà chờ được ai
Thư anh ngày một chậm
Nét chữ càng thêm to
Giấy trắng thừa ra mãi
Làm sao em không lo
Hay là thôi anh nhé
Làm bận lòng nhau chi
Biết đâu đời lại đẹp
Khi đường ai nấy đi

Lần lượt, trước sau, những chàng trai cùng những cô gái ở tuổi đôi mươi (thưở ấy) đều đã “đi” định cư ở một quốc gia thứ ba nào đó. Và (chắc) cũng chả có mấy ai, mấy khi, ngoái về chốn cũ?
Galang, chiều nay, quanh tôi không một bóng người – ngoài vài bầy khỉ nhỏ, và năm bẩy chú hưu sao (đứng ngơ ngác nhìn khách lạ) trong một khu đất rộng, gần nơi trưng bầy mấy con tầu đã đưa đám thuyền nhân đến hải đảo này.
Ảnh: N.C.B


Galang hoang vu, và hoang tàn quá. Tôi bước vào một ngôi chùa, không có ai ráo trọi. Nhà thờ cũng vậy. Trống trơn. Tượng Đức Mẹ Vô Nhiễm được che bởi một tấm bạt lớn phiá trên (ý hẳn để cho ngài đỡ giãi dầu mưa nắng) nhưng e cũng chả có tác dụng chi nhiều vì sự khắc nghiệt và khốc liệt của nắng mưa, nơi vùng nhiệt đới.



Ảnh: N.C.B
Cạnh đó là bức tượng thánh Giuse đã rớt mất một bàn tay, ngó mà ái ngại. 



Ảnh: N.C.B
Trong tấm biển chỉ dẫn (cũng đã rơi xuống đất từ lâu) ngay ở cổng vào có ghi hàng chữ “Cao Dai Pagoda” nhưng chúng tôi tìm mãi vẫn không thấy Thánh Thất nơi nào cả.

 Ảnh: N.C.B
Cho đến khi bước chân vào gian nhà dùng làm Bảo Tàng Viện Thuyền Nhân thì tôi mới thấy Galang vẫn còn chút ... hơi thở nhẹ, nhờ tiếng nhạc nho nhỏ phát ra tự bên trong. Cái gì chớ nhạc Việt thì tôi rành sáu câu, nhất là nhạc sến, vậy mà tôi hoàn toàn không biết bài hát (lạ hoắc) này. Tôi chỉ “cảm” được là nó rất sến (sến hết biết luôn) nhưng vẫn thấy vui thích với cái ý nghĩ là mình – một thằng vô cùng bạc bẽo – vẫn được Galang mở rộng vòng tay (đón nhận) khi trở lại.
Thái độ rất thân thiện tử tế của nhân viên an ninh, cũng như sự chỉ dẫn vui vẻ và tận tình của người trông coi những di vật còn lại của thuyền nhân cũng khiến tôi vô cùng cảm động, dù chúng tôi có bị trở ngại (ít nhiều) vì bất đồng ngôn ngữ. Tôi và anh bạn hăng hái ký tên vào sổ lưu niệm, và sốt sắn hiến tặng hết cả số tiền mà chúng tôi có sẵn trong người.
Lúc trở ra, tôi thật hân hoan khi thấy hai chiếc xe du lịch (cùng với du khách) nối đuôi nhau vào trại – dù trời đã ngả chiều. Phải vậy chớ. Không lẽ cả một trung tâm du lịch mà có mình (ên) tụi tui thì coi sao được.


Tình trạng thưa vắng du khách ở Galang chắc đã bắt đầu từ nhiều năm trước. Nhật báo Jakarta Post, số ra ngày 01 tháng 8 năm 2009, có bài viết (“Vietnamese Refugee Camp Still Open’) đề cập đến yêu sách đóng cửa trại tỵ nạn (Galang) của nhà đương cuộc Hà Nội.
Bài báo này dẫn lời bà Nada Faza Soraya – Chánh Sự Vụ Phòng Thương Mại Của Nam Dương – nói rằng khu trại rất quan trọng đối với hướng dẫn viên du lịch, và họ không hề có ý muốn khai thác quá khứ đen tối của chính phủ Việt Nam. (“There was no intention of exploiting the gloomy past of Vietnamese gorvernment”).
Cùng thời điểm này, từ Galang, phóng viên Hồng Nga của BBC cũng có bài tường thuật (nghe được vào ngày 5 tháng 8 năm 2009) về sự việc này:
“Hai thập niên hiện diện của người Việt tại đây khiến thông tin trại có thể sẽ đóng cửa vĩnh viễn, ngừng đón người tới thăm khiến người dân địa phương ngỡ ngàng.”
“Lý do chính là từ khi ngừng hoạt động, trại tỵ nạn Galang cũ đã trở thành một địa chỉ du lịch khá phổ biến, mang lại thu nhập cho người bản địa.”
“Dư luận địa phương bày tỏ bất bình, trong khi có cáo buộc chính phủ Việt Nam đã gây áp lực với Jakarta để làm công việc này.”
Đồng thời, đại diện tổ chức Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam, ông Trần Đông cũng đã lên tiếng chỉ trích việc “âm thầm xóa bỏ dấu vết tội ác, hủy hoại di tích lịch sử và nhân đạo thế giới tập đoàn đảng trị và tay sai Bắc Kinh tại Hà Nội.”
Nhân đây, cũng xin được nói thêm đôi điều về cơ quan thiện nguyện Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam (Archives of Vietnamese Boat People – AVBP) qua lời của nhà văn Trùng Dương, sau chuyến đi thăm Galang của chị, vào năm 2012:


“Hội AVBP, Web site tại http://www.vnbp.org/, được thành lập từ năm 2004, nhằm tìm kiếm và trùng tu các mộ phần thuyền nhân, không phân biệt có tên hay vô danh, ở rải rác các nơi trong vùng Đông Nam Á, đồng thời ghi dấu lại các di tích thuyền nhân để các thế hệ sau biết mà tìm đến vì chính quyền Cộng Sản Việt Nam cố tình muốn xoá bỏ những di tích lịch sử này, để đồng thời bạch hoá tội lỗi của chế độ ngu muội hà khắc đã là nguyên do đẩy cả triệu người Việt ra biển đi tìm một đời sống có tự do và nhân phẩm, với từ 200,000 tới nửa triệu con người bị chết trên đường đi tìm một đồi sống có nhân phẩm. Sự hy sinh này và phần mộ của những người còn may mắn có được nấm mồ chính là những chứng tích của một giai đọan lịch sử cần được duy trì và bảo vệ.”
Trong một cuộc phỏng vấn dành cho phóng viên Thanh Quang (RFA) nghe được vào hôm 17 tháng 10 năm 2013, ông Trần Đông – Giám Đốc AVBP – cho biết thêm chi tiết:
Chúng tôi tin tưởng mạnh mẽ rằng tới cuối năm 2015 sẽ hoàn tất công trình mộ phần thuyền nhân Việt Nam tại tất cả những nơi vừa nói. Hiện giờ chúng tôi đang xúc tiến ráo riết tổ chức gây quỹ trong năm 2014 song song với việc trùng tu mộ thuyền nhân trong 2014 và 2015. Chúng tôi rất hy vọng được sự đóng góp giúp đỡ của tất cả đồng hương khắp nơi trong đợt gây quỹ lần cuối cùng vào năm 2014 và có thể có những cuộc gây quỹ nhỏ nữa trong năm 2015 để hoàn tất công tác trùng tu tất mộ thuyền nhân trong vùng Đông Nam Á vào cuối năm 2015.”
Photo: Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam
Tôi không hy vọng là Galang, trong tương lai gần, có thể trở thành một công viên du lịch hấp dẫn hay một khu di tích lịch sử – như nhiều người mong đợi vì điều này tùy thuộc hoàn toàn vào thái độ của chính quyền địa phương, và ngoài tầm tay của cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Tuy nhiên, tôi tin chắc là VKTNVN “sẽ hoàn tất công tác trùng tu 2500 mộ thuyền nhân rải rác khắp vùng Đông Nam Á vào cuối năm 2015” – dù biết rằng đây chả phải là chuyện dễ dàng chi, và rất cần sự góp sức của mọi người.
Đó là việc tối thiểu mà chúng ta có thể làm được, và bắt buộc phải làm. Những người cầm quyền hiện nay ở VN không mong gì hơn là chúng ta thất bại trong việc duy trì và bảo tồn “lịch sử thuyền nhân.”
Nếu không có cái “lịch sử” bi tráng này và “những chứng tích của một giai đọan lịch sử cần được duy trì và bảo vệ” thì cộng đồng thuyền nhân (hôm nay) và con cháu của họ (sau này) nào có khác gì một đám người trôi sông lạc chợ.

 S.T.T.D. Tưởng Năng Tiến

9/11: Do Thái là thủ phạm – Kỳ I

 
9/11: Do Thái là thủ phạm – Kỳ I
** Nội dung chính của tài liệu nầy lấy từ Information Underground forum, tháng 5/2009, với tựa đề "Israel did 9/11 - All the proof in the world". Đây chỉ là một trong số vài phiên bản khác nhau về đề tài nầy. – Đỉnh Sóng
  
Khi một biến cố xảy ra làm thay đổi triệt để động năng của địa chính trị toàn cầu, có một câu hỏi trên tất cả những câu hỏi khác mà câu trả lời hầu như chắc chắn sẽ nêu đích danh các thủ phạm. Câu hỏi là "Cui bono" (Ai được lợi?) Nếu những kẻ bị lên án đồng thời được xem là có cả động cơ lẫn phương tiện thì ở Hoa Kỳ người ta nói chắc chắn những kẻ đó là thủ phạm. Và biến cố 9/11 cũng thế. Những phiên bản chính thức về biến cố 9/11 hiển nhiên là vô lý, vì, cho đến nay, chỉ có hai tổ chức trên toàn thế giới có được kỹ năng, phương tiện, quyền truy cập và bảo vệ chính trị cần thiết để vừa thực hiện vụ 9/11 vừa tiến hành bao che. Hai tổ chức đó là những Cơ Quan Tình Báo – CIA của Hoa Kỳ và Mossad của Israel - cơ quan nầy được xem là có những động cơ thôi thúc nhất. Những động cơ nầy ăn khớp tuyệt vời với nghị trình của nhóm thảo thuyết bảo thủ PNAC (Project for the New American Century), với nhu cầu công khai đặt ra là phải có "một biến cố thảm khốc, và xúc tác – như một tân Trân Châu Cảng" đẻ động viên dư luận cho những cuộc chiến tranh đã hoạch định, với hệ quả là tiêu diệt những kẻ thù của Do Thái.
Ai kiểm soát Tòa Tháp Đôi
Bước thứ nhất để chuẩn bị cho những vụ tấn công 9/11 là nắm quyền kiểm soát Trung Tâm World Trade Center(WTC ). Điều nầy là then chốt vì không nắm được quyền kiểm soát toàn bộ thì việc gài những chất nổ để đánh sập toà nhà sẽ gần như bất khả thi vì rủi ro bị phát hiện rất lớn.
Bốn tay đầu sỏ trong hệ thống Do Thái
Larry Silverstein – Silverstein là một thương gia Mỹ gốc Do Thái ở New York. Vào ngày 24/7/2001, Silverstein có được một hợp đồng thuê toàn bộ WTC    99 năm. Hai tòa tháp thực sự gần như chẳng đáng giá gì vì tràn ngập những amiăng, nhưng Larry "cảm thấy rất muốn có được chúng." Silverstein thường ăn điểm tâm ở nhà hàng Windows on the World (lầu 107, North Tower) mỗi sáng, nhưng y vắng mặt ở buổi điểm tâm đó vào buổi sáng 11 tháng 9. Hai người con của Silverstein – cùng làm việc trong Tòa Tháp Đôi – cũng quyết định nghỉ việc hôm đó. Silverstein được hảng bảo hiểm trả hơn $4.5 tỉ do tòa nhà bị phá hủy. Silverstein rất thân tình với Rupert Murdoch, một tay trùm truyền thông gốc Do Thái, với Ariel Sharon, cựu tổng thống Do Thái, cũng như với Thủ Tướng Do Thái PM Benjamin Netanyahu. Silverstein thân thiết với Netanyahu đến độ, theo tờ báo Do Thái Haaretz, y thường nói chuyện với ông ta qua điện thoại mỗi chủ nhật.
Frank Lowy – Lowy, một người Do Thái sinh ở Tiệp Khắc, là chủ nhân của Westfield America, một trong những tổ hợp trung tâm thương mại lớn nhất thế giới. Lowy đã thuê khu thương mại trung tâm (Mall) ở WTC ,chiếm khoảng 427,000 feet vuông diện tích bán lẻ của lầu. Lowy cũng là bạn bè thân thiết với những viên chức cao cấp Do Thái như Ehud Olmert, Ariel Sharon, Bibi Netanyahu, và Ehud Barak. Frank Lowy không có mặt tại Tòa Tháp Đôi ngày 9/11.
Lewis Eisenberg – Eisenberg là giám đốc của Port Authority of New York và đã chấp thuận hợp đồng thuê phố cho Silverstein và Lowy. Eisenberg là một người cống hiến tiền quan trọng cho chiến dịch tranh cử tổng thống của Bush-Cheney, cũng như là một đối tác trong ngân hàng Do Thái Goldman-Sachs. Eisenberg từng là một thành viên của Hội Đồng Planning Board của nhóm áp lực chính phủ thân Do Thái mệnh danh là United Jewish Appeal/United Jewish Federation.
Ronald Lauder – Trùm tỉ phú mỹ phẩm Estée Lauder là chủ tịch ủy ban tư hữu hóa của Thống Đốc New York George Pataki. Y là nhân vật then chốt đứng ra vận động hành lang để tư hữu hóa WTC    – và y cũng đóng vai trò then chốt trong việc tư hữu hóa căn cứ không quân Stewart Air Force Base. Lạ thay, đường bay của phi vụ 175 và 11 lại trực tiếp gặp nhau trên phi trường nầy. Lauder hoạt động tích cực trong nhiều tổ chức Do Thái và đã thành lập một trung tâm cho cơ quan tình báo Mossad ở Herzliya, Do Thái, mang tên Lauder School of Government Diplomacy and Strategy. Lauder được nghi là tay đầu sỏ trong kế hoạch 9/11.
An ninh của World Trade Center trong tay Do Thái
  
Yếu tố kiểm soát then chốt thứ nhì là an ninh cho WTC . Yếu tố nầy cần có để cho phép truy cập vào những khu vực chiến lược của trung tâm để đặt chất nổ trong giai đoạn trước khi xảy ra các cuộc tấn công. Hợp đồng điều hành an ninh tại WTC    được giao cho Kroll Associates sau vụ đánh bom năm 1993. Kroll còn có biệt hiệu là "Wallstreet's CIA". Hợp đồng nầy do cơ quan Port Authority của New York chấp thuận, và Kroll Associatesđược trả $2.5 triệu để tăng cường lại hệ thống an ninh cho WTC. Chủ nhân của Kroll Associates là hai tay Do Thái tên là Jules & Jeremy Kroll. Quản đốc của Kroll Associates    lúc bấy giờ là Jerome Hauer, và tay nầy cũng được chọn để điều hành cơ quan Office of Emergency Management (OEM) của Thị Trưởng Guiliani từ 1996 đến 2000. Y là nhân vật chủ chốt đã vận động để cơ quan nầy được đặt để trong    WTC    Building 7 của Silverstein (tòa nhà thứ ba sẽ bị đánh sập trong vụ 9/11). Jerome Hauer cũng là người Do Thái và là một tayZionist sừng sỏ. Rose Muscatine Hauer, mẹ của Hauer, là chủ tịch danh dự của phong trào Lập Quốc Israel, một trong những tổ chức Zionist trung tâm dính líu trong việc thành lập và hỗ trợ Nhà Nước Israel. Chính Jerome Hauer là người đã khuyến cáo Tòa Bạch Ốc xử dụng "CIPRO," một loại kháng sinh chống Anthrax – một tuần lễ trước vụ tấn công Anthrax qua bưu điện. Hauer là một "chuyên viên" về khủng bố sinh học (Bio-Terrorism), nhưng phản ứng của y trong vụ tấn công Anthrax qua bưu điện lại chậm chạp, và y lợi dụng thời cơ để nhắc đi nhắc lại điệp khúc "Osama Bin Laden."
  
Ai giết John O'Neil?
John O'Neil, một cựu đặc vụ FBI, trước kia tình cờ lại được giao nhiệm vụ điều tra Bin Laden, và nay được Jerome Hauer thuê làm giám đốc an ninh tại WTC. Quả là ngoạn mục khi O’Neil lại bị giết ngay trong ngày làm việc đầu tiên của ông tại    WTC    – 9/11. Điều quan trọng cần ghi nhớ là O’Neil đã nghĩ việc ở FBI sau khi cuộc điều tra của ông về vụ tấn công khu trục hạm U.S.S. Cole bị Đại Sứ Mỹ gốc Do Thái ở Yemen là Barbara Bodine cản trở và phá hoại. Lý do là vì vụ tấn công đó có thể không do Al Qaeda thực hiện. Khu trục hạm nầy bị hỏa tiễn Do Thái bắn để chuyển hướng dư luận chống lại người Ả Rập (Al Qaeda), cũng như để trả đũa đảng Dân Chủ đã không xem trọng những đe dọa khủng bố. Kết qua là một George Bush Jr. được phóng lên tổng thống kịp lúc cho vụ 9/11. Tất cả kịch bản nầy được chôn vùi trong khối hỏa mù quan liêu phức tạp.
  
An ninh phi trường trong tay Do Thái
Yếu tố kiểm soát thứ ba cần được thiết lập là yếu tố an ninh tại tất cả những phi trường từ đó những phi vụ không tặc sẽ xuất phát. Công tác rà soát hành khách cần phải được đảm trách bởi những nhân viên được điều khiển để cho phép một số người hay vật dụng nào đó (như vũ khí, chẳng hạn) được lên máy bay. Công ty phụ trách an ninh phi trường  tại ba phi trường xảy ra những vụ mệnh danh là không tặc là Huntsleigh USA, một chi nhánh của ICTS International và do Ezra Harel và Menachem Atzmon làm chủ - cả hai đều là Do Thái. Công ty nầy được điều hành bởi những "chuyên viên" trong lãnh vực an ninh và tình báo – nghĩa là tình báo Do Thái. Đa số nhân viên đều thuộc phong trào Lập Quốc Do Thái (Zionism). Thật khó tin khi công ty an ninh nầy – vốn phụ trách an ninh tại cả hai phi trường Boston Logan và Newark – lại "lơ là" đến nỗi cho phép 19 người Ả Rập lên 4 phi cơ khác nhau với những dụng cụ rạch thùng, gậy, và thậm chí một cây súng nữa.
Menachem Atzmon, nguyên thủ quỹ của đảng Likud trong thập niên 80, đã dính dáng trong một tai tiếng chính trị Do Thái, cùng với Ehud Olmert và những đảng viên Likud khác. Y bị kết án gian lận, giả mạo giấy tờ, và vi phạm luật Party Funding Law.
Công ty ICTS International cũng phụ trách an ninh phi trường khi tên mang bom trong giày (shoe bomber) Richard Reid lên một phi cơ với cái được nói là một quả bom trong giày. Nếu Reid thực sự là một tên khủng bố thay vì một con mòng của Mossad, thì lý ra ICTS đã không để hắn lên máy bay. Một điểm nữa cho thấy sự đồng lõa của ICTS: một vài tiếng trước khi Dự Luật Patriot Act được bỏ phiếu thành luật, nó được sửa đổi để giúp những công ty ngoại quốc phụ trách an ninh trong vụ 9/11 được miễn tố. Điều nầy ngăn chặn những tòa án Hoa Kỳ không được đòi hỏi ICTS    ra làm chứng hay trao những băng ghi hình an ninh từ các phi trường.
Umar Farouk Abdulmutallab (được mệnh danh là "Underwear Bomber")  là một người Đạo Hồi ở Nigeria và được nói là một tên khủng bố đã toan châm ngòi những chất nổ giấu trong quần lót khi đang trên chuyến bayNorthwest Airlines Flight 253 từ Amsterdam đến Detroit, Michigan, vào ngày Giáng Sinh 25/12/2009. Abdulmutallab đã lên phi cơ đến Mỹ từ phi trường Schiphol Airport ở Amsterdam. Kurt Haskell, một luật sư ở Michigan, cũng đáp cùng chuyến bay đó và nhớ đã nhìn thấy Abdulmutallab và một người đàn ông trông giống người Ấn Độ ăn mặc bảnh bao đã giúp Abdulmutallab lên máy bay. Haskell nói rằng Abdulmutallab đã lên máy bay mà không có thông hành. An ninh tại phi trường Schiphol Airport cũng do công ty Do Thái ICTSInternational đảm trách.
  
Biết trước
Vào tháng 10/2000, khoảng 11 tháng trước khi xảy ra vụ 9/11, một sỹ quan Phòng Không Do Thái về hưu và một cựu chiến binh của trận Yom Kippur War (1973), đi thu thập những cành thường xuân Anh (English Ivy Cuttings) tại nghĩa trang Gomel Chesed Cemetery ở McClellan và 245 Mount Olive Avenue, gần ranh giới thành phố Elizabeth và Newark, New Jersey. Gomel Chesed Cemetery là một nghĩa trang Do Thái. Câu chuyện giữa họ và một người thứ ba đến từ một chiếc xe Lincoln đã có người nghe lỏm được:
- "The Americans will learn what it is to live with terrorists after the planes hit the twins in September." (Người Mỹ sẽ biết thế nào là sồng với bọn khủng bố sau khi những máy bay đánh vào tháp đôi vào tháng Chín).
- "Don’t worry, we have people in high places and no matter who gets elected, they will take care of everything." (Đừng lo, chúng ta có những người trên chóp bu và bất luận ái đắc cử đi nữa thì họ cũng sẽ lo hết mọi chuyện).
Người nghe được câu chuyện trên đã thuật lại cho FBI nhiều lần chỉ để bị làm ngơ mỗi lần như thế.
  
Các công dân Do Thái được báo trước
Odigo, một công ty instant messaging (hội thoại trực tuyến) của Do Thái, thú nhận rằng, hai tiếng trước khi chiếc máy bay đầu tiên đâm vào WTC, hai nhân viên của họ đã nhận được những cảnh báo về một vụ tấn công sắp xảy ra. Cảnh báo nầy đã không được chuyển đến các cơ quan hữu trách. Odigo có một qui định trong những dịch vụ của họ cho phép chuyển tiếp những nội dung hội thoại qua một hệ tìm dựa trên quốc tịch. Nếu hai người Do Thái nào đó được cảnh báo thì có thể hai người nầy đã chuyển tiếp cảnh báo đó đến những người Do Thái khác. Có thể là như thế nếu xét rằng, trong số 4000 người Do Thái được nghĩ đã làm việc trong hay chung quanh    WTC    và Pentagon, chỉ có 5 (năm) người chết – 5/4000 người Do Thái. Theo thống kê, nếu không được cảnh báo, thì khoảng 10% có thể đã chết (nghĩa là 400/4000). Nhưng chỉ có 5 người Do Thái chết và 2 trong số 5 người đó đang bay trên những chuyến bay được nói là bị không tặc! Như thể chỉ có 3 người Do Thái chết tại chính trung tâm WTC    vào ngày 9/11 – một con số thống kê đầy ngạc nhiên! Con số đó chỉ áp dụng cho những người dân Do Thái (Israeli nationals), chứ không phải những người Mỹ gốc Do Thái (American Jews) – số người nầy chết khá nhiều tại WTC    trong vụ 9/11. Odigo có những văn phòng tại New York, và ở Herzliya, thuộc Israel. Herzliya cũng là địa bàn của những tổng hành dinh Mossad.
  
Những cảnh báo khác
   Vào ngày Sep 10, 2001, chi nhánh Tokyo của Goldman Sachs cảnh báo những nhân viên Mỹ của họ nên lánh xa những buildings Mỹ. ZIM, một công ty Do Thái, đã di tản khỏi văn phòng của họ (10,000 square feet) trên tháp North WTC    một tuần trước biến cố 9/11, bỏ ngang hợp đồng thuê phố. 49% của công ty nầy do chính phủ Israel sở hữu. Hợp đồng thuê phố đến cuối năm 2001 mới mãn, và công ty nầy phải chịu phạt $50,000 vì chấm dứt sớm.
Sau nầy, Michael Dick, một nhân viên FBI, người bấy giờ đang điều tra việc gián điệp của Israel trước và sau vụ 9/11 và theo dõi những động thái đáng nghi ngờ, đã bị Michael Chertoff cách chức – tay nầy bấy giờ là giám đốc cơ quan hành sự Bộ Tư Pháp, và là một tay hỗ trợ đắc lực cho chủ nghĩa Zionism (Lập Quốc Do Thái). Theo nguồn tin của một nhân viên chìm CIA từng làm việc bên cạnh Dick, những "dọn nhà Do Thái (Israeli movers)" đã đưa chất nổ vào khi ZIM di tản ra. Như thế chỉ còn một công ty Do Thái trong WTC    làClearforest với 19 nhân viên vào ngày 9/11, nhưng thực sự chỉ có 5 nhân viên có mặt trong tòa nhà hôm đó và tất cả 5 người nầy đều thoát được cả.
  
Những móc nối của cơ quan tình báo Mossad
Năm 2001, một trung tâm nghiên cứu ưu tú của Quân Đội Hoa Kỳ đã thiết kế một kế hoạch nhằm thực thi một hòa ước quan trọng giữa DoThái – Palestine, một kế hoạch đòi hỏi khoảng 20,000 binh sỹ được trang bị tối tân đồn trú khắp Israel và nhà nước Palestine mới thành lập. Người ta tiên liệu những biến cố trong năm đầu tiên của hoạt động bảo vệ hòa ước, và nhìn thấy những hiểm họa đối với những binh sỹ Hoa Kỳ đến từ cả hai bên. Khi nói về Mossad, cơ quan tình báo Do Thái, các sỹ quan Quân Đội Hoa Kỳ nhận xét: "Wildcard. Ruthless and cunning. Has capability to target U.S. forces and make it look like a Palestinian/Arab act." (Khó lường. Tàn nhẫn và xảo quyệt. Có khả năng nhắm vào lực lượng Hoa Kỳ và xem đó như là một hành động Palestine/Ả Rập). Điều ngạc nhiên là nhận xét trên được tường thuật lại trên tờ Washington Post vào ngày September 10, 2001.
  
Gián điệp Do Thái quanh vụ 9/11
Trước vụ 9/11 không bao lâu, hơn 140 người Do Thái đã bị bắt vì bị tình nghi gián điệp. Một số trong bọn họ đóng vai những sinh viên nghệ thuật. Những nghi can nầy nhắm vào và thâm nhập những căn cứ quân sự, DEA, FBI, Secret Service, ATF, U.S. Customs, IRS, INS, EPA, Interior Dept., U.S. Marshal’s Service, US Attorneys Offices, những văn phòng bí mật của chính phủ, những tư gia không niêm yết của các viên chức công lực và tình báo. Hầu hết những nghi can đều phục vụ trong ngành tình báo quân sự Do Thái, trong những đơn vị chặn sóng thám sát điện tử    hay những đơn vị cài đặt chất nổ. Hàng chục tên Do Thái bị bắt  trong những quày (kiosks) của các trung tâm thương mại Hoa Kỳ giả bán đồ chơi để làm bình phong cho các hoạt động gián điệp. 60 nghi can bị bắt đã làm việc cho công ty Do Thái AMDOCS chuyên cung cấp hầu hết những dịch vụ điện thoại qua hổ trợ thư mục (directory assistance calls) và hầu hết những hồ sơ gọi (call records) và dịch vụ hóa đơn cho Hoa Kỳ thông qua những hợp đồng được ký với 25 công ty điện thoại lớn nhất Hoa Kỳ. Tất cả những tên mệnh danh là không tặc 9/11 đều có căn cước giả. Trong một cuộc hành quân hỗn hợp FBI-CIA nhắm vào tên không tặc đầu sỏ Mohammad Atta ở căn cứ Fort Lee, NJ, năm 2001, cuộc hành quân nầy bị những nhân viên Do Thái chụp hình và do đó đã thất bại. Những tên Do Thái nầy được xem như đã tìm cách bao che những toán không tặc tương lai.
Sau vụ 9/11, hơn 60 tên Do Thái đã bị bắt dựa trên Đạo Luật Patriot anti-Terrorism Act hay vì vi phạm nhập cảnh. Một số trong bọn họ là lính hiện dịch Do Thái. Một số bị hỏng trắc nghiệm nói dối khi bị thẩm vấn về những hoạt động thám sát chống Hoa Kỳ. Một số được xác định đã gián điệp chống người Ả Rập. Trong số 90 tên Do Thái bị bắt có một nhóm năm tên, nay được nhiều người biết đến như là những "dancing Israelis," bị nhận điện tại nhiều địa điểm đang quay phim và reo mừng những cuộc tấn công. Những tên nầy bị cảnh sát New York bắt. Những nhân viên cảnh sát và FBI bắt đầu nghi ngờ khi họ tìm thấy những bản đồ của thành phố với một số địa điểm được tô nổi, những dao rạch thùng (những thứ mà các tay không tặc được nói đã xử dụng), $47,000 tiền mặt độn trong một bít tất, và những thông hành ngoại quốc. Cảnh sát cũng nói với một tờ báo địa phương ở New Jersey, những con chó đánh hơi bom đã được đưa đến chiếc xe van    và chúng phản ứng giống như đánh hơi được chất nổ. Về sau, FBI xác định rằng ít nhất hai trong số 5 tên Do Thái nêu trên là những nhân viên của Mossad.    Năm tên đó là Sivan, Paul Kurzberg, Yaron Schmuel, Oded Ellner, và Omer Marmari.
  
Xe bom trực chỉ cầu George Washington Bridge
Tờ Jerusalem Post về sau tường thuật rằng một xe van trắng bị chặn lại khi nó đến gần cầu George Washington Bridge, nhưng quốc tịch của những nghi can không được tiết lộ. Nội dung bản tường thuật: "Các cơ quan an ninh Hoa Kỳ trong đêm đã chặn một xe bom trên cầu George Washington Bridge. Chiếc xe van, có chứa thuốc nổ, bị chặn lại trước đầu cầu. Nhà chức trách tình nghi bọn khủng bố dự định cho nổ đoạn giao thông giữa New Jersey và New York. Đoạn băng truyền tin của cảnh sát cho thấy rằng hai nghi can trong chiếc xe bắt đầu bỏ chạy khi xe bị chặn lại và ngay sau đó bị bắt với một số chống cự nào đó. Một trong những biến cố lạ lùng hơn của ngày đến dưới hình thức một chiếc xe van trắng bí ẩn đậu cách WTC    vài lốc đường, trên đường 6th và King Street, có một bích họa (mural) bên hông vẽ hình một chiếc phản lực đâm vào tòa tháp đôi và nổ tung. Tất cả những chiếc xe van trắng (white vans) đều thuộc về công ty "Urban Moving Systems" do Dominic Suter làm giám đốc, một điệp viên Do Thái; tên nầy lập tức bay trở lại Israel sau vụ tấn công. Hai cựu viên chức CIA xác nhận rằng công ty Do Thái nầy là một bình phong cho Mossad. Hai viên chức nầy ghi nhận rằng những xe dọn nhà là một một bình phong tình báo thông thường. Những tên Do Thái bị câu lưu 71 ngày trước khi được Michael Chertoff lặng lẽ phóng thích – tay nầy là một thành viên của phong trào lập quốc Do Thái và là giám đốc cơ quan hành sự thuộc Bộ Tư Pháp thời đó.
  
Tình báo Do Thái và P-Tech, công ty nhu liệu Do Thái
Những hệ thống nhu liệu P-Tech là cửa hậu đột nhập máy tính. Hầu hết những hệ thống vi tính nào có thể liên quan đến quyết định cho cất cánh những phản lực cơ chiến đấu  vào ngày 9/11        đều xử dụng nhu liệu P-Tech. Danh sách khách hàng của P-Tech bao gồm FAA (Cơ Quan Quản Trị Hàng Không Liên Bang), N.A.T.O (Tổ chức Minh Ước Bắc Đại Tây Dương), United States Armed Forces (Quân Đội Mỹ), Congress (Quốc Hội HK), Dept. Of Energy (Bô Năng Lượng), Dept. of Justice (Bô Tư Pháp), FBI (Cơ Quan Điều Tra Liên Bang), Customs (Thuế Quan), the IRS (Sở Thuế), the Secret Service (Sở Mật Vụ), và ngay cả Tòa Bạch Ốc.
Michael S. Goff, một Zionist, là quản đốc tiếp thị của P-Tech và cũng đã làm việc cho công ty cơ sở dữ liệu Do Thái, Guardium (Amit Yoran làm giám đốc). Công ty nầy nhận tài trợ của Cedar Fund, Veritas Venture Partners, và StageOne, tất cả đều là những công cụ tài trợ cho    Mossad. Do đó, với P-Tech, những gì người Mỹ có, khi cần, cũng chỉ là một điệp viên Mossad mang quốc tịch Mỹ (American "sayan") – tức Michael S. Goff, với những nhân viên Mossad cung cấp thông tin và chỉ huy trong khi y làm việc với những "đối tác" Hồi Giáo người Leban của y ở P-Tech.
Tại sao một luật sư Mỹ trẻ đang làm việc cho một xí nghiệp luật danh tiếng (Sedar & Chandler) tại tỉnh nhà của y bỗng nhiên bỏ nghề luật để làm việc cho một công ty nhu liệu    tầm thường mới ra nghề do một người Leban và một người Saudi sở hữu và tài trợ? Gia đình của Goff là một gia đình khả kính và tiếng tăm ở Worcester, Mass. Y có vị thế vững vàng tại một xí nghiệp luật danh tiếng sau khi ra trường luật. Với Goff, nhu liệu P-Tech –được cấy khuẩn trapdoors (cửa hậu) and Trojan Horses (ngựa gỗ) – được bán ra và tải lên hầu hết những hệ thống vi tính nhạy cảm. Cùng những hệ thống đó, nhưng vào ngày 9/11/2011, chúng đã thất bại thê thảm    hay hoạt động hữu hiệu là tùy theo quan điểm của bạn.
  
Tập đoàn nhu liệu vi tính MITRE
MITRE là một tổ chức hợp đồng quốc phòng đứng đầu là cựu Giám Đốc Trung Ương Tình Báo James Schlesinger. Người ta nói Schlesinger là một tín đồ Luther sùng đạo, nhưng biên dạng Wikipedia cho thấy bố mẹ của y là người Nga/Áo gốc Do Thái và do đó chắc chắn y là một Zionist. P-Tech, cùng với    tập đoànMITRE, đã chiếm tầng trệt của FAA trong hai năm trước vụ 9/11. Công việc đặc biệt của họ là tìm hiểu những vấn đề tương tác giữa FAA, NORAD và Không Quân HK trong trường hợp khẩn cấp.
  
Phi cơ điều khiển tự động
Phi cơ đầu tiên đâm vào WTC    (North Tower) và đánh trúng phòng máy điện toán của công ty Marsh & McClennan vừa mới thuê Kroll Associates để phụ trách về an ninh. Nhiều nhà nghiên cứu tin rằng những phi cơ đâm vào WTC    đều được điều khiển chính xác bằng remote control. Mặc dù nghe có vẻ như khoa học giả tưởng, kỹ thuật remote control cho phi cơ đã có từ nhiều thập niên. Tập đoàn SPC Corporation đã cung ứng hệ thống flight termination system (Chấm dứt phi vụ bằng remote control) và hệ thống command transmitter system (hẹ thống điều khiển viễn liên), một kỹ thuật cho phép phi cơ được điều khiển viễn liên trong trường hợp phi công mất khả năng hay phi cơ bị không tặc. Rabbi Dov Zakheim, một công dân Mỹ gốc Do Thái, là giám đốc của công ty Systems Planning Corporation và là Thứ Trưởng Quốc Phòng được bổ nhiệm từ 2001 đến 2004 dưới thời George W. Bush. Zakheim là người chịu trách nhiệm về sự biến mất của $2.6 TRILLION khỏi những sổ sách của Pentagon. Câu chuyện nầy bị chôn vùi dưới đống gạch vụn của vụ 9/11. Đặc khu của Pentagon bị "đánh trúng" hay "nổ tung" có chứa thông tin ngân sách của nhiều năm, cũng như những nhân viên kế toán, lưu trữ hồ sơ – nhiều người trong số họ đã chết trong vụ 9/11. Vào tháng 5/2001, khi Zakheim phục vụ tại Pentagon, chính Tridata Corporation, một chi nhành của công ty SPS của y, giám sát cuộc điều tra về đợt tấn công "khủng bố" đầu tiên vào WTC trong năm 1993. Cơ hội nầy có lẽ đã giúp họ hiểu biết cặn kẻ những hệ thống an ninh và những thiết kế của WTC. Theo trang web SPC, một khách hàng mới nhất thời đó là căn cứ không quân Eglin AFB    ở Florida. Eglin rất gần với một căn cứ không quân khác ở Florida – tức căn cứMacDill AFB, nơi mà Dov Zakheim đã hợp đồng để gởi ít nhất 32 chiếc Boeing 767, như một phần của hợp đồng thuê mướn phi cơ giữa hảng Boeing và Pentagon. Căn cứ trên quyền được truy cập vào những phi cơBoeing, những hệ thống điều khiển viễn liên, và những quan điểm công khai của y trong tài liệu PNAC, rất có thể y thực sự là một khuôn mặt chủ chốt trong những vụ tấn công 9/11.
  
Quân Đội Hoa Kỳ biết Israel đã làm chuyện đó
Theo Dr. Alan Sabrosky, cựu Giám Đốc Nghiên Cứu tại Đại Học Chiến Tranh của Quân Đội HK, "Với tư cách một phân tính gia chiến lược, tôi tuyệt đối tin rằng vụ 9/11, từ đâu đến cuối, là một hoạt động cổ điển do Mossad đạo diễn. Nhưng Mossad không hành động một mình…" Ông nói tiếp,    "Bin Laden phủ nhận trách nhiệm, do đó nói rằng, mặc dù y cám ơn Allah vì những cuộc tấn công đã xảy ra, nhưng y không làm chuyện đó, nhưng Hoa Kỳ đòi hỏi Afghanistan do Taliban cai trị phải giao nạp y cho Hoa Kỳ. Taliban trả lời rất hợp lý: ‘Hãy cho chúng tôi bằng chứng và chúng tôi sẽ giải giao ông ta cho các ông.’ Nhưng HK phớt lờ và tấn công. Tại sao? Tại vì họ không có bằng chứng thuyết phục, và sẽ không bao giờ có – ngay cả vào đêm trước cái chết công khai của Bin Laden năm 2011, FBI cũng không đề cập gì đến 9/11 trên bố cáo ‘Most Wanted’ liên quan đến y trên Internet."
  

WikiSpooks: 9/11: Israel did it
9/11: Do Thái là thủ phạm - II

** Nội dung chính của tài liệu nầy lấy từ Information Underground forum, tháng 5/2009, với tựa đề "Israel did 9/11 - All the proof in the world". Đây chỉ là một trong số vài phiên bản khác nhau về đề tài nầy. – Đỉnh Sóng
Quân Đội Hoa Kỳ biết Israel đã làm chuyện đó
Dr. Alan Sabrosky, cựu Giám Đốc Nghiên Cứu tại Đại Học Chiến Tranh của Quân Đội Hoa Kỳ (HK), đặt vấn đề không những đối với âm mưu bao che vụ 9/11 mà còn đi xa hơn thế. Cũng như nhiều người khác, ông cho thấy, về mặt vật lý, vụ tấn công khó có thể thực hiện được. Tuy nhiên, ông thuộc số ít ỏi những người đã đưa ra một kết luận mà nhiều người cho là hiển nhiên nhưng ít ai có can đảm nhìn nhận: không thể tiến hành vụ 9/11 mà không có những tài nguyên đầy đủ của cả CIA lẫn Mossad; và vụ 9/11 đã phục vụ quyền lợi cốt lõi của cả hai cơ quan nầy. Sabrosky cũng đặt vấn đề liên quan đến bao che truyền thông đối với vụ 9/11: Chúng ta hãy nhìn kỹ tại sao truyền thông chính dòng lại chú ý đến cái phòng quần áo của Sarah Palin thay vì phải phanh phui những trò lừa dối trắng trợn, những mâu thuẫn và bất nhất trong hành xử của chính phủ Mỹ đối với vụ 9/11 và những hậu quả của nó.
  
Chủ nghĩa Zionism (Lập Quốc Do Thái) và sự phản bội
  
Điểm hiển nhiên không phải là 60,000 người Mỹ đã chết hay bị thương trong một cuộc chiến khởi động do sự phản bội hay cái thế giới mà cuộc chiến đó đe dọa tiêu diệt. Người Mỹ đã quay  lưng trước những thực tại hiển nhiên nầy tương tự như họ đã quay lưng với Việt Nam. Sabrosky gởi lời cảnh cáo dưới đây đến Israel và những người Mỹ gốc Do Thái đang hỗ trợ họ, những người mà ông xem như là những kẻ phản bội:
"Nếu những người Mỹ nầy và những ai giống họ nhận thức đầy đủ mức độ đau khổ của họ ra sao - và đau khổ mà chúng ta đã giáng xuống người khác ra sao – khi những đau khổ đó được đặt để trên ngưỡng cửa của Israel và những người hỗ trợ Israel ở HK, thì họ sẽ quét sạch hết những tay làm chính trị, báo chí cũng như bọn bồi bút mà những trò nói dối và bất trung đã đưa đến cảnh nầy và che đậy nó với họ. Rất có thể họ sẽ rời bỏ Israel bấy giờ chẳng khác nào Carthage sau khi bị La Mã tiêu diệt. Đó sẽ là sai lầm lớn của chính Israel."
Chúng ta có bao giờ tự hỏi tại sao những điều Sabrosky nói ra ít có người nghe? Phải chăng HK đang trong một cuộc đấu súng trong đó kẻ thù lớn nhất của họ lại ở phía sau lưng, giết hại dân của họ, cướp bóc họ trắng trợn?
  
BAO CHE
  
Điều tra 9/11 trong tay Do Thái
Ngay sau những vụ tấn công 9/11, hệ thống Zionist lũng đoạn một cách bài bản ở hậu trường để thui chột bất kỳ cuộc điều tra hợp pháp nào có thể cho thấy những gì đã thực sự xảy ra hôm đó. Mục tiêu của họ là kiểm soát bất kỳ và tất cả những góc cạnh của cái mệnh danh là điều tra để họ có thể nhanh chóng bao che bất kỳ và tất cả bằng chứng nào cho thấy sự dính líu của Do Thái.
  
Tất cả những thẩm phán bổ nhiệm đều là người Do Thái
Alvin K. Hellerstein – Một thẩm phán của U.S. District Court thuộc Southern District, New York, và đã từng dính líu trong một số ca liên quan đến những khuôn mặt lớn trong vụ 9/11, kể cả ca chính liên quan đến ba hảng hàng không, những công ty phụ trách an ninh phi trường ICTS International NV và Pinkerton, các sở hữu chủ của World Trade Center (WTC), và Boeing Co., công ty sản xuất máy bay. Hellerstein là một thành viên Zionisttrung kiên và một công dân Israel có những móc nối vơi Mafia Do Thái từ  năm 1965. Vợ của Hellerstein là một cựu viên chức cao cấp và hiện là thủ quỹ của AMIT. Theo trang web của tổ chức nầy, "Được thành lập năm 1925, AMIT là cơ quan hỗ trợ hàng đầu thế giới cho giáo dục và những dịch vụ xã hội dành cho trẻ em và thanh niên Do Thái, bồi dưỡng và giáo dục trẻ em Do Thái trở thành những thành viên hữu ích, đóng góp cho xã hội." (Như sẽ thi hành những âm mưu qui mô hơn 9/11?)
Michael B. Mukasey – Thẩm phán Do Thái chính thống nầy giám định cuộc tranh tụng giữa Larry Silverstein và các công ty bảo hiểm sau vụ 9/11.    Silverstein được bồi thường $4.5 tỉ. Mukasey đã ngăn chặn mọi điều tra qui mô về trương hợp năm tên Dancing Israelis bị bắt vì dính líu đến vụ 9/11. Y đã đóng một vai trò trong việc phóng thích chúng. Sau nầy y được Tổng Thống Bush bổ nhiệm làm Bộ Trưởng Tư Pháp.
Michael Chertoff    - Giám Đốc Cơ Quan Hành Sự của Bộ Tư Pháp lúc xảy ra vụ 9/11. Y chủ yếu theo đuổi chủ trương KHÔNG điều tra vụ 9/11. Y đã để cho hàng trăm gián điệp Do Thái bị bắt trước biến cố 9/11 trở về lại Israel. Y cũng là một thẩm phán trong vụ tấn công đầu tiên vào WTC năm 1993. Người ta nói Chertoff mang quốc tịch đôi Mỹ/Do Thái. Gia đình y là một trong những gia đình lập quốc Israel và mẹ y là một trong số những nhân viên đầu tiên của Mossad, cơ quan tình báo của Israel.
Kenneth Feinberg – Người đứng ra thành lập quỹ bồi thường nạn nhân ($7 tỉ). Quỹ nầy được một đảng Zionistkiểm soát và đã thuyết phục được 97% những gia đình nạn nhân nhận tiền với điều kiện bãi bỏ yêu cầu điều tra luật định về vụ 9/11.
Sheila Birnbaum – Một tay Zionist chủ chốt khác thuộc xí nghiệp luật Skaddan,    dính líu trong âm mưu bao che vụ 9/11. Birnbaum được chỉ định là "'special mediator (trọng tài đặc biệt)" cho những đơn kiện của 3% những gia định quyết định không để bị mua chuộc  bằng tiền. Từ đó không thấy có kết quả nào đáng kể xảy ra cho những đơn kiện nói trên.
Benjamin Chertoff – (Anh em họ với Michael Chertoff). Ben đã viết một bài trên tờ Popular Mechanics, tuyên bố sẽ "vạch trần những thuyết âm mưu về 9/11." Ngụy luận khôi hài của y làm mất giá trị đáng kể cho bài viết mặc dù nó vẫn được trích dẫn rộng rãi bởi những người bênh vực "official narrative (phiên bản chính thức)."
Stephen Cauffman – Lãnh đạo những cuộc điều tra của Viện National Institute of Standards and Technology(NIST) về xây cất và hỏa hoạn của WTC, những điều tra chung qui chỉ đưa đến một bao che có hệ thống việc sụp đổ building số 7 của WTC. Luận điểm của NIST vẫn là: hỏa hoạn, cùng với những thiệt hại nhẹ do các mảnh gây ra, đã làm sập building số 7.
  
9/11 Commission (Ủy Ban 9/11) bị Do Thái kiểm soát
Philip Zelikow (Quốc tịch kép Mỹ/Do Thái) là giám đốc điều hành của 9/11 Commission. Zelikow được xem như là kẻ gác cổng của ủy ban nói trên và chức giám đốc điều hành (executive director) được xem là chức năng quyền thế nhất của ủy ban đó. Tay Do Thái Zionist nầy trách nhiệm tạo dựng phiên bản hư cấu được trình bày như là 9/11 Commission Report – phiên bản chính thức. Bản báo cáo chứa đựng không biết bao nhiêu điểm bất bình thường rõ rệt, mâu thuẫn, thiếu sót, và giả tạo trắng trợn.
Ban đầu Henry Kissinger   được bổ nhiệm vào chức nầy nhưng đã từ chức vì bị phản đối dữ dội. Đó là cơ hội giúp tay điệp viên Zionist Zelikow nắm quyền. Zelikow có nhiều xung đột quyền lợi rõ ràng khiến y không thể nói sự thực với người dân HK về những vụ tấn công 9/11. Zelikow là một tay trong của chính quyền Bush, từng có mặt trong toán chuyển tiếp đầu năm 2000. Từ năm 1989 đến 1991, y làm việc với Condoleezza Rice trong Hội Đồng An  Ninh Quốc Gia (National Security Council) cho chính quyền Bush. Từ năm 1996 đến 1998, Zelikow là giám đốc của Aspen Strategy Group, trong đó có Condoleezza Rice, Dick Cheney và Paul Wolfowitz như là những đồng sự của y. Sau khi George W. Bush nhậm chức, Zelikow được bổ nhiệm vào một chức vụ trong Hội Đồng Tư Vấn Tình Báo Hải Ngoại của Tổng Thống (PFIAB). Chức vụ giám đốc điều hành của Zelikow trong Ủy Ban 9/11 biến y thành "kẻ gác cổng (Gatekeeper)," có quyền định đoạt vấn đề nào được phép hay không được phép điều tra. Y cũng bí mật tiếp xúc vơi một trong những cô vấn thân cận của Bush - Karl Rove – xuyên suốt quá trình thai nghén bản báo cáo.
  
Tang vật hiện trường bị nhanh chóng lấy đi và phá hủy
Hai công ty Metals Management và SIMS group của Alan D. Ratner đã nhanh chóng dọn hết những sắt thép/mảnh vụ    của WTC và chở đến những lò đúc Á Châu. Alan Ratner là người Do Thái. Y đã bán hơn 50,000 tấn thép tang vật hiện trường cho một công ty Trung Quốc với giá $120/tấn. Y không những thủ tiêu bằng chứng từ một trong những hiện trường tội phạm lớn nhất trong lịch sử, mà còn thu được một món lợi béo bỡ khi làm thế.
  
Những nhân vật Do Thái trong vụ 9/11
Cần ghi nhận rằng những tay Do Thái thuộc phong trào Lập Quốc Do Thái (Zionism) có mặt rất đông đảo trong chính quyền Bush. Một nhóm chủng tộc thiểu số chỉ có 2% dân số HK lại có đến 42 người trong những chức vụ chóp bu trong nội các của Bush. Những con số đó minh họa rõ nét qui mô kiểm soát của người Do Thái trên chính phủ HK trong thời điểm 9/11. Vụ 9/11 không thể xảy ra nếu không có sự dính líu của những nhân vậtZionist chủ chốt dưới đây:
Giáo sỹ Dov Zakheim – Đồng tác giả của tài liệu PNAC (Project for the New American Century) nói về tái thiết quốc phòng HK với chủ trương cần phải có một vụ Trân Châu Cảng tương tự để động viên HK. Phục vụ tại Ngũ Giác Đài với chức vụ kiểm soát viên từ tháng 5/2001 đến tháng 3/2004. Hai khoảng tiền lớn do y giám sát đã biên mất khỏi Ngũ Giác Đài. Lúc đầu, $2.3 trillion ($2,300 tỉ) được Donald Rumsfeld báo cáo đã biến mất (September 10, 2001) và về sau Zakheim không thể giải thích sự biến mất của một ngàn tỉ khác nữa. Zakheim cũng đã cho bán thêm những máy bay F-15 và F-16 cho Israel với giá chỉ bằng một phần giá thực sự của chúng.
Michael Chertoff – Phụ tá bộ trưởng tư pháp đặc trách cơ quan hành sự Bộ Tư Pháp, sau nầy là Giám Đốc An Ninh Quốc Gia (Homeland Security). Vợ y, Meryll Chertoff, là một giám đốc vùng của ADL (Anti-Defamation League), một tổ chức cực đoan Do Thái từng tai tiếng về gián điệp.
Richard Perle – Chủ tịch Hội Đồng Chính Sách Quốc Phòng của Ngũ Giác Đài. Y bị đuổi khỏi văn phòng của TNS Henry Jackson trong thập niên 1970 sau khi Cơ Quan An Ninh Quốc Gia (NSA) bắt quả tang y chuyển giao những tài liệu mật cho Israel.
Paul Wolfowitz – Thứ Trưởng Quốc Phòng và là thành viên của Hội Đồng Chính Sách Quốc Phòng của Ngũ Giác Đài.
Douglas Feith (Quốc tịch kép Mỹ/Do Thái) – Giám đốc chương trình tái thiết Iraq. Cùng với Wolfowitz, Feith thực sự làm việc trong Nội Các Chiến Tranh (War Department) khi vụ 9/11 xảy ra. Y bị sa thải khỏi Hội Đồng An Ninh Quốc Gia năm 1976 vì bị nghi ngờ chuyển giao những tài liệu bí mật cho Israel. Douglas Feith đã thành lập "Office of Special Plans" ngay sau vụ 9/11, nguồn gốc của tất cả những tin tức tình báo ngụy tạo nhằm tố cáo Iraq phát triển vũ khí hủy diệt hàng loạt và có những quan hệ với Al Qaida.
Eliot Abrams – Cố vấn then chốt của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia (National Security Council). Liên kết với các nhóm thảo thuyết tội phạm Zionist thân Do Thái: AEI, PNAC, CSP, và JINSA. Quan hệ mật thiết với những tay Zionist đầu nậu khác như Perle, Feith, Wolfowtiz, và Bill Kristol. Bí buộc tội nói dối trước Quốc Hội trong vụ Iran-Contra nhưng về sau được Bush khoan hồng.
Marc Grossman (Quốc tịch kép Mỹ/Do Thái) – Thứ Trưởng Ngoại Giao đặc trách chính sách chính trị lúc xảy ra vụ 9/1. Y từng tiếp xúc với Tướng Mahmoud Ahmad, Giám đốc Cơ Quan Tình Báo Pakistan(Pakistan’s ISI).
Ari Fleischer (Quốc tịch kép Mỹ/Do Thái) — Phát ngôn nhân Tòa Bạch Ốc cho Bush khi vụ 9/11 xả ra; có quan hệ với nhóm cực đoan mang tên Chabad Lubavitch Hasidics. Chính y đã trình bày với báo chí những nói láo về vũ khí hủy diệt hàng loạt của Iraq.
  
Những tay viết diễn văn cho Bush thổi phồng số thương vong Do Thái
Vào ngày Sept 20, 2001, trong bài diễn văn đọc tước lưỡng viện Quốc Hội theo sau vụ 9/11, Bush đã thổi phồng con số thương vong của người Do Thái trong vụ tấn công từ 5 lên 130.
Ai viết diễn văn cho Bush?
David Frum: Tay Zionist nầy là người viết diễn văn cho Bush vào lúc đó và là người chịu trách nhiệm thổi phồng số người Do Thái chết lên 26 lần so với con số thực sự. Tại sao y làm điều nầy? Vì y là một tay Zionistvà cố gặt hái cảm tình đối với Israel và phóng Israel lên như một "đồng minh vĩ đại"    của HK và nay là những "đồng đội" trong cuộc chiến toàn cầu chống khủng bố. Y cũng là đồng tác giả với tay Zionist Richard Perle nhan đề "An End To Evil: How To Win The War On Terror." Y ủng hộ cuộc xâm lăng phi pháp và gian trá vào Iraq và kêu gọi thay đổi chế độ ở Iran và Syria.
  
Mohammed Atta trực tiếp cho thấy tội ác của Do Thái
Chưa được một tuần trước vụ 9/11, một số không tặc khờ khạo, kể cả  Atta, leo lên một tàu sòng bài Sun Cruz Casino Boat ở Florida. Không ai hiểu tại sao, và chuyện nầy chẳng bao giờ được điều tra.
Jack Abramoff: chủ nhân của những tàu sòng bài nói trên và là một tay Do Thái Zionist đã tiếp đãi những tên khờ Ả Rập đó trên du thuyền của y. Abramoff là một tay trong của chính quyền Bush đã từng có mặt trong Toán Cố Vấn Chuyển Tiếp (Transition Advisory Team) chỉ định cho Bộ Nội Vụ vào năm 2001. Abramoff là một tay vận động hành lang có tiền án và là một khuôn mặt trọng tâm trong nhiều vụ tai tiếng chính trị, gian lận, và những trò lừa đảo khác.    Y hiện bị tù 5 năm về tội gian lận, đồng lõa, và trốn thuế. Y cũng biết trước cuộc chiến Iraq do đám Zionist đạo diễn.
Một cuốn băng video tử đạo được thực hiện trước khi xảy ra vụ 9/11 cho thấy Mohammed Atta ở bên cạnh Ziad Jarrah, một tay bù nhìn Mossad người Leman có người anh em họ Ali Al Jarrah được khám phá mới đây là một điệp viên cho Israel trong 25 năm. (Ngay cả Adam Yahiye Gadahn, được mệnh danh là phát ngôn viên của Al Qaida,  hóa ra là một tay Do Thái Zionist có tên thật là Adam Pearlman ở California. Ông nội của Adam, Carl Pearlman, là một bác sỹ nổi tiếng và nằm trong Ban Giám Đốc của Anti-Defamation League, một tổ chức cực đoan Do Thái).
  
Ai toan phá hoại Tòa Nhà Quốc Hội Mexico?
Theo tường thuật của La Vox De Atzlan, hai người đàn ông giả dạng người chụp hình - nhưng thực sự là những nhân viên Mossad của Do Thái - đã bị bắt bên trong trụ sở quốc hội Mexico ngày 10/10/2001 có mang theo súng 9 mm, 9 quả lựu đạn, chất nổ, ba ngòi nổ, và 58 viên đạn, nhưng được thả vì áp lực của Sứ Quán Israel. La Vox De Atzlan nhận định: "Chúng tôi tin rằng hai tên khủng bố Zionist sẽ phá sập trụ sở quốc hội Mexico. Giai đoạn thứ nhi là động viên cả báo chí Mexico lầm báo chí HK qui trách Osama bin Laden. Rất có thể lúc đó Mexico cũng sẽ tuyên chiến với Afghanistan, đưa binh sỹ và tất cả xăng dầu có thể có để chống lại bọn khủng bố Hồi Giáo."
Những tên khủng bố bị bắt là Salvador Guersson Smecke (Đại tá hồi hưu Israeli), 34 tuổi, và Saur Ben Zvi, 27 tuổi. Những tên nầy được phóng thích sau một cuộc họp khẩn cấp cao giữa Bộ Trưởng Ngoại Giao Mexico Jorge Gutman, Tướng Macedo de la Concha, và một đại diện ngoại giao của Ariel Sharon bay sang Mexico City vì mục đích nầy.
  
Nhận định của một số nhân vật tầm vóc
  
Cựu Tổng Thống Ý Francesco Cossiga – Ông là người phát hiện "chiến dịch đội lốt" nầy, và đã nói với tờ báo lâu đời nhất và nhiều độc giả nhất của Ý rằng vụ tấn công khủng bố 9-11 là một cuộc tấn công đội lốt doMossad và CIA điều hành, và đây là chuyện dễ hiểu giữa những cơ quan tình báo thế giới. Đây là đại để phát biểu của Cossiga với tờ Corriere della Sera:
"Nay tất cả những chính giới dân chủ ở Hoa Kỳ và Âu Châu, đặc biệt những giới thuộc cánh trung tả của Ý đều biết vụ tấn công tai họa đó được hoạch định và thi hành bởi CIA của Mỹ và Mossad của Israel với sự giúp đỡ của thế giới Zionist, nhằm qui trách cho những quốc gia Ả Rập và để thuyết phục những cường quốc Tây Phương can thiệp vào Iraq và Afghanistan."
Cựu Giám Đốc Cơ Quan Tình Báo Pakistan – Trong một cuộc phỏng vấn chỉ vài tuần lễ sau vụ 9/11, Hamid Gul - Cựu Giám Đốc Cơ Quan Tình Báo Pakistan (ISI) từ 1987-1989 – nói với Arnaud de Borchgrave của hảng thông tấn United Press International rằng ông ta tin Mossad, chứ không phải al-Qaeda là thủ phạm của vụ tấn công, và cho rằng, "nếu Hoa Kỳ có bằng chứng nào đối với Al Qaeda, thì họ nên trình ra cho một tòa án quốc tế. Ông tuyên bố: "Hoa Kỳ bỏ ra $40 tỉ mỗi năm cho 11 cơ quan tình báo của họ. Đó là $400 tỉ trong 10 năm. Tuy nhiên chính quyền Bush nói họ bị đánh bất ngờ. Tôi không tin điều đó. Trong vòng 10 phút sau khi tháp thứ nhì của World Trade Center bị đánh trúng, CNN liền nói Osama bin Laden đã làm chuyện đó. Đó là một lối thông tin xuyên tạc do những thủ phạm thực sự hoạch định. Nó tạo ra ngay một định kiến và khích động dư luận quần chúng, ngăn chặn cả những người thông minh cũng không thể suy nghĩ cho chính mình được."
Dưới đây là một vài trích đoạn từ cuộc điều trần Vancouver Hearing on 9/11 của Susan Lindauer.
(…) "Tôi đệ trình bản tự khai có tuyên thệ nầy như bằng chứng về những hành động tội ác của Tổng Thống George Bush, Phó Tổng Thống Richard Cheney, Bộ Trưởng Tư Pháp John Ashcroft, Bộ Trưởng Tư Pháp Alberto Gonzales, Bộ Trưởng Quốc Phòng Donald Rumsfeld và Cố Vấn An Ninh Quốc Gia  Condoleeza Rice… Nó sẽ chứng minh rằng những viên chức đó đã đánh trống thổi kèn cho một cuộc chiến chống Iraq như một hệ quả khả thể của cuộc tấn công (9/11), kích thích động lực và thời cơ cho một toán tình báo độc lập đặt những chất nổ khắp Toà Tháp Đôi để tối ưu hóa những thiệt hại và bảo đảm kết quả."
(I submit this sworn affidavit as evidence of criminal actions by President George Bush, Vice President Richard Cheney, Attorney General John Ashcroft, Attorney General Alberto Gonzales; Secretary of Defense Donald Rumsfeld and National Security Adviser, Condoleeza Rice… It will prove that those officials hyped a War with Iraq as a probable outcome of the attack, exciting motive and opportunity for an orphan intelligence team to lay explosives through the Towers to maximize damage and guarantee the outcome.)
(…) Tôi, Susan Lindauer, xin tuyên thệ rằng tôi lần đầu được biết về Âm mưu 9/11 qua đơn vị trưởng CIA của tôi, Dr. Richard Fuisz, vào trung tuần tháng Tư 2001…Những đe dọa đó bắt nguồn từ những cấp cao nhất trong chính phủ, trên Giám Đốc CIA và Ngoại Trưởng…Đó chỉ có nghĩa là Tổng Thống George Bush, Phó Tổng Thống Richard Cheney hay Bộ Trưởng Quốc Phòng Donald Rumsfeld… Văn phòng Tổng Thống và CIA biết rõ âm mưu. CIA thiếu "tình báo động cơ" để chặn đứng cuộc tấn công, nhưng chính âm mưu đó đã được họ biết.
  
Còn tiếp

Wednesday, July 1, 2015

San Jose, chuyện kể từ đầu.


 
Ghi chú: 
Tháng 10 năm nay, tôi đựợc báo Việt Luận mời qua Úc châu. Bạn thâm niên ở NSW có con bên San Jose bèn hỏi rằng cái xứ Zôzê có gì lạ. 
Bác Phan Lạc Phúc định cư ở Úc đã từng ghé San Jose nhưng chẳng nhớ được nhiều và cũng không nghĩ rằng sẽ có ngày trở lại. 
Bác Thanh Thương Hoàng ở San Jose thì chỉ mong có ngày qua Úc thăm con trai. 
Bác Lê Trung Hiền nói rằng qua Úc cho tôi hỏi thăm ông Phúc đại đội trưởng đầu tiên của tôi ngoài Bắc thời kỳ 50. Nói là có thiếu úy Hiền ở San Jose vẫn có ý chờ. 
Vũ Thế Quang cũng muốn đi từ DC xuống San Jose rồi qua Úc mà chẳng biết bao giờ. 
Bác Văn Quang muốn đi từ Úc đến San Jose nhưng xem ra vô vọng. Các bạn già loanh quanh các tiểu bang Hoa Kỳ  không khó. 
Vượt thác Niagara qua Canada cũng có thể. 
Nhưng tuổi cao niên đi Úc xem chừng khá vất vả. 
Vậy mà chúng tôi có cơ hội cho chuyến đi cuối đời.  
Xin kể chuyện San Jose tặng báo Việt Luận và độc giả ở miền dưới địa cầu. 
Tôi đã viết nhiều về "My hometown San Jose" nay xin viết lại thật dài. Cũng xin gửi tặng các thân hữu đồng hương đã cùng sống với nhau “Những ngày xưa thân ái” tại thành phố này. Kỳ này tôi đem San Jose gửi đến Sydney.
 
 Cali, ngày trở lại. 
Cách đây 37 năm gia đình chúng tôi trở lại California vào tháng 8 năm 1976. 
Nói là trở lại Cali vì sau vụ di tản tháng 4-75 chúng tôi đã đến Hoa Kỳ vào tháng 6-75 tạm cư ở Camp Pendleton rồi ra phi trường Los Angeles bay về định cư ở miền Ðông. 
Ở Virginia được 1 tháng thấy không êm, lại tự túc lấy xe đò Greyhound mà về với nhà thờ bảo trợ ở thị trấn Springfield - thủ đô của Illinois. Sau một năm nếm mùi xứ lạnh cả nhà lại cùng bè bạn tổ chức chuyến viễn du Tây Tiến để về ăn trợ cấp ở Cali. 

Đưa người ta đi khai oenphe, sao nghe tiếng sóng ở trong lòng. 
Nắng vàng hiu hắt tên thành họ, chờ đến hoàng hôn lãnh phút tem.
 

Nếu hỏi rằng cái đất Cali huyền diệu và hấp dẫn kéo dài cả ngàn dặm từ Bắc xuống Nam bao nhiêu là thị trấn, tại sao chúng tôi lại cư ngụ tại San Jose. 
Câu trả lời chỉ là định mệnh. 
Thực sự đất Cali vào cuối năm 76 ở đâu cũng có một số bạn bè nhưng bước chân tha hương đã dừng lại đặt cọc tiền nhà ở cái Apartment đường số 7 thì San Jose chính là xóm làng mới của chúng tôi. 
Thấm thoát đã gần 40 năm tại Hoa Kỳ và trong đó có 37 năm đơn vị Giao Chỉ đóng quân quanh quẩn ở một thị trấn.
Chúng tôi đã có cơ hội chứng kiến thị xã San Jose thay đổi từ bộ mặt cũ kỹ của một thành phố nông nghiệp trải qua thời kỳ điện tử phát triển. 
Với tháng ngày trôi qua, vườn nho và cánh đồng hoa vàng nay trở thành xưởng máy.
Cộng đồng Việt Nam từ 3,500 người cuối năm 75 cho đến bây giờ vào năm 2013 trở thành trên100 ngàn dân, chiếm hơn10% của đô thị đông đảo thứ ba tại California sau Los Angeles, San Diego và qua mặt San Francisco.
Mới đây báo chí tỵ nạn có nhắc nhở đến một nhà văn Hà Nội tên là Trần Văn Thủy, đi phỏng vấn các nhân vật hải ngoại và góp thành một cuốn tiểu luận tựa đề là “Nếu đi hết biển”.
Trong đó có đoạn văn ẩn dụ rất sâu sắc kể rằng lúc còn thơ ấu tác giả hỏi bà thím là nếu đi hết làng ta rồi đến đâu. 
Lời trẻ thơ với các câu hỏi nối tiếp để bà thím trả lời rằng nếu đi hết làng ta sẽ đến làng bên, rồi lên huyện, lên tỉnh rồi ra đến biển. Khi cậu bé hỏi rằng nếu đi hết biển thì đến đâu, bà thím buồn rầu không trả lời được. 
Cậu bé Trần Văn Thủy lớn lên đi năm châu bốn bể đã tìm được câu trả lời là đi qua các quốc gia, các đại lục rồi sẽ trở về cố hương. Trong một bài tạp ghi tôi đã viết rằng tuy rất tâm đắc ý kiến của tác giả nhưng vẫn thấy cần phải đưa ra một phản đề bởi vì tôi cho rằng ông không hiểu hay là cố ý không muốn hiểu tâm tình của người tỵ nạn. 
Người du khách đi lang thang bốn phương trời chân không bén rễ thì sẽ về lại cố hương. Nhưng lưu dân di tản tỵ nạn như chúng tôi thì nơi nào an cư lạc nghiệp, nơi đó sẽ chính là quê hương. 
Thực vậy, những năm đầu dù đã lập nghiệp, mua nhà, dựng vợ gả chồng cho con cái, người lưu dân có khi vẫn tưởng mình ở cõi tạm dung. Rồi những năm tháng dần qua, đất tạm dung chẳng biết đã trở thành quê hương mới từ lúc nào không rõ. Vì vậy xin kể câu chuyện sau đây.
Chúng tôi có thằng cháu họ làm thợ máy ở Thủ Ðức.
Bà chị chúng tôi kiếm tiền cho nó vượt biên. 
Vài tháng sau có thơ từ Thái Lan gửi về báo tin là bây giờ cháu làm thợ chạy máy đèn cho trại. 
Ngày lãnh được hơn 10 Mỹ Kim, khá lắm. Cháu muốn ở lại, không đi đâu nữa. Ở quê nhà ra lệnh nó phải tiếp tục đi, cứ hướng ra biển mà đi. Thằng nhỏ rất tháo vát thi hành theo lệnh mẹ nhưng thấy chờ ở trại Thái Lan quá lâu, đã cùng bạn bè ăn cắp tàu vượt biên mới đến, đổ dầu chạy qua Indo. 
Thật may mắn cháu trải qua bao nhiêu gian khổ đã đến trại tỵ nạn Nam Dương. Chuyện này các báo có đăng tin. Rồi lệnh từ Thủ Ðức lại đưa ra là nhất quyết phải xin đi Mỹ. Phải đi cho hết biển Thái Bình Dương.
Trải qua 3 năm nằm lỳ cố thủ ở trại sau cùng cháu tôi cũng đến San Jose. Thằng nhỏ viết thơ về báo tin là đã đi hết biển thì bây giờ đi đâu.
Thơ nhà hỏa tốc gửi qua lời lẽ nửa vui mừng nửa giận dữ: “Tiên sư thằng ngu. Ðã đi hết biển mà đến được San Jose thì bây giờ làm giấy đoàn tụ cho mẹ mày và các em qua chứ còn đi đâu nữa".     "San Jose là nhất rồi.”
    image
  image
       Down Town San Jose 100 năm trước và ngày nay
Ðó là lý do mà gia đình tôi cũng như thằng cháu họ đã ở lại San Jose suốt bao nhiêu năm nay. Chúng tôi bao năm thao thức với “mưa Sài Gòn, mưa Hà Nội”. Ðã nghe đi nghe lại lời ca tha thiết: “Về đây nghe anh, về đây nghe anh, về đây mặc áo the, đi guốc mộc” nhưng sao mãi chẳng quay về cố hương.
Cũng như mọi người, chúng tôi cũng có người em Mùa Thu Hà Nội, “mà sao ở tuổi phong sương anh chưa gắng tìm về.”Cũng như anh em, chúng tôi có 20 năm Sài Gòn tràn đầy kỷ niệm mà sao suốt cuộc đời di tản chỉ nằm mơ với cơn ác mộng bị kẹt lại quê nhà.
Cũng như tất cả di dân tỵ nạn lưu vong, chúng tôi cũng có tấm lòng thương yêu đất nước quê hương, nhưng đôi khi phải hẹn rằng “Nghìn năm sau mới níu bóng quay về.”
Trong khi đó thì San Jose, đất tạm dung đã thực sự cho ta dân chủ, cơm áo, với đời sống đầy cơ hội và được phép mưu cầu hạnh phúc. 
Tuy rất cá nhân, rất vị kỷ, nhưng rất tự do.
Nhạc sĩ Trần Quang Lộc, chưa hề bước chân ra Hà Nội mà đã sáng tác bài “Có phải em là mùa Thu Hà Nội:. 
Tha thiết nghẹn ngào biết chừng nào. 
Và ông Nam Lộc, một “Social Worker” nổi tiếng của thế giới tỵ nạn cũng để lại bản nhạc Vĩnh biệt Sài Gòn hay đến nỗi ở Việt Nam khi nghe được trên BBC đã đồn rằng đây là bản mới của Phạm Duy.
Vậy mà chúng ta bao năm sống trong lòng quê hương San Jose mà không viết được một bài ca ngợi thành phố này. Như vậy có bạc bẽo quá hay không.
Do đó xin viết đôi dòng về San Jose, chuyện kể từ đầu.

MỘT CHÚT LỊCH SỬ
Vào thế kỷ thứ 16, San Jose là vùng đất hoang dã. 
Phải đến năm 1720 mới có dấu vết của con người. 
Ngày 21 tháng 5-1737 di dân định cư tuyên xưng ông thánh Saint Josept và danh hiệu San Jose đã trở thành lịch sử. Hơn 100 năm sau, vào năm 1849 thành phố San Francisco thành lập. 
Kế tiếp ngày 27 tháng 3-1850 tiểu bang California được công nhận và chọn San Jose là thủ đô đầu tiên của California.
Trong số 9 đô thị của Vùng Vịnh Cựu Kim Sơn thì San Jose đất rộng nhất nhưng người thưa nên suốt 200 năm vẫn phải đóng vai đàn em San Francisco vì đô thị này ra đời trước một năm. 
Các bạn có thể đã biết rằng đội ban 49er của Cựu Kim Sơn đã lấy con số 1849 kỷ niệm năm San-Fran thành lập và trở thành đô thị số một của miền Viễn Tây. 
Du khách đến San Francisco không ai biết đường đến San Jose cho đến khi nữ ca sĩ da đen Dionne Warwick đã làm rung động   giới giang hồ với bài ca tình tự POP culture.

- Do you know the way to San Jose, I've been away so long, I may go wrong and lose my way.

Anh có biết đường về San Jose hay không? Tôi đã đi xa từ lâu, nay có thể lạc lối về. 
I'm going back to find some peace of mind in San Jose...

Ðúng như vậy, gần 40 năm trước, những người Việt di tản đã đến San Jose để tìm một chút bình yên, bỏ lại sau lưng một nước Việt buồn.
Vào thời kỳ cuối thập niên 70, San Jose còn những cánh đồng đầy hoa vàng. Xa lộ 87 và 680 đang xây cất. Ngày nay hoa vàng chỉ còn trong kỷ niệm. Cả một khu down town tráng lệ mới mẻ đã dựng lên do tiền bạc thế giới đổ về như nước của một thời vàng son đã làm thành cái nôi của Thung Lũng Ðiện Tử.
Dân số San Jose bây giờ lên đến trên 900 ngàn dân, đông hơn San Francisco và một thời đã được coi là thành phố lớn an toàn nhất nước.
Nhà cửa cũng đắt đỏ hàng đầu quốc gia với lợi tức chung của một gia đình là $80 ngàn Mỹ Kim một năm.
Sự phồn thịnh của San Jose chắc chắn đã có sự góp mặt của người Việt suốt 38 năm qua. 
Tuy nhiên, thực sự đợt di dân đông đảo của người Mỹ từ miền Ðông đến San Jose đã xẩy ra từ hơn 100 năm trước.
Ðúng vậy, hơn 100 năm trước có một gia đình di dân từ Kentucky về San Jose. 
Chồng là bác sĩ, vợ là nhà hoạt động xã hội. 
Họ là những nhà phiêu lưu đi tìm đất lành như chúng ta đến từ Thái Bình Dương. 
Chuyện về gia đình này lập nghiệp ở San Jose là câu chuyện đời thường nhưng rất tiêu biểu. 
Năm 1899, họ mua được một ngôi nhà ngon lành tại San Jose với giá 7,000 đồng. Ngôi nhà này bây giờ trị giá trên một triệu đồng. 
Ði nhổ răng phải trả tiền mặt cho nha sĩ là 5 đồng. 
Nhưng thực phẩm ở vùng này thời đó còn thiếu nên phải mua 3 đồng một con gà và 3 đồng một tá trứng gà. 
Giá trứng gà hiện nay vẫn còn đứng lại nhưng giá nhà thì tăng lên gấp 100 lần. Bà bác sĩ hoạt động thiện nguyện cho nhà thờ cho đến khi về già nên được gọi là Grandma của tất cả mọi người. 
Thành tích gây quỹ xã hội có lần thu đến 100 Mỹ kim. 
Tên của bà vẫn còn đến ngày nay và người Việt nào cũng nhắc đến mà không hề biết rõ. Ðó là gia đình Bascom. 
Trên con đường Bascom có nhà thương Bascom nổi tiếng trong cộng đồng Việt Nam. 
Từ thời của gia đình Bascom, dân số San Jose chỉ có 25,000 cho đến nay thành phố cả triệu dân, đã có biết bao nhiêu thay đổi. 
Trong 30 năm sau cùng của thời hiện tại chúng ta đã đóng góp vào thành phố này bằng sự hiện diện quan trọng nhất là dân số tăng dần vượt tất cả mọi chỉ tiêu về thống kê. 
Trong lúc đi tìm dữ kiện, chúng tôi ghi nhận những mẩu chuyện vụn vặt rất lý thú về người Việt đến Bắc Cali trước 75, trong thời kỳ 75 và sau này. 
Hai vợ chồng một gia đình Việt Mỹ bán đồ nhà binh tại chợ trời Capitol là người quen biết lo sưu tầm các di vật của Việt Nam Cộng Hòa cho chúng tôi. 
Ông chồng là cựu chiến binh ở Việt Nam. 
Ông nói rằng các cựu quân nhân có vợ Việt Nam về cư ngụ tại địa phương này trước năm 75 có quen biết nhau nên thường sinh hoạt chung thành nhóm vài chục người. 
Ông hãnh diện cho biết rằng chỉ còn lại rất ít như gia đình của ông bà vẫn ở với nhau đầy tình nghĩa chung thủy Việt Mỹ. 
Ðợt tỵ nạn từ 75 đã đem lại cho quý bà quý cô cả một chân trời quê hương bỏ lại. 
Các bà dẫn chồng Mỹ vào thăm trại Pendleton ở Nam Cali để làm công tác xã hội, tìm người thân, hoặc là chẳng làm gì cả, chỉ cốt đi xem người Việt tỵ nạn, đón về nhà, mời ăn uống, tìm Sponsor. 
Và sau cùng thì đa số quý bà Việt Nam đều lá rụng về cội. Ði theo tiếng nước tôi để lại cho các ông chồng Mỹ ngơ ngẩn với những chai nước mắm dở dang. 
Như vậy, nếu về chính trị và quân sự,  Mỹ bỏ Việt Nam thì qua lãnh vực tình yêu và gia đình, đa số Việt Nam đều bỏ Mỹ.    Ðó là thế giới của phụ nữ Việt trước 75. 
Ngoài ra còn có thế giới của sinh viên Việt Nam du học trước 75, hiện cũng trở thành nhóm ái hữu sinh hoạt với nhau trong phạm vi riêng tư.  
Còn người Việt đến Hoa Kỳ trong đợt 1975 thì ai là người đến đây đầu tiên. Ký giả Hoa Kỳ đã viết một bài trên San Jose Mercury News ngày 24 tháng 4-1975 đề cập đến nhóm gia đình 154 người đi máy bay World Airway trực tiếp từ Sài Gòn đến San Francisco. 
Ða số quý vị này hiện đã thành đạt và vẫn còn cư ngụ trong vùng. Nhóm gia đình sớm sủa đến Mỹ gồm có các ông cựu tổng trưởng kinh tế Nguyễn Kim Ngọc và ông dân biểu Ngô Trọng Hiếu. 
Từ 29 năm qua cho đến bây giờ. Cộng đồng người Việt sống và trải qua kinh nghiệm của hoàn cảnh song văn hóa. 
Chúng ta sử dụng song ngữ đã đành, chúng ta còn vui hưởng một lượt 2 đời sống rất phong phú. 
Từ sáng cho đến chiều, chợ Mỹ, chợ Việt, báo Mỹ, báo Việt, Radio TV Mỹ Việt đề huề. Thậm chí hóa đơn điện nước, điện thoại cũng đều song ngữ. 
Phiếu đi bầu cũng hai thứ tiếng. 
Ðiện thoại kêu gọi chào hàng làm phiền chúng ta cũng có cả Anh lẫn Việt ngữ. 
 Suốt 12 tháng một năm, chúng ta vui hưởng và tham dự cả Vu Lan lẫn Memorial Day và Mother's Day. 
Nếu là người con hiếu thảo quanh năm ta có thể lên nghĩa trang Việt Nam thăm mộ cha mẹ từ Tết Tây tháng Giêng, Tết Ta tháng Hai, Thanh Minh tháng Ba, Memorial và Mother' Day tháng 5, Father's Day tháng Sáu, Vu Lan tháng 8 và Thanksgiving tháng 11. 
Trẻ em chúng ta vui hưởng ngày Tết Trung Thu tháng 9 và Halloween tháng 10.   
Ðặc biệt quý vị cao niên, thì giờ rộng rãi yêu văn chương chữ nghĩa có cơ hội vào thư viện thành phố 9 tầng, 177 triệu Mỹ kim để tham khảo một triệu thứ tài liệu. Bấm máy điện toán có phần tiếng Việt. 
Quý vị có thể đem về 10 tape Thúy Nga Paris hay văn nghệ Asia và 100 cuốn sách một lần. 
Nhưng chắc chắn không ai có thể đọc được nhiều như thế vì còn phải dành thì giờ cho 6 chương trình TV, 6 đài Radio 24/24, hàng chục tờ tuần báo và nguyệt san cùng với 4 tờ nhật báo. 
Tất cả đều phát không và toàn bằng Việt ngữ.
Về văn hóa ẩm thực thì phải nói rằng các thức ăn căn bản của các sắc dân không đâu ngon hơn California, gồm cả thực đơn Việt Nam. Hamburger ở Cali ngon hơn ở Ðức, Pizza ngon hơn ở Ý, Vịt Bắc Kinh ngon hơn ở Bắc Kinh, Tacco ngon hơn ở Mễ. 
Bánh Tôm Cổ Ngư ngon hơn Cổ Ngư Hà Nội, Chả Cá ngon hơn ở Thăng Long. 
Ðó không phải là ý kiến của chúng tôi mà chính quý vị đi chơi khắp bốn phương trời về nói lại. Và đặc biệt là món phở. Dù cho đi bốn phương trời hay về cả ở ba miền Trung Nam Bắc Việt Nam, trở lại Hoa Kỳ ai cũng nói Phở Cali là nhất. 
Sau hết, chúng tôi đã tham khảo qua các tác phẩm của hơn 16 sắc dân đến Hoa Kỳ trong 100 năm qua viết về nước Mỹ. Có thể đi đến kết luận rằng đây là một xã hội tuy không toàn hảo như gần đạt được chỉ tiêu mà con người mong muốn. 
Một xã hội tự do, tôn trọng nhân phẩm, con người có cơ hội đồng đều. Chỉ cần làm việc một giờ đủ tiền cho thực phẩm một ngày. Hai giờ là đủ mua một bộ quần áo. Dù là lương tối thiểu, giàu hay nghèo ai cũng có xe hơi chạy trên xa lộ trị giá trên 100 tỷ đô la khắp nước Hoa Kỳ.
Cũng bắt đầu từ 38 năm về trước khi cộng đồng Việt Nam thành hình thì San Jose trở thành trái tim của miền Bắc California.
Toàn thể người Việt tại Bắc Cali hiện có 300 ngàn dân nhưng riêng thành phố San Jose có 100,000 vào kỳ kiểm kê dân số năm 2010. 
Hiện nay San Jose là thành phố đông dân Việt nhất trong số tất cả các đô thị trên thế giới.
Ngoài đặc điểm về dân số, San Jose còn có khá nhiều thành tích về những hoạt động tiên phong của người Việt tại Hải Ngoại. 
Về truyền thông miền Bắc có tờ nhật báo Việt Nam của Nguyễn Kim Bảng phát hành hàng ngày trước khi tờ Người Việt ở quận Cam ra đời. Nhật báo Việt Nam vẫn còn tiếp tục đến nay cùng với nhiều nhật báo khác như Thời Báo, Cali Today v.v...
Radio Ðông Thành cũng là chương trình phát thanh đầu tiên và tiếp theo Truyền hình Việt Nam Tự Do cũng là chương trình TV Việt ngữ hàng ngày đi tiên phong tại Hoa Kỳ trước cả miền Nam California.
Dân Việt Bắc Cali cũng tổ chức lễ tưởng niệm 30 tháng 4 lần đầu tại công viên St. Jame năm 1978 và tổ chức Hội Tết quy mô lần thứ nhất vào năm 1983.
Về phương diện văn hóa xã hội, cơ quan IRCC, Inc. do người Việt thành lập để cung cấp dịch vụ tỵ nạn từ năm 1976. Trong khi đó trung tâm Việt ngữ Văn Lang với 1,000 học sinh và gần 200 giáo chức nhân viên tình nguyện vừa tổ chức chào mừng 25 năm công tác. 
Các đoàn thể Hướng đạo, Không quân, Hải quân, Nhảy dù v.v. cũng đều có lịch sử sinh hoạt một phần tư thế kỷ.
San Jose cũng là nơi có Câu Lạc Bộ Việt Dã Việt Nam tham dự các kỳ chạy đua với Hoa Kỳ và chạy đuốc Tự Do từ SF về San Jose vào dịp Tết mỗi năm.
Ðặc biệt cũng tại miền Bắc California một nghĩa trang hoàn toàn Việt nam đã được thành lập từ năm 1978 tại Los Gatos với 500 phần mộ. 
Kỳ đài Việt Nam Cộng Hòa cũng đã được thiết dựng từ năm 1990 tại đường Capitol Expwy nhưng đến năm 2000 vừa qua đã được di chuyển về vườn Kelley, nơi sẽ hoàn tất công viên văn hóa đầu tiên của người Việt trên đất Mỹ. 
Cũng tại Vườn Kelley cạnh Senter Road một ngôi nhà cổ Victoria đã trở thành Bảo Tàng Viện Thuyền Nhân và Việt Nam Cộng Hòa đầu tiên trên thế giới do cơ quan IRCC thực hiện.
    image       image      
                Vitoria House 1880 và Viet Museum ngày nay 2013
Về lãnh vực kinh tế và thương mại Bắc California có khả năng tiềm ẩn rải rác từ Sacramento, San Francisco, Oakland, San Jose đến Milpitas. 
Ðã có nhiều khu thương mại Á Châu và Việt Nam và cũng trở thành một Little Saigon như tại Orange County. Khác hẳn tại các thành phố nhỏ như Westminster, Garden Grove miền Nam khi người Việt mới đến các nơi này chưa phải là vùng đông dân, do đó người Việt có cơ hội lập thành các khu vực với ranh giới riêng biệt. 
Tại Bắc Cali, dân tỵ nạn Việt Nam đến định cư đã hội nhập ngay vào các khu đông đảo người Mỹ, người Mễ nên phải nỗ lực tìm đường sinh tồn để dần dần vươn lên. 
Dù vậy, tại San Jose cũng có các khu thương mại Việt Nam ngay tại Down Town, khu Senter, khu Tully hoặc tương đối văn minh như khu Grand Century ở góc đường Story.
Hơn 20 năm trước, 2 bên đường phố tại San Jose toàn là đất trống với hoa vàng rực rỡ. Suốt 2 thập niên ngành điện tử nở hoa kỹ thuật. 
Ðất trống trở thành hãng xưởng. 
Hoa Kỳ gọi đây là Thung Lũng Ðiện Tử. 
Hầu hết 80% người Việt làm cho các hãng điện. 
Ða số chồng là Technician và vợ làm Assembly. 
Ca dao của Giao Chỉ có câu là:
 Ở đây chồng tếch vợ ly. Cùng làm một xíp còn gì sướng hơn.Rồi tiếp đến thế hệ kế tiếp, con cái tốt nghiệp đa số vào làm kỹ sư.
Cùng với ngành điện tử phát triển, Việt Nam nhẩy vào làm ăn trong lãnh vực xe lunch. Chồng lái xe, vợ nấu bếp. 
Hàng trăm xe lunch ngược xuôi bán bữa ăn trưa cho nhân công các hãng. Thoạt đầu thuê xe, sau lên làm chủ xe và có các nhà làm ăn lớn trở thành chủ bãi. 
Ðây là các cơ sở Parking và tiếp liệu cho hàng trăm xe lunch. 
Gia đình ông Lê từ quê hương miền Tây nổi danh tại San Jose trong kỹ nghệ xe lunch. 
Hiện nay trở thành công ty lớn với danh hiệu Lee's Brothers đưa bao bánh mì vĩ đại lên các nóc nhà để làm huy hiệu tiêu biểu cho ngành Fast Food Việt Nam chinh phục thị trường Mỹ.
Về một lãnh vực khác, ông Ngô Hứa, một công dân gốc Bạc Liêu, mở đầu sự nghiệp bằng xe bán cá lẻ ngược xuôi từ Monterey đến San Francisco, bây giờ trở thành nhà tư bản quan trọng trong thương vụ hải sản tại Hoa Kỳ, chủ nhân nhiều bến tàu, bến cá từ Ðại Tây Dương qua Thai Bình Dương. 
Cùng một lượt, trên các khu thị tứ toàn nước Mỹ hệ thống phở Hòa phát triển đưa hương vị độc đáo của tô phở đến các tiểu bang. 
Dù vậy ai cũng nhớ rằng tô phở Hòa đầu tiên bắt đầu ở San Jose. 
Chúng ta cũng không quên sự phát triển vượt bực của Việt Nam trong ngành nail. Ngồi ráp hàn trong xưởng, chạy xe lunch ngoài đường hay mở tiệm sơn móng tay, tất cả đều mở đường cho con cháu xây dựng thế hệ tương lai. 
Khi nói đến San Jose, không thể không nói đến rất nhiều chủ nhân của các hãng điện tử gốc Việt đã thành công và hiện vẫn còn giữ vững tay lái trong cơn sóng gió kinh tế hiện nay. 
San Jose cũng là cái nôi của các tổ chức Kháng chiến, Phục hưng và là nơi các vị lãnh đạo VNCH lựa chọn để tái xuất giang hồ như Thiếu Tướng Kỳ, Tổng Thống Thiệu và Ðại Tướng Khánh.
Ðó là câu chuyện của xóm làng San Jose gần 40 năm về trước rồi từ đó đến nay biết bao nhiêu vật đổi sao dời. 
Ở Á Châu người ta thường nói đến chuyện dâu bể. Trải qua thời gian, biển cả được con sông bồi đắp phù sa trở thành ruộng dâu. 
Và những người dân Việt tiền phong đã đến đất này khai phá và xây nền móng cho cộng đồng và lớp người đến sau đã mở rộng chân trời để hình thành cả một quê hương của riêng ta trên đất mới.
Vào đầu năm 2005, khu bầu cử số 7 với 30% cử tri Việt Nam náo nức về tin có đến 5 ứng cử viên trẻ Việt sẽ ra ứng cử nghị viên thành phố. Ðây sẽ là một bài học mới hào hứng cho một vận hội mới. 
Khi niềm mơ ước một nghị viên gốc Việt thành sự thực lại tiếp theo với những khác biệt chia rẽ cả cộng đồng mà vết thương vẫn chưa hàn gắn.
Mặc dù miền Bắc của chúng ta không đông đảo bằng quận Cam, không có khu Little Saigon sầm uất nhưng chúng ta đã có nhiều khả năng tiềm ẩn. 
Chúng ta không quá tập trung để trở thành xa cách với dân địa phương. 
Chúng ta có cơ hội hội nhập nhiều hơn và đây là ưu điểm đáng lưu ý.
Khi chúng tôi có dịp xuống thăm khu thị tứ của cộng đồng Việt miền Nam, đã có những cảm tưởng vừa tự hào vừa quản ngại. 
Người Việt xây dựng được cả một thành phố Saigon nhỏ trên đất Mỹ quả thực là điều đáng hãnh diện. Tuy nhiên, toàn thể quê hương mới của dân ta không hề hấp dẫn người Hoa Kỳ và các sắc dân khác.  
Do đó, có thể coi là chúng ta nên bằng lòng với sự phát triển chừng mực của cộng đồng Việt tại San Jose vì đây chính là sự thăng bằng giữa vấn đề bảo toàn truyền thống và việc tham dự vào con đường hội nhập.
Sau cùng, như chúng tôi vẫn thường góp ý kiến, tất cả lớp người tỵ nạn của bao năm qua chỉ là đợt khai phá tiền phong. 
Chúng ta chỉ là những cây tràm, cây đước của miền Ðồng Tháp - Cà Mau. 
Sau này con cháu chúng ta mới thực sự là cam quít.
Nếu ta có bền gan vững chí, thành công hay thất bại thì cũng chỉ là những viên gạch lót đường cho các cộng đồng tương lai sẽ dựng lên và mãi mãi tốt đẹp về sau. 
Chuyện sau cùng là phải nói đến mối ràng buộc với quê hương. 
Dù ra đi trong hoàn cảnh nào thì mọi sắc dân định cư trên đất mới cũng trải qua những kinh nghiệm như nhau. 
Phần lớn nhận nơi này làm quê hương. 
300 năm trước người Anh đến Tân thế giới để trở thành người Mỹ. 
Đã hai lần đem quân về cứu quê hương. 
300 năm sau hiệp hội các quốc gia bị cộng sản thống trị họp tại San Francisco đã ghi nhận rằng, dù cố hương còn độc tài hay đã tự do dân chủ thì làm tân công dân trên đất mới vẫn giúp cho quê nhà nhiều hơn là quay về. 
Xem ra tưởng là vị kỷ nhưng chính là chân lý. 
Vấn đề là, anh còn nhớ hay anh đã quên?.

Giao Chỉ - San Jose 2013