Wednesday, February 13, 2013
Tuesday, February 12, 2013
Friday, February 8, 2013
DVD ASIA 71 / 32 Năm Kỹ Niệm ASIA
- “Chú có băng keo 2 mặt cho cháu xin chút xíu?”. Tôi quay lại, cô sinh viên năm 2 đại học Luật (ở phòng trọ nhà tôi) tay cầm chiếc đĩa DVD nhoẻn miệng cười sau lưng, thấy tôi nhíu mày nhìn cái DVD, cô ấy đưa ra trước mặt tôi và nói ngay: “Cháu dán cái này vào vỏ hộp đựng DVD ấy mà!”. Hơi ngạc nhiên, chút tò mò tôi mượn “cái này” của cô bé xem thử, thì ra cô ta cắt từ trong tờ báo một mảnh nhỏ thông tin đóng khung, tôi đọc thấy nội dung:
“Ngày 1/2/2013 - Sở VH - TT - DL TP.HCM vừa gửi công văn cho Bộ VH - TT - DL, Cục NTBD kiến nghị Bộ chỉ đạo các Ban, Ngành địa phương tịch thu, tiêu hủy DVD Asia 71 - Kỷ niệm 32 năm hoạt động của trung tâm Asia, đồng thời ngưng cấp phép cho các ca sĩ, nghệ sĩ hải ngoại đã tham gia chương trình này. Asia 71 có một số tiết mục mang màu sắc chính trị như Triệu con tim (Trúc Hồ sáng tác) với nội dung và phần dẫn chỉ trích đường lối, chính sách của Nhà nước Việt Nam trong việc giải quyết tranh chấp biển đảo với Trung Quốc (đĩa 2, tiết mục 14); Liên khúc “Có những người anh” và “Anh không chết đâu anh” có nội dung ca ngợi lính cộng hòa (đĩa 1, tiết mục 1); phần lời dẫn của MC Việt Dũng có nội dung tố cáo Đảng, Nhà nước Việt Nam vi phạm nhân quyền và vận động chữ ký của hàng trăm ngàn người Việt Nam trên khắp thế giới cùng ký vào thư gửi Liên Hiệp Quốc tố cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền”. Ngoài ra, Sở cũng phối hợp với Phòng An ninh văn hoá tiến hành xác minh tình trạng pháp lý về nhân thân của hai ca sĩ Hà Thanh Xuân (ảnh - người từng đoạt giải Tư cuộc thi Tiếng hát truyền hình TP.HCM năm 2005) và ca sĩ Hoàng Anh Thư, cựu học viên Thanh nhạc - Nhạc Viện Tp. HCM (tốt nghiệp thứ hạng khá) có tham gia biểu diễn trong chương trình (trình bày ca khúc “Anh Không Chết Đâu Anh,”) để có hướng xử lý. Theo ông Nguyễn Thành Nhân, Trưởng phòng Quản lý biểu diễn (Cục NTBD), Cục sẽ nghiêm khắc xử lý các trường hợp này.” (Báo Pháp luật TP. HCM).
Ca sĩ Yêu Nước” Hoàng Anh Thư “ca sĩ Yêu Nước” Hà Thanh Xuân
Trao cuộn băng keo, nheo mắt cười, tôi hỏi vui cô sinh viên: Bộ tính lưu trữ sẵn tư liệu để mai mốt ra trường có dịp vào Pháp Đình làm “thầy cãi” cho các thân chủ trong DVD này chắc?
Cô bé cẩn thận dán mảnh báo vào trong vỏ hộp đựng DVD “ASIA 71” nghe tôi nói thế cô ấy lắc đầu:
- Không phải vậy đâu chú! Chỉ giữ làm kỷ niệm thôi, mai sau lập gia đình con cái lớn khôn chúng có hỏi “sao nước Việt mình nghèo và chậm phát triển so với thiên hạ” thì có cái đưa ra dẫn chứng cho con cái nó thấy, vì Việt Nam mình khác với thiên hạ là có một giai cấp lãnh đạo cộng sản “tài năng nhân cách thì nhỏ, nhưng thù vặt lại lớn, dai dẳng và độc đoán không ai bằng”.
Câu nói ngắn gọn chỉ một phút thôi của cô sinh viên tuổi đôi mươi, nhưng làm tôi ngạc nhiên cứ “bần thần” cả ngày. Thật đúng vô cùng, đi khắp thế gian cùng trời cuối đất không thấy một nhà nước, chính phủ, hay đảng phái nào (trừ đảng CSVN) lại “thù vặt” đủ thứ ngay với chính đồng bào cùng chủng tộc với mình một cách phi đạo lý, dai dẳng, không thể nào biện minh được đó lại là từ một nhà nước, chính quyền, công cụ của nhân dân!
Nhắc lại một chút cho rộng đường suy diễn. Nội chiến Nam, Bắc, Mỹ giống y hệt Việt Nam, nhưng ngắn hơn, chỉ 4 năm, nhưng có tới hơn nữa triệu binh sĩ hai bên thương vong, kết thúc cũng vào tháng 4 năm 1865 tại làng Appomattox, Court House, Tiểu bang Virginia, trong một khung cảnh “bi hùng” cảm động hiếm thấy trong quân sử thế giới và Hoa Kỳ, Tướng miền Bắc thắng trận Ulysses S.Grant đã ra lệnh cho đoàn quân nhạc dưới quyền mình cử quốc thiều và chính ông đã chủ động ngã nón cuối chào như cảm ơn Robert E. Lee, Tướng miền Nam, thua trận, dẫn quân lính đến trình diện đầu hàng. Tướng Grant chào tướng Lee bởi ngưỡng mộ hành động dũng cảm của vị Tướng này đã chấm dứt sự hao tốn máu xương vô nghĩa thêm nữa cho toàn dân Hoa Kỳ. Ngược lại Tướng Grant cũng nhân ái và quân tử, cung cấp lương thực và cho phép toàn bộ quân Nam thua trận được trở về với gia đình ngay sau đó bằng chính các phương tiện cá nhân của mình. Cho đến tận hôm nay vị Tướng nổi tiếng được toàn dân Mỹ ngưỡng mộ kính phục nhắc đến nhiều nhất lại chính là Tướng thua trận Robert E. Lee!
1975, sau hơn một thế kỷ, bài học nhân cách quân tử cao thượng đẹp như những đóa hồng, bừng nở giữa “sa trường” ấy, không hề làm rung động trái tim những “chóp bu” CSVN như Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng, Trường Chinh, Phạm Hùng v.v... Họ vẫn lạnh lùng tàn bạo “khai đao với người ngã ngựa” là anh em cùng chủng tộc với mình.
30/4/75 tàn cuộc chiến, một số sĩ quan tướng lãnh QLVNCH miền Nam tự sát “tuẫn tiết” đền nợ nước, số còn lại đã rời vũ khí về đoàn tụ với gia đình, nhưng thay vì “vỗ yên thiên hạ” với hơn hai mươi triệu thân nhân gia đình binh sĩ miền Nam để hàn gắn vết thương chiến tranh, gieo mầm đoàn kết dân tộc anh em một nhà, thì CSVN lại tiếp tục xây cao thêm cung bậc của “hận thù”:
“Với người còn sống” – Bất chấp điều khoản của Hiệp Định Paris, CS Bắc Việt tập trung tù đày giết hại 1/3 trong gần nữa triệu các sĩ quan công chức tinh hoa của miền Nam, phần đông nếu còn sống phải từ 10 năm tù đày trở lên.
“Với người đã chết” CSVN cho quân đội canh giữ như giam cầm (không cho thân nhân chăm sóc mộ phần) hàng chục ngàn nắm xương tàn binh sĩ miền Nam trong nghĩa trang quân đội suốt 20 năm từ 1975-1995. Những chiến sĩ trận vong ấy chỉ lo gìn giữ quê hương chứ chưa bao giờ đặt chân ra phía Bắc gây nợ máu xương với đồng bào mình? (như CS Bắc Việt vượt tuyến vào Nam gây chiến tranh) một hành vi thù hằn hạ cấp, mất nhân cách, phi đạo lý, ngay cả với những ngôi mộ vô tri, vô giác?? Một hành vi “Thù vặt bỉ ổi” chưa bao giờ có tiền lệ của một dân tộc trọng nhân ái lễ nghĩa như VN (năm 1995 cựu CT/Nước Nguyễn Minh Triết công du Hoa Kỳ có nhắn gửi cho bà con Việt kiều: “Bây giờ nhà nước ta cho phép bà con về nước tự do săn sóc tu bổ mộ phần thân nhân”?).
Liệu với các hành vi phi đạo lý ấy thì đồng bào nhân dân ta có thể nói: Trời không dung đất không tha được chưa? Nhiều lắm những đố kỵ thù hằn “tiểu nhân, vô đạo” của CSVN với người dân mình, không thể viết hết trong một sớm một chiều.
Chúng ta hãy nghĩ về sự việc mới nhất của “sách lược thù vặt” ấy, là cái công văn: “cấm sử dụng, tiêu hủy DVD ASIA 71” của “nhà nước, đảng” CSVN.
Thông thường trong một cộng đồng dân tộc, khác biệt chính kiến là chuyện bình thường, có chăng là từng đối tượng chủ thể biện minh bảo vệ chính kiến hay chính sách của mình phải dựa trên căn bản từ công pháp, công lý, kiến thức, nhân văn, nếu là từ một “nhà nước” thì “quang minh chính đại” là yếu tố quan trọng không thể thiếu. Vậy thì liệu “nhà nước, đảng CSVN” có phải là một nhóm người có đủ trình độ kiến thức văn hóa, văn minh không? khi ban hành một văn bản ngược lại với tinh thần của: TUYÊN NGÔN QUỐC TẾ NHÂN QUYỀN mà chính họ cũng đặt bút ký - Điều 19: “Ai cũng có quyền tự do quan niệm và tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền không bị ai can thiệp vì những quan niệm của mình, và quyền tìm kiếm, tiếp nhận cùng phổ biến tin tức và ý kiến bằng mọi phương tiện truyền thông không kể biên giới quốc gia.”?
Hơn nữa “các ca sĩ, nghệ sĩ hải ngoại đã tổ chức và tham gia chương trình Asia 71” đều là người Việt và Mỹ gốc Việt Nam, việc thông qua nội dung DVD, họ “chỉ trích đường lối, chính sách của Nhà nước Việt Nam trong việc giải quyết tranh chấp biển đảo với Trung Quốc” (trích Công văn) Bởi, là người Việt Nam không ai chấp nhận cái công hàm 1958 do ông Phạm văn Đồng ký với TQ và sự im lặng như “đồng lõa” của CSVN khi quân Trung Quốc xâm lược Hoàng Sa từ trong tay QLVNCH năm 1974. Đây là thể hiện trách nhiệm và lòng “yêu nước” của con dân nước Việt chứ chẳng phải là: “một số tiết mục mang màu sắc chính trị” như công văn xuyên tạc vu khống.
Công văn còn nêu ra: Liên khúc “Có những người anh” và “Anh không chết đâu anh” có nội dung ca ngợi lính cộng hòa? Tại sao không ca ngợi? Chúng ta, toàn dân Việt có phì cười không khi nghe CSVN đưa ra lập luận này để kể tội? Có chính nghĩa và biết chính nghĩa thì người dân Việt mới “ca ngợi lính cộng hòa” những người lính “cộng hòa” ấy đã dũng cảm nằm xuống lấy máu xương bảo vệ chế độ Việt Nam Cộng Hòa tự do đa nguyên dân chủ của miền Nam mà hiện nay hơn 90% (187 quốc gia) trên thế giới và LHQ đang tồn tại và phát triển, chứ không phải là chế độ “độc tài khát máu CS/XHCN” mà hiện nay đa số tuyệt đối nhân loại đang ghê tởm xa lánh từ bỏ, chỉ còn sót lại có 5 quốc gia, chưa tới 3% trên tổng 200 quốc gia trên thế giới. Trong đó, bất hạnh thay, lại có CSVN. Vậy thì ai có chính nghĩa? Ai nên ca ngợi?.
Buồn cười với lập luận “xảo trá” như thế này, với DVD Asia 71, CSVN lập luận là: “Asia 71 có một số tiết mục mang màu sắc chính trị như Triệu con tim (Trúc Hồ sáng tác) với nội dung và phần dẫn chỉ trích đường lối, chính sách của Nhà nước Việt Nam” (trích công văn).
Trong khi trong nước thì nhạc sĩ Việt Khang cũng bằng lời ca tiếng nhạc tỏ lòng yêu nước, nữ sinh viên Nguyễn Phương Uyên cũng làm thơ yêu nước thì CSVN trả lời với truyền thông quốc tế, cả 2 đều là tội phạm vi phạm pháp luật VN chứ không phải là “tù nhân lương tâm bất đồng chính kiến, mang màu sắc chính trị”? Một sự lươn lẹo của phường “tiểu nhân”.
Công văn còn nói: “MC Việt Dũng có nội dung tố cáo Đảng, Nhà nước Việt Nam vi phạm nhân quyền và vận động chữ ký của hàng trăm ngàn người Việt Nam trên khắp thế giới cùng ký vào thư gửi Liên Hiệp Quốc tố cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền” (trích công văn)
Cái này thì CSVN và Sở VH -TT-DL TP.HCM nên che cái mặt lại khi nói như vậy. Bởi không chỉ riêng MC Việt Dũng hay Asia mà hàng chục cơ quan quốc tế về nhân quyền cũng như văn phòng khối Cộng Đồng Châu Âu đều lên án CSVN vi phạm nặng nề về nhân quyền, là quốc gia có tù nhân bất đồng chính kiến nhiều nhất trong khối Asean.
Tố cáo một tội ác là quyền của mọi công dân căn cứ vào TUYÊN NGÔN QUỐC TẾ NHÂN QUYỀN. Nếu không vi phạm nhân quyền thì tại sao từ rất lâu rồi, CSVN luôn từ chối mọi yêu cầu của cơ quan quốc tế nhân quyền, xin thăm viếng và gặp gỡ các tù nhân Việt Nam trên danh sách đã có, xuất trình ra, của mình?
Ngoài ra, để “thăng hoa” cho cái “thù vặt” của chế độ CSVN, công văn cũng “hứa hẹn”: Cục sẽ nghiêm khắc xử lý 2 ca sĩ Hoàng Anh Thư và Hà Thanh Xuân. Nhưng công luận thì như cười vào mặt cái “Cục cư…” này vì ca sĩ Hà Thanh Xuân đã chính thức định cư tại Mỹ với gia đình. Còn ca sĩ Hà Thanh Xuân cũng vậy, đang hoàn tất hồ sơ, trên cơ sở cái công văn này thì “xin tị nạn” chính trị còn nhanh hơn!
Khi cộng sản và CNXH như bóng hoàng hôn nhạt nhòa thoi thóp trên hành tinh này thì “thù vặt” chính là những ánh tà dương le lói cuối ngày của CSVN trên quê hương Âu Lạc.
Hoàng Thanh Trúc
Thursday, February 7, 2013
Lời nguyền trên đỉnh đèo Rù Rì
truyện ngắn của Đoàn Nhã Văn nghe như một DỰ CẢM đối với những người còn sống trên đất Việt.
Lời nguyền trên đỉnh đèo Rù Rì
Tôi khom người xuống. Chiếc xe đạp đổ đèo mỗi lúc một nhanh.
Đường vắng. Đến gần khúc quẹo đầu tiên, tôi đạp nhẹ chân thắng phía sau,
vừa đủ để bẻ một vòng cua thật hách. Xe tiếp tục đổ nhanh, đợi gần đến
miếu, tay bóp thắng trước, chân đạp thắng sau, nghe phựt, rồi phựt, bóp
mạnh thắng tay, gót chân phải đè xuống thắng chân phía sau. Tất cả đều
nhẹ hều, chiếc xe như một mũi tên bắn, cứ lao nhanh về phía trước, tôi
gập người xuống đến mức tối đa, lạng xe qua khúc quành, chiếc xe vượt
khỏi tầm kiểm soát của tôi, lao thẳng giữa hai bệ chắn, mũi tên đã đạt
tốc độ tối đa, vút về phía trước. Bên dưới là thung lũng đen ngòm. Tôi
bay, bay, bay … từ trên cao độ gần 50 mét, so với mặt đường bên dưới
chân đèo. Tôi
nhắm mắt, hét lớn. Vùng dậy… Cả người vã mồ hôi.
Giấc mơ trở đi trở lại nhiều lần, làm cho tôi, dù cố gắng quên
đi lời nguyền, nhưng không thể nào thoát khỏi. Vâng, đó là một lời
nguyền hết sức cay độc, từ xa xưa lắm, đã được ông Cố tôi đích thân chôn
xuống trên đỉnh đèo Rù Rì.Ba
Má tôi quyết định đưa gia đình về sống tại một vùng thôn quê hẻo lánh
này từ đầu năm 1970. Từ đỉnh đèo Rù Rì, nhìn về hướng đông bắc, một eo
biển nhỏ hiện giữa những đồi núi chập chùng. Eo biển đó là eo biển Lương
Sơn, trên đường ra Ninh Hòa. Làng quê đó, chính là làng Lương Sơn như
mọi người thường gọi. Đây là một làng nhỏ, cách chân đèo Rù Rì khoảng 3
km và trung tâm thành phố Nha Trang chừng 12 km. Lưng dựa vào núi, mặt
nhìn về hướng biển,
nên dân trong làng sống chủ yếu vào nương rẫy trên núi và tôm cá ngoài
biển khơi.
Từ lúc hiểu được, tôi đã nghe, đã biết về những tai nạn thảm
khốc trên đèo Rù Rì. Lên 6, 7 tuổi, tôi đã nghe những lời than khóc buồn
bã từ thân nhân của những người mất, bị tai nạn trên vùng đèo này. Lớn
lên tí xíu, tôi đã chính mắt nhìn thấy những thân thể đầy máu, sau những
tai nạn nơi đây. Khi tôi bắt đầu vào Trung học, mỗi ngày dắt xe đạp lên
đèo, xổ đèo, những hình ảnh đó luôn ám ảnh tôi. Tôi lo một, nhưng ba
má tôi lo đến mười.
Mỗi năm, ít nhất một vụ tai nạn khủng khiếp xảy ra. Ngôi miếu
nhỏ nằm giữa lưng chừng đèo, ở mặt Nam, luôn là nỗi ám ảnh mỗi khi một
mình dắt xe đạp đi qua. Tôi sợ, nên thường đi chung với các bạn. Hoặc
khi đạp xe đến tận chân đèo, nhưng chưa thấy ai, thế là ngồi chờ. Chờ có
người nào đó cùng dắt xe lên đèo. Năm 1983, số tai nạn quá nhiều, mà
hai tai nạn thảm khốc, một vào giữa năm, xảy ra ngay miếu thờ, và một
vào cuối năm, những ngày cận tết, bên kia dốc đèo, tại hướng ngã ba: một
đường lên Thành, và đường hướng kia về Nha Trang. Tai nạn này, đã cướp
đi mất một người bạn mà tôi quen biết, học trên tôi một lớp. Có lẽ,
nhiều tai nạn quá khủng khiếp xảy ra liên tiếp, và chúng tôi cũng đã
khôn lớn, Ba tôi, quyết
định kể một chuyện hệ trọng mà ông giấu từ lâu. Câu chuyện đó liên quan
đến ông Cố tôi và lời nguyền cay độc ngày xưa ấy.
Ba tôi kể rằng, vào những năm đầu 1900′s, người Pháp mở đường xá
từ miền Nam ra tận miền Trung. Mở ra rộng hơn, tạo cho môt vóc dáng mới
cho quốc lộ 1. Ông Cố tôi, là một người nhà quê, giỏi chữ nho từ nhỏ,
nhưng thi nhiều lần không đỗ nên ông chỉ làm một ông giáo làng. Nhưng
điều ngạc nhiên là không biết ông học từ đâu, mà có thể đọc và hiểu được
ít nhiều tiếng Pháp. Và khi người Pháp vừa ép buộc, vừa tuyển mộ khắp
nơi để mở đường, vì kinh tế gia đình, ông cố tôi quyết định gác nghề dạy
học, và tham gia đoàn người đi mở đường này. Thông thạo chữ nho, và
hiểu ít nhiều tiếng Pháp, ông được giao cho việc phụ sổ sách. Dần dần,
tạo được tín nhiệm với viên sĩ quan Pháp đứng đầu công trình này, ông
được giao
phó nhiều công việc quan trọng hơn. Cuối cùng, ông được trọng dụng như
là một người giúp việc gần gũi và tín cẩn.
Từ thành Diên Khánh, đường được mở rộng xuống Nha Trang. Rồi từ
Nha Trang ra Ninh Hòa. Nỗi vất vả của những người mở đường này là đoạn
đèo Rù Rì. Đường dốc quanh co. Không ít người đã bỏ mình ở đó. Một hôm,
trong lúc đang đào đất, những người phu đã phát hiện một hầm lớn bên
chân đèo phía Bắc. Khi ông Cố tôi đến, người ta phát hiện trong hầm này
có nhiều lọ cổ. Trong đó có 1 cái lọ lớn và 13 cái lọ nhỏ hơn. Tất cả
đều làm bằng sành. Cái lọ lớn, cao hơn nửa mét, màu xanh lá cây đậm,
dạng như cái trống, chính giữa phình, hai đầu hơi nhỏ lại. Trên mặt lọ,
có cái nắp đậy kín, không một khe hở. Với kích cở và hình dáng này, khi
tôi còn nhỏ, nghe mọi người gọi là cái “thạp” hay “khạp”. Xung quanh
thân
lọ, nửa dưới là những hoa văn, phần trên là những hình thù nửa thú, nửa
người, trông rất kỳ quái. Mười ba cái lọ còn lại, cùng một kích cở, cao
khoảng ba tấc. Dưới chân thật nhỏ, rồi phình ra lớn hơn khi lên cao.
Chỗ phình cao nhất khoảng hai phần ba từ chân lọ. Phần trên cùng hơi túm
lại, nhưng vẫn lớn hơn phần đáy. Lọ không có hình thù quái gở, những
ngược lại là một màu đỏ sẫm, trên khắc những hoa văn tỉ mỉ. Tất cả đều
có nắp đậy và dán kín. Không ai biết bên trong lọ có gì. Ông Cố tôi cho
trình lên viên sĩ quan người Pháp. Lúc đó, viên sĩ quan này đang trên
đường từ Phan Thiết ra. Ba ngày sau, y mới được dịp chiêm ngưỡng những
chiếc lọ cổ quái này.
Tối hôm đó, vị sĩ quan cho người mở ra. Có hai người VN được
chứng kiến, người thông dịch và ông Cố tôi. Bắt đầu từ cái lọ nhỏ. Thoạt
đầu, không làm sao mở được cái nắp lọ. Một chất keo đặt biệt đã dán
kín, không một khe hở. Vị quan người Pháp được cố vấn là nên nung nó
lên, rồi mới mở, nhưng cũng không thành công. Sau đó, vì nóng lòng,
chiếc lọ bị đập bể trên miệng. Bên trong chẳng có gì, ngoại trừ một ít
tro xam xám. Cái thứ hai cũng thế. Cái thứ ba cũng thế. Viên sĩ quan
Pháp ra hiệu ngừng. Đến lượt chiếc lọ lớn, hai tay cầm hai đầu, y giơ
lên rồi rung nhè nhẹ. Bên trong dường như có tiếng gì khua động, nhẹ
nhàng. Tuy nhiên, cũng không cách nào mở được nắp lọ. Vị quan Pháp cho
dừng tay và sai thủ hạ tìm cách khoang
miệng lọ. Khi miệng lọ được mở ra, hai miếng da dày, màu xám đen, chồng
lên nhau, cuốn tròn lại. Ngoài ra không còn một thứ gì khác. Mọi người
đều ngạc nhiên, nhất là viên sĩ quan Pháp. Ông cầm lên ngắm nghía rồi
trải hai miếng da thú lên bàn. Mỗi miếng da có chiều dài khoảng gần 1
thước, chiều ngang khoảng 3 tấc. Khó đoán biết được là da dê hay da
trâu. Miếng da thứ nhất có nhiều hàng chữ nhỏ dọc ngang. Miếng thứ hai,
vẽ những hình thù quái gở. Những hình người nam cụt đầu, những hình
người nữ không lành lặn. Đằng sau miếng da thứ hai như có dấu triện, màu
đỏ, và bốn con số viết rời nhau. Tất cả nhìn nhau, im lặng. Viên quan
Pháp hỏi ông Cố tôi về ý nghĩa của hai tấm da này, vì biết ông Cố tôi
thạo chữ nho. Ông Cố tôi lắc đầu. Đó
không phải là tuồng chữ nho. Tuy nhiên, trong ông, bừng lên một ý nghĩ.
Đó là chữ của người Chăm Pa. Và ông trình bày ý nghĩ của mình. Muốn
hiểu, phải tìm cho bằng được những người còn đọc được lối chữ cổ này. Và
sau đêm đó, ông Cố tôi xuôi Nam, mang một sứ mệnh quan trọng trong đời.
Những hình nhân kỳ dị không thể là những điềm lành. Biết,
nhưng vẫn phải đi. Tôi và bốn người tùy tùng lên ngựa ngay sáng hôm sau,
ngược về hướng Phan Rang. Một người mang chiếc bao dày trên lưng, bên
trong chứa hai miếng da kỳ dị. Ba người còn lại mang lương thực. Tôi như
một người trưởng nhóm. Đi, nhưng trong lòng không chút hy vọng. Ngay ở
ngày thứ hai, một chuyện lạ đã xảy ra. Người mang hai tấm da đột nhiên
ngã quỵ sau khi nghĩ trưa. Anh ôm bụng, mặt mày tái ngắt. Một hồi sau,
anh ngưng thở. Sự việc xảy ra quá nhanh, mà không ai trong đoàn biết lý
do tại sao và phải làm gì. Chúng tôi chôn anh ta lại, và chiếc bao được
giao lại cho một người khác trước khi tiếp tục lên đường. Chúng tôi đến
Phan Rang vào một buổi chiều mưa buồn bã.
Mưa rã rích suốt đêm. Sáng hôm sau, vào chợ, gặng hỏi nhiều người. Hầu
như ai cũng lắc đầu, không hiểu. Có người chỉ cho chúng tôi đi về những
khu xa vắng khác, dò tìm. Chúng tôi đi xa hơn về phía Nam. Lòng vẫn còn
mang một chút hy vọng. Qua nhiều ngày tìm kiếm, hỏi thăm, vô vọng, lại
một việc kỳ lạ khác xảy ra. Người mang hai miếng da đó, bị tiêu chảy.
Chúng tôi kiếm những người thầy thuốc trong khu vực gần đó, vẫn không
chữa nỗi. Anh ta ra đi mà đôi mắt còn trợn lên một màu trắng dã. Hai
người còn lại, không ai dám mang hai miếng da này. Ba chúng tôi đều
nghĩ, những chuyện xui xẻo, chắc phải đến từ hai miếng da này. Tối hôm
đó, cả ba nhìn chiếc bao đựng hai miếng da mà ngán ngẩm. Ai cũng mang
trong lòng những ý nghĩ riêng tư nhưng không nói ra.
Tôi quyết định mang hai miếng da này, dù gì mình cũng là trưởng đoàn.
Tôi khấn vái thiên địa, thánh thần cùng linh hồn những người đã khuất
rằng: chúng tôi chỉ phụng mệnh đi tìm ý nghĩa những gì ghi lại trên hai
miêng da này mà thôi. Chúng tôi không có một ý nghĩ gì xấu cả. Xin
thiên, địa, thánh thần phù hộ cho chúng tôi được bình an, tai qua nạn
khỏi, mà trở về với gia đình. Chúng tôi sẽ cúng tạ trời đất khi an toàn
trở về. Vẫn tiếp tục dò hỏi. Vẫn vô vọng. Lương thực cạn dần. Hy vọng đã
lùi xa. Chắc phải quay về. Về? làm sao ăn nói với viên sĩ quan?
Sáng hôm cuối cùng, trước khi trở về, chúng tôi chậm chạp trở
ra con đường lớn. Bất ngờ, gặp một bà lão, người khô khốc như một thanh
củi đang ngược hướng chúng tôi. Điều ngạc nhiên là khi bà cụ chận chúng
tôi lại và hỏi rằng: có phải chúng tôi từ xa đến và đang đi tìm một cái
gì đó phải không? Tôi thuật lại cho bà cụ nghe đầu đuôi câu chuyện. Bà
nhìn cả ba, rồi nhìn tôi kỷ hơn. Sau đó bảo ba chúng tôi đi theo bà. Bà
dẫn chúng tôi qua một đoạn đường khá xa, dẫn tới một quả đồi nhỏ. Trên
đồi là một nóc nhà cũ kỹ và có phần xiêu vẹo. Chúng tôi được bảo ngồi
chờ phía trước sân. Bà lão đi ra sau, thì thầm chuyện gì đó với ai, khá
lâu. Một lúc sau, một người đàn ông già, nhỏ thó, chòm râu bạc trắng,
dài ngang tận
bụng đi lên. Ông cụ gọi chúng tôi ra sau, mời chúng tôi ngồi xuống
những hòn đá được kê làm ghế, dưới một tàn cây. Tôi tháo chiếc bao, lấy
hai miếng da ra. Ông cụ nhìn ngang, thất sắc. Một hồi sau, định thần,
ông cụ bắt đầu kể…
Tôi cũng không biết chi tiết những dòng chữ nhảy múa này. Ông
chỉ vào tấm da thứ nhất. Rồi tiếp. Nhưng ý nghĩa của nó và những hình
thù trong tấm da kia, thì tôi hiểu. Bộ tộc chúng tôi khi nhìn vào hình
ảnh vẽ trên miếng da đó, hiểu được người vẽ muốn nói gì. Còn tấm da có
viết chữ… Ông lão như nghẹn lời. Đôi mắt buồn hiu, như muốn khóc. Trời
đứng gió. Ai nấy nhễ nhại mồ hôi. Nhìn xa xa, những đồi cát như bốc lên
từng đợt, từng đợt lửa, muốn thiêu đốt cả một vùng rộng lớn. Ông già đưa
tay quệt mồ hôi rồi kể tiếp…
Tôi là một đứa trẻ mồ côi. Tôi sống với Thầy tôi, khi còn nhỏ
lắm. Thầy tôi không dạy tôi những chữ cổ này. Ông dạy tôi, thứ chữ mới
mà người ta đang dùng bây giờ. Tôi học được nhiều điều ở thầy, từ việc
thờ phượng, cúng bái, đến việc ăn ở; từ chuyện lịch sử hưng thịnh đến sự
suy vong của Chăm Pa nói chung và của bộ tộc tôi nói riêng. Khi tôi
khôn lớn, thầy bảo: nếu một mai ông mất, hãy đem tất cả gia sản trong
cái hòm gỗ mà đốt đi với ông. Tôi cúi đầu vâng dạ. Tôi cũng không hỏi
Thầy là trong đó có chứa đựng những gì.
Chúng tôi ngồi im lặng, nhưng cảm nhận được dường như ông già đang nấc lên theo từng hơi thở.
Sau đó vài hôm, Thầy tôi bảo: trong cái hòm gỗ đó, không có tài
sản gì quí giá về tiền bạc, nhưng nó chứa đựng mồ hôi, nước mắt và máu
của dòng họ ông. Đó là những bộ da thú, ghi chép về gia phả của Thầy.
Một gia phả đẫm máu. Những người đi trước muốn ông phải trả thù. Nhưng
vì biết mình là hậu duệ cuối cùng và không làm được, nên ông muốn đốt đi
những tấm da thú ghi lại những máu và nước mắt ấy.
Thầy tôi dạy rằng: hơn hai trăm năm mươi năm trước, giặc phương
Bắc đã đánh vào tận nơi này. Vua của chúng tôi vì thế yếu, đầu hàng và
đồng ý dâng đất để cầu hòa. Trước khi rút lui, nhiều phần thành quách bị
đập phá. Những vị tướng lãnh và thuộc hạ của họ, dù đã qui hàng vẫn bị
đưa lên ngọn đầu đài. Chỉ riêng gia tộc ông có tất cả 14 người bị chém
cùng một kiểu, một dao lìa đầu. Người phương Bắc nói rằng: chém để làm
gương! Ngày mà họ bị đưa lên ngọn đầu đài là một ngày đen tối trong lịch
sử Chăm Pa. Sau đó, rất nhiều thanh niên bị bắt làm nô lệ. Nhiều phụ nữ
bị hành hạ, bị bắt đi làm những kẻ hầu. Sử sách người Chăm Pa có ghi
chép, số người bị chết trong trận chiến, bị chém sau khi qui hàng, bị
bắt
đi làm nô lệ, không dưới nửa vạn. Tiếng khóc than oán hờn dậy đất.
Nước mắt ông lão trào ra theo từng lời kể, cùng với mồ hôi, chảy
xuống thành từng dòng. Ba chúng tôi cũng không cầm được nước mắt.
Trước khi sứ thần chính thức mang lệnh Vua dâng đất cho giặc
phương Bắc, vị Vua của chúng tôi đã cho người chuẩn bị rất kỷ càng. Vua
sai người viết một lời nguyền trên một tấm da thú. Tấm thứ hai vẽ lại
những cảnh chém đầu mà giặc phương Bắc gây nên cùng những cảnh phụ nữ bị
làm nhục, làm nô lệ. Đây chính là hai miếng da lịch sử mà thầy tôi kể
lại vào những ngày cuối đời. Người viết lời nguyền này là một vị pháp sư
nổi tiếng cả nước lúc bấy giờ.
Thầy đã dạy rằng: tấm da thú ghi lại lời nguyền được chôn ở một
nơi hẻo lánh. Để xuôi về phương Nam, người ta phải bước qua nó. Vị Vua
của chúng tôi hiểu rằng mình đang trong thế yếu. Trước sau, đất đai này,
bá tánh này cũng sẽ rơi vào tay giặc. Vì thế, lời nguyền có chủ ý mong
người phương Bắc đối đãi tử tế với bá tánh chúng tôi. Tôi không nhớ
chính xác từng chữ. Đại ý, lời nguyền nói rằng:
mai này, khi bất cứ ai vượt qua lời nguyền để xuôi về Nam, người đó phải có một tấm lòng rộng mở, phải sống tử tế với người khác. Là dân thường, sau khi bước qua lời nguyền này, mà lòng của họ còn mang những dã tâm, thì chính bản thân hay người thân sẽ bị bao nhiêu điều xấu xảy ra, có khi phải bỏ xác nơi đèo heo gió hút này. Là quan, sau khi bước qua lời nguyền, xuôi về Nam, thì phải có một tấm lòng bao dung, mới mong giữ được hòa thuận trong bá tánh, mới giảm được máu và nước mắt của dân tình. Nếu làm trái lại, dòng họ hay bá tánh dưới sự cai quản của người này phải gánh chịu những hậu quả trùng trùng. Là Vương, sau khi bước qua lời nguyền này để xuôi Nam, lòng Vương phải như trời biển, thương dân như thương con, đối với kẻ cựu thù như đối với trăm họ của chính mình, cứu vớt những người cùng khổ bất chấp họ là ai; phải mang lại cơm no áo ấm cho người người, thì mới mong xã tắc vững bền, giang san mới hưng thịnh. Ngược lại, là Vương mà lòng dạ hiểm độc, coi bá tánh như ngọn cỏ, xem kẻ cựu thù như loài thú, trong lòng chỉ nghĩ đến hận thù, thì muôn đời, lời nguyền vẫn còn đó. Máu của bá tánh không bao giờ ngưng chảy. Máu sẽ chảy dài từ nơi này đến bất cứ nơi nào mà có dấu chân của người hiểm độc đứng đầu xã tắc đã bước qua. Và chính gia đình hay hậu duệ của Vương, phải gánh lấy những điều tệ hại nhất… Trong bá tánh, ai có lỡ tay, đào thấy lời nguyền, phải chôn ngay lại tức khắc, nếu không, hậu quả sẽ không lường…
mai này, khi bất cứ ai vượt qua lời nguyền để xuôi về Nam, người đó phải có một tấm lòng rộng mở, phải sống tử tế với người khác. Là dân thường, sau khi bước qua lời nguyền này, mà lòng của họ còn mang những dã tâm, thì chính bản thân hay người thân sẽ bị bao nhiêu điều xấu xảy ra, có khi phải bỏ xác nơi đèo heo gió hút này. Là quan, sau khi bước qua lời nguyền, xuôi về Nam, thì phải có một tấm lòng bao dung, mới mong giữ được hòa thuận trong bá tánh, mới giảm được máu và nước mắt của dân tình. Nếu làm trái lại, dòng họ hay bá tánh dưới sự cai quản của người này phải gánh chịu những hậu quả trùng trùng. Là Vương, sau khi bước qua lời nguyền này để xuôi Nam, lòng Vương phải như trời biển, thương dân như thương con, đối với kẻ cựu thù như đối với trăm họ của chính mình, cứu vớt những người cùng khổ bất chấp họ là ai; phải mang lại cơm no áo ấm cho người người, thì mới mong xã tắc vững bền, giang san mới hưng thịnh. Ngược lại, là Vương mà lòng dạ hiểm độc, coi bá tánh như ngọn cỏ, xem kẻ cựu thù như loài thú, trong lòng chỉ nghĩ đến hận thù, thì muôn đời, lời nguyền vẫn còn đó. Máu của bá tánh không bao giờ ngưng chảy. Máu sẽ chảy dài từ nơi này đến bất cứ nơi nào mà có dấu chân của người hiểm độc đứng đầu xã tắc đã bước qua. Và chính gia đình hay hậu duệ của Vương, phải gánh lấy những điều tệ hại nhất… Trong bá tánh, ai có lỡ tay, đào thấy lời nguyền, phải chôn ngay lại tức khắc, nếu không, hậu quả sẽ không lường…
Sau đó, nhà vua cho làm một buổi lễ tế thần linh. Trong buổi lễ
đó, hai tấm da được đặt vào trong cái lọ lớn. Vị Pháp sư cho rằng: phải
có người theo giữ lời nguyền này, thì lời nguyền mới mãi được linh
thiêng. Nhà vua nghe theo và lựa chọn 13 dũng sĩ dám hy sinh vì bá
tánh. Nhà Vua bảo đảm bổng lộc cho gia đình họ đến suốt đời.
Hôm đó, trời nóng như thiêu đốt. Đến gần giữa ngọ, khi vị pháp
sư tụng niệm những điều bí ẩn vừa chấm dứt, những hồi trống rền rã gióng
lên, 13 dũng sĩ chuẩn bị bước lên giàn thiêu, thì gió ở đâu bỗng nổi
lên ào ạt. Cờ, phướn bay phần phật như muôn ngàn âm binh đang lũ lượt
kéo về. Những hồi trống chấm dứt, gió mới ngưng. Vạn vật như im lặng.
Mười ba dũng sĩ, từng người, từng người bước lên giàn thiêu. Đó đây,
tiếng thút thít của các người thân, cùng những người tham dự, nhỏ nước
mắt cho những người hy sinh vì đại nghĩa. Khi họ bước lên giàn thiêu, cả
13 người cùng đứng trong thế tấn, nhìn xuống cả quảng trường rộng với
một sự bình thản lạ lùng. Một viên quan đọc những lời châu ngọc của Vua,
ca tụng lòng
hy sinh của họ cho bá tánh. Rồi lửa bốc lên, bốc lên. Tiếng khóc đó đây
trong đám đông càng lúc càng lớn. Lửa hận thù. Lửa hy sinh, Lửa cứu độ…
Xác thân còn lại của họ được bỏ trong 13 cái lọ nhỏ. Lời nguyền cùng
tro bụi của 13 người dũng sĩ, sau đó, được chôn tại phía bắc của một
ngọn đèo. Sau đó, Vua mới sai người mang lệnh Vua đi về phương Bắc, lòng
đau đớn cắt đất tiền nhân dâng cho cường địch, để nhận lấy sự an bình
trong giai đoạn nhất thời…
Ông già người Chăm, nước mắt rưng rưng sau khi kể xong: Những
tranh giành lịch sử, dù thành công hay thất bại, luôn luôn nhuốm máu của
bá tánh.
Trong lúc ông Cố tôi mãi mê đi tìm ý nghĩa của hai mảnh da đó, thì viên sĩ quan người Pháp, nhận được điện tín từ Pháp quốc, cho biết vợ ông bịnh nặng. Công việc chăm coi mở đường, giao lại cho người sĩ quan mới. Khi ông Cố tôi về, trình bày tường tận chuyến đi, cùng những lời giải thích của ông già người Chăm, viên sĩ quan mới lắc đầu. Trong đầu y nối kết những tai họa vừa xảy ra, và nhanh nhẩu bảo rằng y không muốn nhìn nó nữa. Hãy chôn lại, theo như lời ông già người Chăm đã nói. Ngay sáng hôm sau, ông Cố tôi cho người chôn lời nguyền cùng 13 cái lọ nhỏ trở xuống, tại một nơi nào đó trên đỉnh đèo Rù Rì. Sau đó, ông xin được nghỉ việc, trở về nhà, cúng tạ trời đất, thần linh như đã hứa và tiếp tục công việc của ông, công việc của một thầy giáo làng cho đến cuối đời.
Sau khi biết được lời nguyền đó, tôi đi tìm những dấu tích lịch
sử theo lời ông già người Chăm đã kể. Tôi tìm được một chút đầu mối liên
quan. Sử sách cho biết, năm Mậu Tý (1648), khi Chúa Nguyễn Phúc Lan đột
ngột qua đời, Nguyễn Phúc Tần lên ngôi ở tuổi 29, thường được gọi là
Hiền vương. Năm 1653, Hiền Vương, sai quan cai cơ Hùng Lộc đem quân vượt
đèo vượt núi Thạch Bi (đèo Cả), đánh Chăm Pa. Lực lượng mạnh, cộng thêm
yếu tố bất ngờ, Hùng Lộc đã đánh đến tận Phan Rang. Vua Chiêm đại bại
dâng thư xin hàng và cắt châu Kaut Hara của Chiêm Thành từ sông Phan
Rang ra đến Đèo Cả dâng cho. Chúa Nguyễn đặt dinh Thái Khang với 2 phủ, 5
huyện. Hai phủ là Thái Khang (Ninh Hòa) và Diên Ninh (Diên Khánh). Năm
huyện là Phước Điền, Hòa Châu,
Vĩnh Xương thuộc phủ Diên Ninh; Tân Định, Quảng Phước thuộc phủ Thái
Khang. Hùng Lộc được cử làm Thái Thú cai trị 2 phủ, dinh đóng tại Thái
Khang tức Ninh Hòa bây giờ. Đây cũng là thời điểm Chăm Pa nộp cống xưng
thần với các chúa Nguyễn. Tuy vậy, sự trả thù vẫn luôn luôn là một nỗi
niềm thao thức của các vì vua Chăm Pa. Gần 40 năm sau, năm 1692, Chúa
Chăm, tên Bà Tranh, đã tấn công vào phủ Diên Ninh và dinh Thái Khang,
nhằm chiếm lại núi sông đã cắt dâng từ thuở trước. Cuộc tấn công này đã
thất bại. Quân Chăm bị tướng Nguyễn Hữu Cảnh đánh tan tác vào năm 1693.
Chúa Nguyễn đổi tên Chăm Pa thành Thuận Thành Trấn, sau đó đổi Thuận
Thành Trấn thành Bình Thuận Phủ.
Sau
này, tôi hỏi Ba: Vậy chứ lời nguyền ấy, được ông Cố chôn tại địa điểm
nào trên đèo Rù Rì? Ba bảo rằng, gia phả không ghi lại đích xác. Chỉ
biết, trước khi ông Cố mất, có bảo chôn trên đỉnh đèo, ngọn núi cao
nhất, ở phía tây, dưới chân cây cổ thụ già, cách đỉnh khoảng 15-20
thước.
Thời
gian đã bào mòn tất cả. Bây giờ, trên ngọn đèo Rù Rì không còn một cây
cổ thụ nào cả. Tuy vậy, tôi không suy nghĩ nhiều về địa điểm chôn giấu
lời nguyền, mà lại bị ám ảnh về một đoạn trong lời nguyền: “Là dân… Là
Quan… Là Vương…”. Suy nghĩ lại, tôi thấy lời nguyền không cay độc như
lần đầu mình được nghe. Nó chỉ cay độc, khi bất cứ ai sau khi vượt qua
nó, xuôi về Nam, mà không sống tử tế với đời, với người. Bao nhiêu năm
rồi, lời của ông già Chăm, nói với ông Cố tôi, được ghi lại trong gia
phả, luôn luôn đeo đuổi tôi: Những tranh giành lịch sử, dù thành công
hay thất bại, luôn luôn nhuốm máu của bá tánh.
Hy vọng, sau khi viết ra những dòng chữ này, tôi sẽ thoát khỏi giấc mơ hãi hùng đó và máu sẽ thôi chảy trên ngọn đèo Rù Rì này.
Đoàn Nhã Văn
Người Việt Gốc Hoa Chống Tàu
Tác
giả nguyên là một sĩ quan hải quân VNCH, một nhà thơ quân đội. Sau
tháng Tư 1975, ông là người tù chính trị, định cư tại Mỹ theo diện H.O.,
hiện là cư dân San Diego. Tham dự Viết Về Nước Mỹ từ những năm đầu
tiên, Phạm Hồng Ân đã nhận giải danh dự 2012. Sau đây là bài viết mới
nhất của ông, nhân ngày tưởng niệm Hoàng Sa, 19 tháng Giêng, 2013.
----------------------------
----------------------------
Người Việt Gốc Hoa Chống Tàu
Tôi
gặp lại A Tỷ ở chợ Thuận Phát, sau 10 năm anh ta biệt tích giang hồ.
Chúng tôi quen nhau vì cùng làm chung trong một hãng "bù tèo". Cái hãng
toàn người già với đồng lương mắc dịch chưa lần nào nhích khỏi năm đầu
ngón tay.
A Tỷ người Tàu, gốc Bạc Liêu. Năm 1978 mua thuyền đánh cá, xuống Cà Mau vượt biên với mấy ông ba tàu khác. Vượt biên đâu phải chuyện dễ. Vượt biên, chẳng những vượt qua muôn trùng sóng gió của biển, thuyền nhân còn vượt qua móng vuốt của công an việt cộng, của cướp biển, thảo khấu, và lòng thờ ơ nơi những nước láng giềng. Cho nên A Tỷ đến đảo chỉ còn cái quần xà lỏn, giấy tờ rớt mẹ đâu mất hết. Đến khi phỏng vấn qua Mỹ, mấy ông ba tàu khác xúi A Tỷ khai sụt tuổi để dễ kiếm việc làm. Chủ Mỹ không ai dại gì bỏ tiền ra thuê một ông già về quờ quạng như con rùa lật ngửa.
A Tỷ vốn chân thật, dễ tin người. Nhưng tội nghiệp, khi gặp phái đoàn Mỹ, anh ta lúng ta lúng túng thế nào mà khai sụt một hơi 13 tuổi. Thế là, trong lúc bạn bè trang lứa với A Tỷ về hưu, hưởng thú đó đây - thì lão lại khòm lưng bên cỗ máy, cà rịch cà tang kéo lê kiếp trâu già. Mãi đến khi hãng "bù tèo" dẹp tiệm, A Tỷ mới thoát khỏi ách cày. Từ đó, lão biệt tích luôn, tới bây giờ chúng tôi mới gặp lại.
Mười năm xa nhau, A Tỷ vẫn còn nhớ tôi. Vừa thấy tôi cầm gói trà Green Tea lên ngắm ngía, bàn tay lão đã chận ngang trước ngực.
- Hày, Nị đừng uống cái lày. Đồ Trung Quốc đó! Kiếm trà Nhật uống, chắc ăn hơn.
- Trời đất! A Tỷ đây ư! Lâu quá không thấy nị. Sao? Còn ở đây không?
- Hày, Mạnh giỏi hông? Ngộ vẫn ở đây. Mấy năm nay bịnh. Tưởng bán muối dồi chớ...
Gói trà màu sắc tuyệt đẹp. Tôi vẫn còn cầm trong tay ngắm nghía nó, chưa muốn bỏ lại.
- Hày, Nị đừng mua đồ Trung Quốc. Nó mần ăn không tốt, bỏ tầm bậy tầm bạ trong đó. Nị vừa mất tiền, vừa hại thân.
- Sao nị biết đồ Trung Quốc không tốt?
- Chời ơi! Nị không coi báo, coi đài. Không đi chợ nghe người ta nói với nhau sao? Họ tẩy chay đồ Trung Quốc khắp nơi.
Tôi ngó lom lom A Tỷ.
- Nị cũng là người Trung Quốc, sao nói xấu Trung Quốc?
- Hày, Có sao nói vậy. Ngộ không nói xấu. Như ngộ có cái kềm Mỹ, xài tới rỉ sét vẫn chưa hư. Thằng con ngộ mới mua cái kềm Trung Quốc về xài, siết tới siết lui mấy cái, nó sút mẹ cái càng ra. Ối cha! Vừa tốn tiền, vừa báo hại.
Tới đây, A Tỷ vẫn chưa chịu ngừng.
- Ngộ đâu phải người Trung Quốc. Ngộ là người Việt gốc Hoa. Ông cố ngộ mới là người Tàu. Hồi xưa, bên Tàu, nhà Thanh đánh bại nhà Minh, đuổi nhà Minh đi khỏi nước. Ông cố ngộ mới theo tướng Mạc Cửu chạy qua Việt Nam xin tá túc. Mạc Cửu sau này là công thần của vua An Nam, có lăng miếu đàng hoàng ở Hà Tiên. Còn ngộ, đẻ ra ở Việt Nam thì Việt Nam là quê hương của ngộ chớ. Cũng như cháu nội nị đẻ ở bên Mỹ thì Mỹ là quê hương của cháu nội nị. Nó có biết chi về Việt Nam đâu?
A Tỷ nói thao thao cho đến khi tôi trả gói trà lên kệ, lão mới thôi. Loay quay một lúc, A Tỷ kéo tôi ra khỏi quán, sau khi hào phóng tặng tôi nguyên phong trà green tea Nhật Bổn. Buổi sáng, nắng rực rỡ. Khu Linda Vista xôn xao với hàng quán tấp nập. Chính nơi này,10 năm trước, A Tỷ dẫn tôi tới đây ăn tô phở đầu tiên ở góc phố đằng kia, rồi lôi tôi về nhà nhờ hướng dẫn trồng các loại cây mà bên Mỹ này chưa có người việt nào muốn trồng bao giờ.
- Hày, ngộ với nị qua bên kia làm tô mì chơi. Đừng ngại, ngộ bao cho.
Ngó mái tóc bạc như bông gòn của A Tỷ, tôi bỗng thấy nao nao.
- Nị mới trúng super lotto đêm qua, phải không?
- Hày, Bộ trúng mới bao sao? Ngộ muốn trả ơn nị, chút đỉnh mà...
Tôi chưng hửng.
- Trả ơn? Nhưng ơn gì?
A Tỷ ôm chầm vai tôi, tha thiết.
- Nị mau quên quá! 10 năm trước, con vợ ngộ muốn trồng dừa. Ngộ chạy ra chợ mua trái dừa gáo, về đào đất, dồi đặt xuống. Ngày nào hai vợ chồng cũng bỏ phân, tưới nước, trông nó lên cây. Nhưng trông riết, nó cứ trơ trơ. Giận quá, ngộ đào lên, cái gáo dừa thúi quắc.
- Rồi tôi hướng dẫn nị tìm trái dừa còn nguyên vỏ. Về nhà, ủ nó lên mọng, mới đem ra vườn, đào lỗ, đặt xuống chứ gì?
A Tỷ vỗ tay, cười khục khặc.
- Đúng dồi! Bây giờ cây dừa đã có trái. Con vợ ngộ khoái quá. Nó nói nó mang ơn nị.
- Cái đó tôi học lóm người ta, chỉ lại nị. Ơn nghĩa chi?
A Tỷ chưa chịu buông tha.
- Còn một cái nữa, nị quên dồi. Nị nhớ nị có ra mắt cái CD chưa? CD ngâm thơ đó...
Kỷ niệm chợt trở về. Cách đây khá lâu, lúc còn làm chung hãng "bù tèo" với A Tỷ, có ông bạn thân khuyên tôi nên ra mắt CD ngâm thơ để có cớ tụ họp bạn bè văn nghệ lại, xem ai còn ai mất? Tôi đem giấy mời vào hãng, trao đến tay các anh em người Việt. Riêng A Tỷ, tôi không mời, vì nghĩ anh ta chẳng rành nhiều về tiếng Việt. Nhưng thật ngạc nhiên, khi thấy A Tỷ tiến đến gần tôi, tỉ tê trách móc.
- Hày, ngộ với nị quen biết nhau lâu quá. Nay ra mắt CD, sao lại bỏ ngộ ra. Nói thiệt, nị không cho ngộ đi, ngộ cũng tìm cách đi cho được. Bạn bè mà.
Thế là tôi đành trao giấy mời cho A Tỷ.
Hôm nay, A Tỷ nhắc lại chuyện xưa, chắc có mục đích chi đây?
- Vụ CD đã lâu rồi. Bây giờ, cái dĩa không nghe được nữa hả?
- Đâu có. Cái CD ngâm thơ hay quá! Nhiều người khen nị. Ngộ cũng muốn khen nị đó mà.
- Trời đất! Nị cũng khoái thơ nữa ư?
- Hày, Sao không? Để ngộ ngâm cho nị nghe nha!
Quảng Đông ăn cá bỏ đầu
Triều Châu len lén xỏ xâu đem dìa.
Thấy có người khen thơ mình, lại là người Hoa, tôi khoái chí.
- Thế... bài thơ nào nị thích nhất? Nó nói về cái gì? Tình cha, tình mẹ hay tình yêu?
- Chời ơi! Nị hỏi nhiều quá, ngộ đâu có biết!
Tôi ngó lom lom A Tỷ, mồm há hốc.
- Vậy sao nị khen hay. Hay ở chỗ nào?
- Không giấu gì nị. Con vợ ngộ mất ngủ mấy năm trời. Uống đủ thứ thuốc, đêm nào cũng vẫn nằm thao thức, thở ra thở vô. Có cái CD của nị, mới mở ra, chưa đầy nửa tiếng, con vợ nó lăn ra ngủ khò khò hồi nào không hay. Lâu dồi, nó muốn gặp nị, để...trả ơn.
Tôi tiu nghỉu.
- Nị nói giỡn hay nói thiệt, cha nội?
A Tỷ ôm gọn tôi vào lòng.
- Hày, có bao giờ ngộ nói láo nị đâu. Bi giờ mình qua bên kia làm một tô mì đi!
Tôi kéo tay A Tỷ ra, lắc đầu.
- Nị mới làm một bụng rồi. Để khi khác.
Cà kê dê ngỗng một lát, A Tỷ đành chấp nhận lời từ chối của tôi. Trước khi từ giã, lão hứa sẽ mời tôi dự lễ vu quy của con gái lão trong vòng vài tháng nữa. Con nhỏ và thằng nhỏ thương nhau từ những năm đầu đại học. Bây giờ, vừa tốt nghiệp, hai đứa nhỏ quyết định lấy nhau. Tôi gục gặc đầu, ậm ừ trong họng, rồi quay lưng đi. Nhưng bên tai còn nghe văng vẳng giọng A Tỷ vang vang trong gió. Hày, ông sui của ngộ cũng giống như nị, qua diện HO, dân Sài Gòn.
Vài tháng nữa, trông đợi mãi, chẳng thấy bóng dáng tấm thiệp vu quy nào của A Tỷ gửi đến. Thời gian sau, tôi lại gặp lão ở góc chợ Thuận Phát. Thấy A Tỷ, tôi cất giọng phàn nàn ngay.
- Cả tháng nay tôi trông dài cả cổ ra mà có thấy thiệp cưới của ngộ gửi đâu? Bộ nị quên thằng bạn nghèo này sao?
A Tỷ cúi đầu, mếu máo.
- Cha thằng nhỏ nhất định không chịu làm sui với người Tàu. Thằng chả nói người Tàu chiếm đất, chiếm đảo của người Việt. Bi giờ muốn chiếm luôn con trai của y nữa sao?
Tôi bùi ngùi vỗ vai A Tỷ.
- Chuyện qua rồi. Đừng buồn nữa. Nị về ráng an ủi và khuyên lơn con nhỏ. Mất thằng nhỏ này, còn khối thằng nhỏ khác, lo gì!
Mặc tôi chia xẻ, cảm thông, A Tỷ vẫn mếu máo.
- Ngộ là người Việt gốc Hoa. Sinh đẻ ở Việt Nam thì quê hương ngộ chính là Việt Nam. Ngộ cũng đi lính Cộng Hòa, cũng chống Tàu. Vậy mà người ta vẫn không ưa ngộ.
A Tỷ người Tàu, gốc Bạc Liêu. Năm 1978 mua thuyền đánh cá, xuống Cà Mau vượt biên với mấy ông ba tàu khác. Vượt biên đâu phải chuyện dễ. Vượt biên, chẳng những vượt qua muôn trùng sóng gió của biển, thuyền nhân còn vượt qua móng vuốt của công an việt cộng, của cướp biển, thảo khấu, và lòng thờ ơ nơi những nước láng giềng. Cho nên A Tỷ đến đảo chỉ còn cái quần xà lỏn, giấy tờ rớt mẹ đâu mất hết. Đến khi phỏng vấn qua Mỹ, mấy ông ba tàu khác xúi A Tỷ khai sụt tuổi để dễ kiếm việc làm. Chủ Mỹ không ai dại gì bỏ tiền ra thuê một ông già về quờ quạng như con rùa lật ngửa.
A Tỷ vốn chân thật, dễ tin người. Nhưng tội nghiệp, khi gặp phái đoàn Mỹ, anh ta lúng ta lúng túng thế nào mà khai sụt một hơi 13 tuổi. Thế là, trong lúc bạn bè trang lứa với A Tỷ về hưu, hưởng thú đó đây - thì lão lại khòm lưng bên cỗ máy, cà rịch cà tang kéo lê kiếp trâu già. Mãi đến khi hãng "bù tèo" dẹp tiệm, A Tỷ mới thoát khỏi ách cày. Từ đó, lão biệt tích luôn, tới bây giờ chúng tôi mới gặp lại.
Mười năm xa nhau, A Tỷ vẫn còn nhớ tôi. Vừa thấy tôi cầm gói trà Green Tea lên ngắm ngía, bàn tay lão đã chận ngang trước ngực.
- Hày, Nị đừng uống cái lày. Đồ Trung Quốc đó! Kiếm trà Nhật uống, chắc ăn hơn.
- Trời đất! A Tỷ đây ư! Lâu quá không thấy nị. Sao? Còn ở đây không?
- Hày, Mạnh giỏi hông? Ngộ vẫn ở đây. Mấy năm nay bịnh. Tưởng bán muối dồi chớ...
Gói trà màu sắc tuyệt đẹp. Tôi vẫn còn cầm trong tay ngắm nghía nó, chưa muốn bỏ lại.
- Hày, Nị đừng mua đồ Trung Quốc. Nó mần ăn không tốt, bỏ tầm bậy tầm bạ trong đó. Nị vừa mất tiền, vừa hại thân.
- Sao nị biết đồ Trung Quốc không tốt?
- Chời ơi! Nị không coi báo, coi đài. Không đi chợ nghe người ta nói với nhau sao? Họ tẩy chay đồ Trung Quốc khắp nơi.
Tôi ngó lom lom A Tỷ.
- Nị cũng là người Trung Quốc, sao nói xấu Trung Quốc?
- Hày, Có sao nói vậy. Ngộ không nói xấu. Như ngộ có cái kềm Mỹ, xài tới rỉ sét vẫn chưa hư. Thằng con ngộ mới mua cái kềm Trung Quốc về xài, siết tới siết lui mấy cái, nó sút mẹ cái càng ra. Ối cha! Vừa tốn tiền, vừa báo hại.
Tới đây, A Tỷ vẫn chưa chịu ngừng.
- Ngộ đâu phải người Trung Quốc. Ngộ là người Việt gốc Hoa. Ông cố ngộ mới là người Tàu. Hồi xưa, bên Tàu, nhà Thanh đánh bại nhà Minh, đuổi nhà Minh đi khỏi nước. Ông cố ngộ mới theo tướng Mạc Cửu chạy qua Việt Nam xin tá túc. Mạc Cửu sau này là công thần của vua An Nam, có lăng miếu đàng hoàng ở Hà Tiên. Còn ngộ, đẻ ra ở Việt Nam thì Việt Nam là quê hương của ngộ chớ. Cũng như cháu nội nị đẻ ở bên Mỹ thì Mỹ là quê hương của cháu nội nị. Nó có biết chi về Việt Nam đâu?
A Tỷ nói thao thao cho đến khi tôi trả gói trà lên kệ, lão mới thôi. Loay quay một lúc, A Tỷ kéo tôi ra khỏi quán, sau khi hào phóng tặng tôi nguyên phong trà green tea Nhật Bổn. Buổi sáng, nắng rực rỡ. Khu Linda Vista xôn xao với hàng quán tấp nập. Chính nơi này,10 năm trước, A Tỷ dẫn tôi tới đây ăn tô phở đầu tiên ở góc phố đằng kia, rồi lôi tôi về nhà nhờ hướng dẫn trồng các loại cây mà bên Mỹ này chưa có người việt nào muốn trồng bao giờ.
- Hày, ngộ với nị qua bên kia làm tô mì chơi. Đừng ngại, ngộ bao cho.
Ngó mái tóc bạc như bông gòn của A Tỷ, tôi bỗng thấy nao nao.
- Nị mới trúng super lotto đêm qua, phải không?
- Hày, Bộ trúng mới bao sao? Ngộ muốn trả ơn nị, chút đỉnh mà...
Tôi chưng hửng.
- Trả ơn? Nhưng ơn gì?
A Tỷ ôm chầm vai tôi, tha thiết.
- Nị mau quên quá! 10 năm trước, con vợ ngộ muốn trồng dừa. Ngộ chạy ra chợ mua trái dừa gáo, về đào đất, dồi đặt xuống. Ngày nào hai vợ chồng cũng bỏ phân, tưới nước, trông nó lên cây. Nhưng trông riết, nó cứ trơ trơ. Giận quá, ngộ đào lên, cái gáo dừa thúi quắc.
- Rồi tôi hướng dẫn nị tìm trái dừa còn nguyên vỏ. Về nhà, ủ nó lên mọng, mới đem ra vườn, đào lỗ, đặt xuống chứ gì?
A Tỷ vỗ tay, cười khục khặc.
- Đúng dồi! Bây giờ cây dừa đã có trái. Con vợ ngộ khoái quá. Nó nói nó mang ơn nị.
- Cái đó tôi học lóm người ta, chỉ lại nị. Ơn nghĩa chi?
A Tỷ chưa chịu buông tha.
- Còn một cái nữa, nị quên dồi. Nị nhớ nị có ra mắt cái CD chưa? CD ngâm thơ đó...
Kỷ niệm chợt trở về. Cách đây khá lâu, lúc còn làm chung hãng "bù tèo" với A Tỷ, có ông bạn thân khuyên tôi nên ra mắt CD ngâm thơ để có cớ tụ họp bạn bè văn nghệ lại, xem ai còn ai mất? Tôi đem giấy mời vào hãng, trao đến tay các anh em người Việt. Riêng A Tỷ, tôi không mời, vì nghĩ anh ta chẳng rành nhiều về tiếng Việt. Nhưng thật ngạc nhiên, khi thấy A Tỷ tiến đến gần tôi, tỉ tê trách móc.
- Hày, ngộ với nị quen biết nhau lâu quá. Nay ra mắt CD, sao lại bỏ ngộ ra. Nói thiệt, nị không cho ngộ đi, ngộ cũng tìm cách đi cho được. Bạn bè mà.
Thế là tôi đành trao giấy mời cho A Tỷ.
Hôm nay, A Tỷ nhắc lại chuyện xưa, chắc có mục đích chi đây?
- Vụ CD đã lâu rồi. Bây giờ, cái dĩa không nghe được nữa hả?
- Đâu có. Cái CD ngâm thơ hay quá! Nhiều người khen nị. Ngộ cũng muốn khen nị đó mà.
- Trời đất! Nị cũng khoái thơ nữa ư?
- Hày, Sao không? Để ngộ ngâm cho nị nghe nha!
Quảng Đông ăn cá bỏ đầu
Triều Châu len lén xỏ xâu đem dìa.
Thấy có người khen thơ mình, lại là người Hoa, tôi khoái chí.
- Thế... bài thơ nào nị thích nhất? Nó nói về cái gì? Tình cha, tình mẹ hay tình yêu?
- Chời ơi! Nị hỏi nhiều quá, ngộ đâu có biết!
Tôi ngó lom lom A Tỷ, mồm há hốc.
- Vậy sao nị khen hay. Hay ở chỗ nào?
- Không giấu gì nị. Con vợ ngộ mất ngủ mấy năm trời. Uống đủ thứ thuốc, đêm nào cũng vẫn nằm thao thức, thở ra thở vô. Có cái CD của nị, mới mở ra, chưa đầy nửa tiếng, con vợ nó lăn ra ngủ khò khò hồi nào không hay. Lâu dồi, nó muốn gặp nị, để...trả ơn.
Tôi tiu nghỉu.
- Nị nói giỡn hay nói thiệt, cha nội?
A Tỷ ôm gọn tôi vào lòng.
- Hày, có bao giờ ngộ nói láo nị đâu. Bi giờ mình qua bên kia làm một tô mì đi!
Tôi kéo tay A Tỷ ra, lắc đầu.
- Nị mới làm một bụng rồi. Để khi khác.
Cà kê dê ngỗng một lát, A Tỷ đành chấp nhận lời từ chối của tôi. Trước khi từ giã, lão hứa sẽ mời tôi dự lễ vu quy của con gái lão trong vòng vài tháng nữa. Con nhỏ và thằng nhỏ thương nhau từ những năm đầu đại học. Bây giờ, vừa tốt nghiệp, hai đứa nhỏ quyết định lấy nhau. Tôi gục gặc đầu, ậm ừ trong họng, rồi quay lưng đi. Nhưng bên tai còn nghe văng vẳng giọng A Tỷ vang vang trong gió. Hày, ông sui của ngộ cũng giống như nị, qua diện HO, dân Sài Gòn.
Vài tháng nữa, trông đợi mãi, chẳng thấy bóng dáng tấm thiệp vu quy nào của A Tỷ gửi đến. Thời gian sau, tôi lại gặp lão ở góc chợ Thuận Phát. Thấy A Tỷ, tôi cất giọng phàn nàn ngay.
- Cả tháng nay tôi trông dài cả cổ ra mà có thấy thiệp cưới của ngộ gửi đâu? Bộ nị quên thằng bạn nghèo này sao?
A Tỷ cúi đầu, mếu máo.
- Cha thằng nhỏ nhất định không chịu làm sui với người Tàu. Thằng chả nói người Tàu chiếm đất, chiếm đảo của người Việt. Bi giờ muốn chiếm luôn con trai của y nữa sao?
Tôi bùi ngùi vỗ vai A Tỷ.
- Chuyện qua rồi. Đừng buồn nữa. Nị về ráng an ủi và khuyên lơn con nhỏ. Mất thằng nhỏ này, còn khối thằng nhỏ khác, lo gì!
Mặc tôi chia xẻ, cảm thông, A Tỷ vẫn mếu máo.
- Ngộ là người Việt gốc Hoa. Sinh đẻ ở Việt Nam thì quê hương ngộ chính là Việt Nam. Ngộ cũng đi lính Cộng Hòa, cũng chống Tàu. Vậy mà người ta vẫn không ưa ngộ.
- Tác giả: Phạm Hồng Ân -
Subscribe to:
Posts (Atom)





























