Luận án về mại dâm ở Việt Nam chiếm giải nhất tại Hoa Kỳ
DCVOnline - Tin Public Affairs, UC Berkeley | 09 tháng 5 năm 2012.
BERKELEY - Kimberly Hoàng, tốt nghiệp tiến sĩ Xã hội học tại UC Berkeley năm 2011, đã được Hội Xã hội học Mỹ trao giải “luận án hay nhất” cho luận án tiến sĩ về mại dâm tại Việt Nam.
Luận án tựa đề “Tính kinh tế của tình dục và chăn gối tại Việt Nam”, là công trình 15 tháng nghiên cứu về dân tộc học tại TP Hồ Chí Minh; tại đây Ts Kimberly Hoàng đã làm việc như một chiêu đãi viên tại bốn quán bar phục vụ cho các nhóm khách hàng khác nhau. Theo giáo sư xã hội học Berkeley Raka Ray, chủ tịch ủy ban luận án, nghiên cứu của Kimberly Hoàng “không những chỉ làm nổi bật là cấu trúc và cách hành nghề mại dâm ở Việt Nam mà còn giải thích mại dâm giữ vai trò quan trọng như tiền mặt trong nền kinh tế chính trị của Việt Nam.”
Trong lá thư đề cử, Gs. Ray gọi luận án “Tính kinh tế của tình dục và chăn gối tại Việt Nam” là “một tác phẩm tuyệt vời” của “một nhà tư tưởng can đảm và sáng tạo” và ông nói thêm rằng Ts. Hoàng “nghiên cứu điền dã ít người dám thực hiện”.
Kimberly Hoàng là con gái trong một gia đình di cư, chủ tiệm bi-da trong khu phố cũ, tốt nghiệp danh dự tại đại học UC Santa Barbara năm 2005 rồi lấy Thạc sĩ tại đại học Stanford trước khi đến học ở Berkeley. Hiện nay Ts. Kimberly Hoàng là một nghiên cứu sinh sau tiến sĩ tại Trung tâm Nghiên cứu Giới tính, Phụ nữ và Tình dục tại Đại học Rice; Ts. Hoàng sẽ giảng dạy tại Khoa Xã hội học tại Boston College vào năm 2013.
Giải thưởng của Kimbery Hoàng sẽ được trao vào tháng Tám tại cuộc họp thường niên của Hội Xã hội học Hoa Kỳ (The American Sociological Association, ASA).
Nguồn © DCVOnline
BERKELEY - Kimberly Hoàng, tốt nghiệp tiến sĩ Xã hội học tại UC Berkeley năm 2011, đã được Hội Xã hội học Mỹ trao giải “luận án hay nhất” cho luận án tiến sĩ về mại dâm tại Việt Nam.
Ts. Kimberly Hoàng Nguồn ảnh: UC Berkeley |
Trong lá thư đề cử, Gs. Ray gọi luận án “Tính kinh tế của tình dục và chăn gối tại Việt Nam” là “một tác phẩm tuyệt vời” của “một nhà tư tưởng can đảm và sáng tạo” và ông nói thêm rằng Ts. Hoàng “nghiên cứu điền dã ít người dám thực hiện”.
Kimberly Hoàng là con gái trong một gia đình di cư, chủ tiệm bi-da trong khu phố cũ, tốt nghiệp danh dự tại đại học UC Santa Barbara năm 2005 rồi lấy Thạc sĩ tại đại học Stanford trước khi đến học ở Berkeley. Hiện nay Ts. Kimberly Hoàng là một nghiên cứu sinh sau tiến sĩ tại Trung tâm Nghiên cứu Giới tính, Phụ nữ và Tình dục tại Đại học Rice; Ts. Hoàng sẽ giảng dạy tại Khoa Xã hội học tại Boston College vào năm 2013.
Giải thưởng của Kimbery Hoàng sẽ được trao vào tháng Tám tại cuộc họp thường niên của Hội Xã hội học Hoa Kỳ (The American Sociological Association, ASA).
Nguồn © DCVOnline
Tác giả:
Kimberly Kay Hoang nhận bằng MA về xã hội học ở trường Stanford University và hiện đang là nghiên cứu sinh tiến
sĩ ở khoa xã hội học tại University of California, Berkeley. Lĩnh vực nghiên cứu chủ yếu của chị
là giới tính, nhập cư, toàn cầu hoá và kĩ nghệ tình dục ở Việt
Nam.
Luận án
tựa đề “Tính kinh tế của tình dục và chăn gối tại Việt Nam”, là công trình 15
tháng nghiên cứu về dân tộc học tại TP Saigon; tại đây Ts Kimberly Hoàng đã làm
việc như một chiêu đãi viên tại bốn quán bar phục vụ cho các nhóm khách hàng
khác nhau. Theo giáo sư xã hội học Berkeley Raka Ray, chủ tịch ủy ban luận án,
nghiên cứu của Kimberly Hoàng “không những chỉ làm nổi bật là cấu
trúc và cách hành nghề mại dâm ở Việt Nam mà còn giải thích mại dâm giữ vai trò
quan trọng như tiền mặt trong nền kinh tế chính trị của Việt
Nam.”
Trong lá thư đề cử, Gs. Ray gọi luận án“Tính kinh tế của tình dục và chăn gối tại Việt Nam” là “một tác phẩm tuyệt vời” của “một nhà tư tưởng can đảm và sáng tạo” và ông nói thêm rằng Ts. Hoàng “nghiên cứu điền dã ít người dám thực hiện”.
Kimberly Hoàng là con gái trong một gia đình di cư, chủ tiệm bi-da trong khu phố cũ, tốt nghiệp danh dự tại đại học UC Santa Barbara năm 2005 rồi lấy Thạc sĩ tại đại học Stanford trước khi đến học ở Berkeley. Hiện nay Ts. Kimberly Hoàng là một nghiên cứu sinh sau tiến sĩ tại Trung tâm Nghiên cứu Giới tính, Phụ nữ và Tình dục tại Đại học Rice; Ts. Hoàng sẽ giảng dạy tại Khoa Xã hội học tại Boston College vào năm 2013.
Giải thưởng của Kimbery Hoàng sẽ được trao vào tháng Tám tại cuộc họp thường niên của Hội Xã hội học Hoa Kỳ (The American Sociological Association, ASA).
Tóm
tắt
Bài báo
này khảo sát nền công nghệ tình dục ở thành phố HCM, Việt Nam,
một đất nước đã nhanh chóng thực hiện việc tái cấu trúc nền kinh tế trong hơn 20
năm qua. Trên cơ sở khảo sát tại chỗ trong khoảng thời gian từ tháng 6 năm 2006
đến tháng 8 năm 2007, tôi phân tích và so sánh quan hệ của những người lao động
tình dục và các khách hàng của họ trong ba khu vực khác nhau của ngành công nghệ
tình dục. Khu vực hạ cấp mua vui cho đàn ông Việt Nam, khu vực
trung cấp phục vụ cho người da trắng ngoại quốc và khu cao cấp phục vụ cho người
Việt hải ngoại (Việt kiều). Tôi sử dụng lý thuyết của Arlie Hochschild về biểu
hiện tình cảm để minh hoạ những người phụ nữ trong khu vực hạ đẳng thường có
thái độ thô bạo trong khi những người phụ nữ làm việc trong khu vực trung và cao
cấp thường có tình cảm hơn. Khía cạnh tình cảm trong các mối quan hệ này cho
thấy những điều kiện tạo thành những sự lựa chọn mà những người lao động trong
lĩnh vực tình dục có thể có đối với khách làng chơi của
họ.
Dẫn
nhập
Trong vài
chục năm gần đây đã xuất hiện nhiều tác phẩm viết về công nghệ tình dục trên
phạm vi toàn cầu (Bales, 2004; Cabezas, 2004; Kempadoo, 2004). Trong mười năm
qua, các nhà khoa học đã tập trung chú ý đến sự phát triển của du lịch tình dục
trên phạm vi toàn cầu, được thể hiện bởi sự hoà nhập giữa du lịch quốc tế và khu
vực, và sự cung ứng và tiêu thụ các dịch vụ tình dục (Brennan, 2004; Lim, 1998).
Trong nền kinh tế thế giới hiện nay, tình dục thường kết hợp với dòng di chuyển
xuyên quốc gia của đàn ông từ các nước phát triển sang các nước kém phát triển
hơn (Wonders and Michalowski, 2001). Tiểu luận này khảo sát nền công nghệ tình
dục toàn cầu hiện nay ở thành phố HCM, trước đây gọi là Sài Gòn, một thành phố,
thông qua những thay đổi về mặt kinh tế-xã hội đầy kịch tính trong hơn 20 năm
qua, đã tham gia vào nền kinh tế toàn cầu. Tôi phân tích và so sánh quan hệ giữa
những người lao động trong lĩnh vực tình dục với các khách hàng của họ trong ba
khu vực khác nhau của nền công nghệ tình dục ở thành phố HCM và đưa ra mẫu thức
của tình cảm trong những mối qua hệ này. Về phía khách làng chơi đàn ông, tôi
nhận thấy rằng một số người thích trả nhiều tiền hơn để đổi lấy sự thân tình chứ
không chỉ tình dục. Về phía người lao động, tôi nhận thấy rằng khu vực dịch vụ
quyết định hình thức tình cảm, người được trả công cao thường có biểu hiện tình
cảm cao hơn. Elizabeth Bernstein (2007) là khoa học gia duy nhất mà tôi biết đã
thử so sánh những người lao động trong những khu vực khác nhau của nền công nghệ
tình dục ở San
Francisco. Công trình nghiên cứu của Bernstein cho thấy
tình cảm của những người lao động tình dục trong những khu vực được trả công
trung bình và cao thông qua cái mà bà gọi là sự xác thực có giới hạn. Tuy nhiên
bà biện luận rằng những người đàn bà đứng đường được trả công thấp thường tỏ ra
vô cảm “làm cho xong”, không hề có tí tình cảm nào trong đó. Tôi mở rộng công
trình nghiên cứu của Bernstein thông qua việc khảo sát ba lĩnh vực của nền công
nghệ tình dục ở thành phố HCM. Trái ngược với Bernstein, tôi thấy rằng những
người lao động trong khu vực hạ cấp làm tình chỉ vì tiền thường có thái độ thô
bạo vì họ phải đè nén sự kinh tởm trước cơ thể và tuổi tác của khách làng chơi.
Hơn nữa, trong khi Bernstein thấy rằng tình dục cao cấp thường hoạt động trong
không gian có tính rất riêng tư, khảo sát của tôi lại cho thấy khu vực tình dục
cao cấp lại được thể hiện khá tình cảm, giúp những người đàn ông thể hiện nam
tính của mình một cách công khai nhất ở thành phố HCM. Các số liệu của tôi còn
chứng tỏ sự tồn tại, dù không thật rõ nhưng cần thiết, giữa sự thân tình và quan
hệ kinh tế mà những người làm việc trong lĩnh vực tình dục trung và cao cấp có
dưới hình thức những biểu hiện thân tình với khách làng chơi (Zelizer, 2005)
nhằm làm cho khách cảm thấy được an ủi, quan tâm, có khả năng tưởng tượng và
khát khao.
Hoàn
cảnh lịch sử
Mại dâm
trong giai đoạn thuộc địa Pháp và Mỹ
Cùng với
việc thiết lập các căn cứ quân sự với quân đồn trú trên những vùng khác nhau,
công nghệ tình dục ở Đông Nam Á phát triển rất nhanh trong giai đoạn Pháp thuộc
và chiến tranh Việt Nam. Cơ sở hạ tầng như thế đã tạo ra
ở phương Tây hình ảnh người đàn bà đẹp và ngoan ngoãn ở Đông Nam Á (Enloe,
1990). Nạn mại dâm ở Việt Nam phát triển cùng với việc khai
thác thuộc địa của Pháp, nhằm phục vụ thực dân. Trong khi trước thời Pháp thuộc
người Việt Nam vẫn sống chủ yếu là ở làng quê, việc phát triển các trung tâm đô
thị – trụ sở của bộ máy quản lý hành chính, thương mại và tài chính của nhà nước
thuộc địa – thúc đẩy sự trỗi dậy trong cơ cấu kinh tế của đất nước làm cho nạn
mại dâm cũng gia tăng (Guenel, 1997). Sài Gòn-Chợ Lớn, sau này đổi tên là thành
phố HCM, là thành phố bị tác động mạnh nhất trong giai đoạn thuộc địa. Thành phố
này được mệnh danh là “Hòn ngọc Viễn Đông” với dân cư phát triển rất nhanh, từ
13.000 người vào 1883 lên thành 250.000 vào năm 1932, làm cho Sài Gòn trở thành
biểu tượng của ảnh hưởng của phương Tây (Guenel, 1997: 149). Cho đến năm 1930
“Sài Gòn là trung tâm đô thị chủ yếu và là một trong những mắt xích phức tạp của
nạn buôn người, có quan hệ mật thiết với giới mại dâm” (Rodriguez, 2008). Trong
những thành phố như Sài Gòn, thực dân và dân bản xứ quan hệ mật thiết với nhau,
điều đó đã dẫn tới những qui định cứng rắn hơn (Proschan, 2002). Thực dân Pháp
cố gắng quản lý nạn mại dâm ở Đông Dương bằng cách buộc gái điếm phải đăng ký
với chính quyền địa phương. Lý do căn bản là không để cho dân đi khai thác thuộc
địa bị mắc những căn bệnh lây qua đường tình dục (Stoler, 1991, 1992). Nhưng
việc quản lý đã thất bại vì nạn mại dâm có bảo kê giữ thế thượng phong trong thị
trường tình dục. Mại dâm có bảo kê thường xuất phát từ các nhà thổ được nguỵ
trang thành tiệm café, phòng hút thuốc phiện và quán bar, gây khó khăn cho việc
quản lý công nghệ tình dục (Rodriguez, 2008).
Trong cuộc
chiến Việt Nam, chính sách của Bộ quốc phòng Mỹ
là hạn chế mại dâm đến hết mức có thể. Tuy nhiên, trong những năm 1960, việc
quản lý của Mỹ đã trở nên lỏng lẻo hơn. Đến năm 1966, Sài Gòn có 1000 quán bar,
hơn 100 hộp đêm và ít nhất là 30 tửu quán (Sun, 2004: 131). Khi Mỹ đổ thêm quân
vào Việt Nam thì nhu cầu mại dâm cũng tăng.
Năm 1967 có 500.000 quân Mỹ và quân Nam Việt Nam và
theo đánh giá thì có khoảng một trăm ngàn phụ nữ tham gia hoạt động trong lĩnh
vực công nghệ tình dục (Dunn, 1994). Khu vực trung tâm Sài Gòn và gần những khu
nhà của người Mỹ và các căn cứ quân sự dày đặc các quán bar chuyên phục vụ người
Mỹ (Jamieson, 1995). Ngày 30 tháng 4 năm 1975, cuộc chiến giữa cộng sản Bắc Việt
và chính phủ Nam Việt kết thúc bằng việc Sài Gòn thất
thủ.
Thành phố
HCM trong khung cảnh toàn cầu đương đại
Sau khi
Sài Gòn thất thủ, Việt Nam thực hiện chính sách bế quan toả
cảng. Chính phủ xã hội chủ nghĩa thực hiện chương trình phục hồi nhân phẩm nhằm
xoá bỏ nạn mại dâm. Nhưng sau một thập kỷ tụt hậu về sản xuất và lạm phát phi
mã, năm 1986 chính phủ Việt Nam thực hiện chính sách cải tổ mà họ gọi là Đổi
Mới, tức là chính sách đã đưa Việt Nam từ nước xã hội chủ nghĩa sang nền
kinh tế thị trường (Turley and Selden, 1993). Sài Gòn, sau này được gọi là thành
phố HCM, trở thành một thành phố có tốc độ lưu chuyển người và tư bản rất cao.
Là “khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam”, thành phố HCM đóng góp tới 35% tổng
sản phẩm quốc dân của Việt Nam (Pham, 2003). Theo sau các nước xã hội chủ nghĩa
khác, năm 2006 Việt Nam tham gia WTO, tức là tự mình lao vào nền kinh tế toàn
cầu và thiết lập những mối quan hệ mới với các nước khác trong lĩnh vực ngoại
thương và đầu tư (Greider, 1997; Hoogvelt, 1997; Sassen, 1998). Có một số bằng
chứng cho thấy thành phố HCM bắt đầu nổi lên như là một thành phố toàn cầu mới,
Saskia Sassen (2001) coi đây là trung tâm sản xuất, phát triển công nghệ và tài
chính tư bản chủ nghĩa. Tuy nhiên thành phố HCM còn thiếu hệ thống giao thông
hiện đại, chưa có thị trường chứng khoán quốc tế lớn và chưa có ảnh hưởng tích
cực đối với thị trường thế giới. Như vậy là, thành phố HCM mới là thành phố quốc
tế đang lên chứ chưa phải là thành phố toàn cầu. Thành phố quốc tế đang lên, tôi
khẳng định, là một phần của khu vực ngoại vi trong thị trường tư bản toàn cầu mà
cơ cấu kinh tế và xã hội của nó đang ngày càng được định hình bởi quá trình toàn
cầu hoá từ bên trên và hoạt động của chủ nghĩa siêu quốc gia từ bên dưới. Việc
luân chuyển người và tư bản từ các nước đã phát triển sang các nước kém phát
triển hơn là đặc điểm của quá trình toàn cầu hoá từ bên trên. Những cá nhân sống
trong các nước kém phát triển hơn lợi dụng các mối liên hệ toàn cầu của họ nhằm
giữ vững hoặc nâng cao mức sống của họ chính là những người tham gia vào hoạt
động của chủ nghĩa siêu quốc gia từ bên dưới (Smith and Guarnizo, 1998). Trong
hai mươi năm qua người ta đã ít chú ý đến sự gia tăng hoạt động mại dâm trong
đất nước đang toàn cầu hoá này (Nguyen-Vo, 2008). Thực vậy, Giáo sư Bùi Thị Kim
Quy đã nhận thấy rằng nạn mại dâm ở Việt Nam đã gia tăng ngay sau Đổi Mới, với
khoảng 200.000 phụ nữ Việt Nam thường xuyên tham gia (CATW,
2005).
Tình cảm
thể hiện
Tôi sử
dụng lý thuyết quan hệ tình cảm của Arlie Hochschild’s (2003 [1983]) làm phương
tiện kiểm tra và so sánh quan hệ giữa người lao động tình dục với khách làng
chơi ở thành phố HCM. Trong công trình nghiên cứu các tiếp viên hàng không Mỹ và
nhân viên thu nợ, Hochschild đã khảo sát sự thâm nhập của những mối quan hệ tình
cảm vào trong quan hệ thương mại. Bà chia tình cảm của con người thành hai phần:
phần cốt yếu của tình cảm của con người được thể hiện chủ yếu trong đời sống
riêng, ở gia đình được bà gọi là tình cảm thực (emotion work) và việc biến tình
cảm riêng tư thành một loại hàng hoá đem bán trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa
được bà gọi là tình cảm thể hiện (emotional labor). Muốn thể hiện tình cảm phù
hợp với hoàn cảnh thì người ta phải cố tình gợi lên, uốn nắn và đè nén tình cảm
bên trong bằng cách chuyển hoá tư tưởng, cơ thể và điệu bộ, thông qua cả những
hàng động mang tính bề mặt bên ngoài và sâu thẳm ở bên trong
nữa.
Hochschild
khẳng định rằng tình cảm thể hiện thay đổi tuỳ thuộc vào giới tính và giai cấp
xã hội. Những người có địa vị xã hội thấp kém thí dụ như phụ nữ, người da màu và
trẻ con không có “những tấm lá chắn” nhằm bảo vệ họ khỏi những hành động xúc
phạm đến tình cảm. Nói về giới tính, tình cảm thể hiệnrất quan trọng đối với phụ
nữ vì họ ít được độc lập về tài chính, ít quyền lực, uy tín và địa vị xã hội hơn
là đàn ông. Vì vậy mà cần phải khảo sát tình cảm thể hiện thay đổi như thế nào
trong những người làm việc trong lĩnh vực công nghệ tình dục với những địa vị xã
hội khác nhau.
Việc thảo
luận thường chủ yếu nhắm vào khu vực trung và cao cấp. Bài phân tích của tôi cho
thấy những cơ chế khác nhau của tình cảm thể hiện và ước vọng trong hoạt động và
mối quan hệ qua lại giữa những người lao động tình dục và khách làng chơi trong
cả ba khu vực: hạ đẳng, trung và cao cấp. Mặc dù có nhiều “kiểu” người lao động
và khách làng chơi trong từng khu vực, nhưng tôi đưa ra những mối quan hệ điển
hình giữa đàn ông và đàn bà trong mỗi khu vực. Đàn bà trong khu vực hạ đẳng phục
vụ chủ yếu cho khách làng chơi Việt Nam. Họ là những người được trả công
thấp nhất, họ thường chỉ có những mối quan hệ ngắn và nhanh với khách và có thái
độ thô bạo (Xiao, 2009). Những người lao động tình dục trong vực khu trung bình
phục vụ cho khách du lịch ba lô da trắng. Trong khu vực này, đàn bà thường dùng
tình cảm nhằm tạo ra sự cảm thông và tình yêu, thông qua những lời dối trá nhằm
giữ vững và nâng cao mức sống của họ. Trái lại, đàn bà trong khu cao cấp phục vụ
đàn ông Việt kiều và được trả công cao nhất. Đàn bà trong khu vực này dựa vào sự
khao khát và quan tâm giả tạo để có thể sống với tiêu chuẩn “5 sao” quanh năm.
Mặc dù tất cả những người đàn bà trong công trình nghiên cứu của tôi đều khoác
cho công việc của họ những tấm áo khác nhau, hiện tượng “ăn bánh trả tiền” trắng
trợn thường xảy ra trong khu vực hạ cấp, trong khi người lao động và khách làng
chơi trong khu cao cấp thường trộn lẫn giữa hoạt động kinh tế với sự thân tình
(Zelizer, 2005).
Phương
pháp nghiên cứu
Từ tháng 6
năm 2006 đến tháng 8 năm 2007, tôi đã tiến hành nghiên cứu tại hiện trường trong
7 tháng, chia làm ba thời kỳ. Trong thời gian này, tôi đã quan sát những người
tham gia trong các quán bar, quán café, nhà của những người lao động tình dục,
những khu phố buôn bán, khách sạn và đường phố. Các nhà khoa học, những người
viết về phụ nữ lao động tình dục trong giai đoạn thuộc Pháp và Mỹ thường coi đàn
bà là gái điếm trong các nhà thổ. Nhưng trong bài báo này, tôi tập trung chú ý
vào những người lao động tình dục (sex workers) (Bernstein, 1999) trong kĩ nghệ
tình dục đương đại, những người tự tham gia hoạt động tình dục chứ không phải là
các gái điếm hay trẻ con bị buôn bán hay bị ép buộc (O’Connell Davidson, 1998).
Như vậy là, công trình nghiên cứu của tôi chỉ giới hạn trong những người phụ nữ
trên 18 tuổi, làm việc như những thực thể độc lập trong các quán bar hay câu lạc
bộ mà thôi. Tôi bắt đầu công trình nghiên cứu bằng cách ngồi trong các quán bar
và đứng trên đường phố để gặp và làm thân với những người lao động tình dục và
khách làng chơi khác nhau trước khi đề nghị những người phụ nữ đó tham gia vào
đề án của tôi. Sau khi đã kết thân với những người lao động trong các quán bar,
tôi mới hỏi liệu họ có thể dành thời gian làm việc với tôi ở bên ngoài quán được
không. Tôi cũng sử dụng hiểu biết của hai người lái xe ôm là Cường và Lộc, hai
anh này đã giới thiệu tôi với những người đàn ông và đàn bà trong khu vực hạ cấp
và trung bình. Qua những mối quan hệ như thế, tôi đã gặp gỡ tổng cộng 54 người
lao động và 26 khách làng chơi trong cả ba khu vực. Đấy là những người đồng ý
tham gia vào dự án của tôi.
Khu vực
hạ cấp: Tôi phải giải quyết việc đó trong hai mươi phút
Những
người lao động tình dục chuyên phục vụ cho đàn ông địa phương thường hoạt động
trong những địa điểm mang danh hiệu cắt tóc, quan café hay trong các công viên
xung quanh quận I trung tâm thành phố HCM. Một buổi chiều mùa hè, Cường chở tôi
đến quân Tân Bình, đi từ trung tâm thành phố mất 45 phút xe ôm. Ở đây có 25 hiệu
cắt tóc nằm thành một dãy sát nhau. Tất cả các hiệu cắt tóc trông đều giống
nhau, rộng khoảng hơn một mét, dài gần hai mét, với hai hoặc ba người lao động
tình dục ngồi bên trong. Không có Cường thì tôi không thể nào ngờ được rằng đây
là những điểm mại dâm vì trông chúng cũng chẳng khác gì những hiệu cắt tóc hợp
pháp khác trên khắp thành phố này.
Chúng tôi
dừng lại trước một hiệu có treo một cái gương lớn và hai chiếc ghế bọc da ở bên
trong. Ở đằng sau cái màn hoa là một chiếc giường bọc da, như thể chỉ đủ cho một
người nằm. Quán có vẻ ọp ẹp, không có bồn rửa tay, cũng chẳng có phòng tắm. Tiền
thuê một chỗ như thế khoảng 40 USD một tháng. Tôi gặp Thuý, Yến và Thu, ba người
là chị em họ với nhau, tuổi khoảng gần 35. Khác với những người làm trong hai
khu vực kia, những người này không có quần áo đẹp hay loè loẹt. Họ là đối tượng
của những người đàn ông nghèo khó trong khu vực, những người cho rằng cơ thể của
họ vừa gần gũi lại vừa quen thuộc nữa. Tôi đã đến cái quán này mấy lần, giống
như mọi quán khác trên cùng con phố, nó thường hoạt động vào buổi sáng và buổi
chiều và đóng cửa trước 5 hoặc 6 giờ chiều. Thời khoá biểu như thế giúp những
người đàn bà này che giấu gia đình và họ có thể có mặt ở nhà khi con họ đi học
về. Những người đàn bà này kiếm sống bằng mãi dâm, mỗi khách làng chơi chỉ trả
họ 3USD là cùng. Thuỷ, Yến và Thu đều là các bà mẹ đơn thân; chồng họ đã bỏ đi
theo những người đàn bà trẻ hơn. Sau khi bị ruồng bỏ, để có tiền nuôi con các cô
phải bán dâm. Trung bình mỗi cô có ba người khách một ngày, tức là được khoảng
100 USD một tháng. Theo Thuỷ thì như thế là thu nhập cao hơn những người phục vụ
trong các nhà hàng hay “osin” khoảng 40USD/tháng. Khi mới vào, khách làng chơi
ngồi lên ghế, các cô bắt đầu massage đầu và cổ. Nếu là khách mới thì các cô phải
đợi khách tự yêu cầu “dịch vụ”, nghĩa là họ biết có việc bán dâm ở đây. Thực ra,
đúng là có người đến cắt tóc thật, nhưng ít người đi ra với cái đầu đã được hớt
gọn gàng. Khách quen thường đến đòi phục vụ tình dục ngay. Tất cả các cửa hiệu
cắt tóc trên con đường này cũng như trong các quận ngoại thành khác đều hoạt
động theo kiểu ấy.
Quan hệ
người lao động-khách làng chơi thường kéo dài 20 phút, đấy là khi các cô không
gặp phải những “ca khó”; trong những trường hợp như thế (khó), cô khác phải vào
giúp; khách làng chơi vẫn chỉ trả có 3 USD. Tôi ngồi tán gẫu với các cô suốt 3
tiếng đồng hồ trước khi Phong, một khách làng chơi khoảng 45 tuổi, tới. Anh này
mặc một chiếc quần màu xám, áo T-shirt cộc tay. Anh ta ngồi lên chiếc ghế da,
nhưng cả anh ta lẫn ba người phụ nữ và tôi đều không nói một lời nào. Tôi thấy
Thuỷ massage cổ anh ta chừng năm phút, rồi hỏi: “Anh sẵn sàng chưa?” Không trả
lời, anh ta đi vào nằm lên giường, còn Thuỷ thì kéo bức màn che lại. Khi Thuỷ
“làm việc” thì Yến và Thu quay sang tôi. Tôi hỏi: “Anh ta là khách hàng thường
xuyên à?” Yến đáp: “Vâng, tuần nào anh ta cũng tới và chỉ đòi Thuỷ thôi. Chúng
tôi rất lo vì anh ta là loại khó”. Tôi hỏi: “Khó nghĩa là thế nào?” Cô bảo: “Anh
ta thuộc loại có tuổi, Thủy cảm thấy khó cho nên chúng tôi phải vào giúp. Tôi
ghét lắm vì anh ta bóp rất chặt. Đôi khi rất đau, nhưng chúng tôi không dám nói
hay làm gì vì anh ta trả tiền cho chúng tôi”. Hai mươi phút sau Thuỷ và khách
của cô đi ra. Anh ta lấy xe mô tô và phóng đi mà không nói với ai câu nào. Sau
khi khách đã đi, tôi hỏi Thuỷ: “Các vị có nói chuyện với nhau không?” Cô nhìn
tôi và bảo [bằng tiếng Việt],
“Không,
chẳng có gì mà nói. Họ đến và nhận được cái mà họ cần rồi đi. Chúng tôi có thể
nói gì được? Có vẻ như họ chẳng quan tâm hay tôn trọng gì chúng tôi. Đôi khi ba
chúng tôi nói chuyện rồi khóc với nhau vì những người như cái gã vừa nãy là
những kẻ rất khó. Họ tỏ ra thô lỗ và chỉ muốn nhận cái mà họ trả tiền thôi. Nếu
chúng tôi không “giải quyết được” thì họ sẽ không trả tiền cho nên đôi khi cả ba
chúng tôi phải thay nhau giải quyết cho ‘nó ra’”.
Kiểu quan
hệ này thường chỉ là “ăn bánh trả tiền” mà không cần mặc cả hay tình cảm gì hết.
So với những người phụ nữ trong khu vực trung và cao cấp thì những người đàn bà
này không cần cố gắng thiết lập quan hệ thân mật với khách làng chơi. Những
người phụ nữ trong khu vực này phải là cái việc mà Hochschild (2003 [1983]) gọi
là “kiểm soát hay đè nén tình cảm, tức là cố tình đè nén cái tình cảm không hay
đang xuất hiện”. Những người đàn bà này phải đè nén cảm xúc coi thường khách
làng chơi của họ. Khách làng chơi tới, được phục vụ và rời khỏi tiệm trong vòng
20 phút. Những người đàn bà trong khu vực này mất thì giờ chủ yếu cho công việc
và gia đình, và không tìm cách chuyển sang khu vực được trả công cao
hơn.
Do tính
chất quan hệ giữa người lao động và khách cho nên tôi khó bắt chuyện với khách
làng chơi khu vực hạ đẳng. Vì vậy mà Cường, tức là anh lái xe ôm mà tôi quen,
thường bắt chuyện với những người đàn ông địa phương, anh hỏi, còn tôi thì ngồi
nghe. Khi ngồi với Cường trong một quán café nhỏ ở quận Tân Bình, tôi đã gặp một
người lái xe tải tên là Thực, khoảng 35 tuổi. Cường hỏi: “Anh có hay vào quán
này không?” Thực đáp: “Có, tôi thường đến đây khi đi ra ngoài thành phố”. Cường
hỏi: “Mấy cô ở đây thế nào?” Thực bảo:
“Mấy người
ở đây đều là phụ nữ nhà quê, họ sạch sẽ nhưng không thể nói chuyện với họ được.
Tôi đến, giải quyết, rồi đi. Chỉ phải trả 50 ngàn (3 USD) thôi. Còn đòi gì nữa?
Họ không phải là những người đàn bà cao sang đi với bọn da trắng. Họ chỉ là
những người đàn bà nông thôn nghèo túng không có việc làm mà
thôi”.
Những
người đàn bà này chỉ bán thân vì khách hàng của họ cũng chẳng cần gì hơn là làm
tình. Đa số đàn ông đến đây là những người thất nghiệp hoặc không có tay nghề,
thu nhập chừng 50 USD tháng; họ không thể đòi hỏi hơn. Quan hệ giữa người lao
động-khách hàng là “mì ăn liền”, khách làng chơi làm tình với những người mà họ
cảm thấy dễ chịu. Mặc dù khách làng chơi không nghĩ rằng những người phụ nữ ở
đây thể hiện tình cảm với họ, nhưng thật ra, những người phụ nữ ở đây phải đè
nén sự khinh bỉ đối với khách hàng của mình.
Khu trung
lưu: “Cô ấy là một người khoẻ mạnh và trung thực”
Giống như
đường Khao San ở gần Bangkok hay phố Petaling ở
Kuala Lumpur,
Phạm Ngũ Lão, quận 1 ở thành phố HCM là khu du lịch “Tây ba lô”. Những khu vực
này phục vụ du khách quốc tế đủ mọi thành phần, nhưng nổi tiếng vì có các dịch
vụ du lịch và khách sạn rẻ tiền. Có rất nhiều cửa hàng bán đồ lưu niệm, khách
sạn mini, hãng du hành, nhà hàng, quán café và dĩ nhiên là các quán bar chuyên
phục vụ đàn ông da trắng nữa. Các phố trong khu vực này đầy những người bán hàng
rong, trẻ con đường phố và phục vụ chủ yếu cho người nói tiếng Anh. Tôi tiến
hành khảo sát bảy quán bar trong khu vực này. Mối quan hệ giữa người lao động và
khách làng chơi có thể thấy rõ trong một quán tên là Azul, rộng khoảng một mét
rưỡi, dài chừng bốn mét, quầy thu ngân ốp đá với 6 chiếc ghế cho khách ngồi và
uống. Phía sau là một chiếc ghế bành hình chữ L bọc da. Ngay ngoài cửa có hai
cái bàn, chủ quán thường ngồi và nói chuyện với khách ở đấy. Những người lao
động tình dục làm việc ở đây đóng vai người pha rượu có lương. Trong khi họ là
những người kéo khách vào quán thì họ lại chẳng được chủ trả cho đồng nào. Những
người lao động tình dục dùng quán làm chỗ gặp gỡ khách làng chơi và họ tự ra giá
mà không cần trung gian nào hết. Người lao động phải trả cho chủ quán 7 USD sau
mỗi lần “đi” khách. Khách làng chơi phải trả từ 30 đến 70 USD, tuỳ thuộc vào yêu
cầu của từng cô và khả năng mặc cả của khách. Các quán bar trong khu vực “Tây ba
lô” có tốc độc lưu chuyển cao, không chỉ vì các cô ở đây thường chuyển từ quán
nọ sang quán kia, hi vọng tìm được khách mới mà còn vì các quán này thường bị
chính quyền bắt đóng cửa, rồi lại được mở. Tất cả các cô tôi gặp ở khu vực này
đều có tuổi gần ba mươi và phần lớn là những bà mẹ đơn
thân.
Tôi gặp
Trâm vào tháng 6 năm 2006 và giữ liên lạc với cô cho đến tháng 8 năm 2009, sau
đó cô đi Canada với ông chồng người Mỹ tên là William vì cô không được nhập cư
vào Mỹ. Khi gặp Trâm lần đầu trong quán Azul, cô đã làm tôi ngạc nhiên vì đây là
người sành điệu nhất trong quán. Cao khoảng 1 mét 6, cô thường mặc những bộ quần
áo làm nổi bật những đường cong trên cơ thể. Cô trang điểm nhẹ nhàng và tự
nhiên, tay và cổ đều có đeo vòng, hoa tai có gắn hạt xoàn. Bề nổi, Trâm có rất
nhiều tiền và tất cả những người phụ nữ trong quán bar này đều ghen tị với đồ
trang sức của cô. Tôi đã bắt chuyện với Trâm ngay tối đầu tiên. Cô nói là trước
đây cô đã có chồng người Việt Nam, tên là Hải và có với anh này ba
đứa con. Người chống cũ và ba đứa con cũng như họ hàng đều sống cách trung tâm
thành phố chừng một giờ đi xe. Cách đây vài tháng bạn cô, tên Trang, giới thiệu
cô cho Cô Thuỷ, chủ nhà hàng và cô bắt đầu giữ chân pha rượu từ đấy. Ban đầu Cô
Thuỷ bảo là Trâm chỉ được nhận tiền “bo” của khách ngoại quốc. Tháng đầu cô được
75 USD. Chẳng bao lâu sau cô biết rằng có thể kiếm được nhiều hơn nếu cô chịu đi
“với khách về nhà”. Trâm bảo tôi: “Cô Thuỷ không bao giờ ép tôi đi khách. Nhưng
cô ấy bảo tôi là có thể kiếm được nhiều tiền nếu làm theo cách đó. Thế là tôi
bắt đầu làm và kiếm được khoảng 75 USD mỗi lần đi
khách”.
Trâm kể
cho tôi nghe chuyện làm quen với một người đàn ông đến từ bang Connecticut, tên là
William, ngay trong quán bar này. Ban đầu William có vẻ rất thích cô và trả giá
cao (120 USD mỗi đêm). Sau hai tuần họ đã có quan hệ thân mật, họ kể cho nhau
nghe chuyện đời mình và đi chơi phố với nhau suốt ngày. William rời Việt
Nam để về Mỹ vào tháng 6 năm 2006,
nhưng vẫn giữ quan hệ với Trâm qua chatroom và email. Anh gửi cho cô mỗi tháng
500 USD để chi tiêu và trả tiền học phí tiếng Anh. Năm tháng sau (tháng 1 năm
2007) William quay lại Việt Nam, Trâm li dị với người chống cũ và
hai người kết hôn. Sau đó không lâu cô sinh một bé gái, đặt tên là Jessica và họ
rời khỏi khách sạn để chuyển đến căn hộ ba buồng ở Phú Mỹ Hưng, một khu ngoại ô
mới với những căn hộ và villa sang trọng dành cho giới giàu có mới. Trâm và
William phải trả tiền thuê nhà là 1200 USD một tháng, tức là gấp 12 lần giá
trung bình ở thành phố HCM. Đấy là khu nhà ở mới nhất và đắt nhất, nằm trong
quận đang được cải tạo. William và Trâm đồng ý ở lại Việt Nam cho đến khi
cô được phép di cư.
Tôi hỏi
Trâm tại sao cô còn làm trong ngành kĩ nghệ tình dục khi đã có đủ thứ mà đa số
những người phụ khác trong lĩnh vực này ước ao: chồng ngoại quốc, tiền và cơ hội
định cư ở nước ngoài. Trâm nói [bằng tiếng Việt]:
“Các cô ở
đây bảo rằng tôi tham. Tôi làm ở đây vì hai lý do. Thứ nhất, tôi phải gửi tiền
cho anh chồng cũ và con tôi. Tôi vẫn còn yêu anh chồng đầu tiên. Tôi phải giả vờ
yêu William và chăm sóc anh ta vì anh đã giúp đỡ gia đình tôi rất nhiều. Không
phải là tôi không yêu William. Nhưng đây là kiểu tình yêu khác, ta phải nuôi
dưỡng tình yêu đối với người đã giúp đỡ mình. Không có gì bảo đảm là William sẽ
đưa được tôi ra khỏi Việt Nam được. Sứ quán nghiên cứu rất kĩ
các trường hợp làm đám cưới giả. Họ có thể cho rằng đám cưới của tôi là giả vì
tôi đã li dị cho nên tôi phải có kế hoạch dự phòng chứ”.
Mặc dù
Trâm phải nuôi “tình yêu” với William, tình cảm của cô đã chuyển hoá từ cố gắng
tạo ra tình cảm và quan tâm sang tình cảm sâu nặng đối với William. Trâm tiếp
tục làm việc trong ngành kĩ nghệ tình dục ngay cả khi đã kiếm được một ông chồng
ngoại quốc là vì địa vị về mặt kinh tế và xã hội của cô chưa được chắc chắn, và
cô cần tiền để cung cấp cho gia đình.
Những
người phụ nữ đồng cảnh ngộ với Trâm sống trong thành phố quốc tế mới nổi có thể
dựa vào hoàn cảnh nghèo nàn và thuộc thế giới thứ ba của đất nước nhằm kých
thích trí tưởng tượng của khách làng chơi, để họ cảm thấy như đang đóng vai
những vị cứu tinh cho các cô. Sau khoảng hai tháng rưỡi làm quen với Trâm trong
quán bar, quán café và mua sắm, Trâm bắt đầu nói cho tôi biết những tình tiết
trong cuộc sống với William. Một buổi chiều tháng 8 năm 2007, Trâm mời tôi về
nhà, tôi gặp William và con gái họ là Jessica ở đấy. Khi nói chuyện về Việt
Nam, William bảo
tôi:
“Chị biết
đấy, người ta thường có quan niệm xấu về những người đàn ông da trắng lấy vợ
Việt Nam. Nhưng tôi yêu Trâm ngay từ ngày
đầu tiên tôi gặp cô ấy ở nhà hàng Azul. Không như những người đàn bà ở Mỹ, cô ấy
không đòi bình đẳng. Cô ấy biết cách chăm sóc tôi. Cô ấy là người giàu tình cảm
và cô ấy làm cho tôi cảm thấy mình là người được yêu. Mặc dù chúng tôi có osin,
chuyên nấu ăn và giặt giũ, nhưng Trâm vẫn hướng dẫn cho cô ta cách nấu những món
ăn mà tôi thích”.
Tôi hỏi
anh ta: “Tại sao anh lại lấy cô ấy mà không lấy người nào đó ở Mỹ?” Anh ta đáp:
“Tôi là người lái xe bus đã 20 năm nay, khó tìm người yêu lắm. Không ai muốn lấy
lái xe bus hết. Sau khi mẹ mất tôi được thừa kế rất nhiều tiền và tôi quyết định
đi chu du khắp thế giới. Việt Nam là nơi dừng chân cuối cùng của
tôi. Tôi yêu đất nước này và yêu Trâm nữa. Tôi không nói được tiếng Việt và cô
ấy nói tiếng Anh cũng không tốt lắm, nhưng chúng tôi vẫn hiểu nhau. Tôi vui vì
được chăm sóc cô ấy. Khi tôi nhìn thấy cảnh cha mẹ và con cô ấy sống, tôi đã cho
họ 50.000 USD (trong vòng 6 tháng) để xây lại nhà. Chúng tôi gửi cho họ mỗi
tháng 200 USD để mua thức ăn và đồ dùng lặt vặt. Trâm là người mạnh khoẻ và đa
tình”.
Đàn ông
gặp những người như Trâm đã thấy lý do vì sao cô lại tham gia vào kỹ nghệ tình
dục. Trâm và William quan tâm đến nhau, hai người kể cho nhau nghe câu chuyện
của đời mình, yêu nhau (thật hay giả) và quan tâm đến nhau. William nói với tôi
ước muốn được “chăm sóc” người đàn bà trung thực và mạnh mẽ như Trâm. Anh ta còn
muốn cứu cô khỏi cảnh làm gái bán bar vì khác với những người đàn bà ở phương
Tây, Trâm làm cho William không chỉ cảm thấy được yêu mà còn là người cần thiết
và trên thực tế là nhân vật quan trọng vì anh đã chi tiền để cải tạo căn nhà của
bố mẹ cô. Khác với những người lao động tình dục chuyên phục vụ cho đàn ông Việt
Nam đã nói đến bên trên, khả năng nói tiếng Anh, khả năng giao tiếp với người
nước ngoài và tạo cảm giác yêu đương và thông cảm của Trâm đã giúp cô thuyết
phục được những người đàn ông phức tạp như William thường xuyên giúp đỡ cô. Câu
chuyện về những người như William và Trâm cho thấy chiến thuật của phụ nữ trong
việc sử dụng tình cảm để có thể nhận được tiền, nâng cao mức sống và có thể ra
nước ngoài định cư.
Khu vực
cao cấp: “Nhiều người thích cô ấy, nhưng cô ấy chỉ đi với tôi
thôi”
Những
người phụ nữ làm việc trong khu cao cấp của ngành kĩ nghệ tình dục ở Việt
Nam không ra giá trực tiếp. Trong khu
vực này, quan hệ kinh tế và tình cảm đan xen vào nhau đến mức là cả đàn ông lẫn
phụ nữ đều thường cố gắng thể hiện quan hệ tình cảm mà ít nói với nhau trực tiếp
về tiền (Zelizer, 2005). Người lao động tình dục trong khu vực cao cấp có gắng
tạo dựng “quan hệ thân tình” và che đậy sự kiện là muốn được trả nhiều tiền hay
quà tặng đắt tiền (Zelizer, 2005). Giống như những người lao động tình dục ở
Thái Lan mà Aura Wilson (2004) đã khảo sát, những người phụ nữ hoạt động trong
khu vực cao cấp ít khi ra giá trực tiếp. Đa số bỏ túi được nhiều hơn bằng các
món quà. Các cô thường chi khá nhiều tiền cho các thẩm Mỹ viện và quán bar, nhằm
tạo cho khách hình ảnh của những người đi chơi giàu có. Nhưng khác với những
người phụ nữ địa phương vào quán với bạn bè, những người này biết rằng họ đang
làm việc. Họ lợi dụng sắc đẹp và khả năng biến tình cảm của mình thành một món
hàng. Khách làng chơi quan hệ với những người lao động tình dục cao cấp trả tiền
không chỉ vì nhục dục, họ trả tiền vì người đàn bà đẹp và đáng yêu, những người
dành nhiều thời gian tâm sự với họ trong nhà hàng hay quán café chứ không chỉ
làm tình. Tôi xin minh hoạ khu vực cao cấp bằng hai câu chuyện của một người lao
động và một khách làng chơi trong ngành công nghệ tình dục Việt
Nam như sau.
Tôi làm
quen với Thanh, một Việt kiều, cũng là chuyên viên máy tính ở Paris về Việt Nam thăm gia đình, sống cùng khách
sạn với tôi. Một tối Thanh cho tôi đi theo anh ta. Sau khi vào quán Whisper, một
quán bar nằm ngay trung tâm quân 1, Thanh nói với tôi [bằng tiếng Anh]: “Tất cả
[các cô ở đây] đều làm, chị phải trả giá đúng”. Khi tôi đề nghị giải thích thì
anh ta nói: “Đấy là món đồ uống mà chị sẽ mua. Tôi nghĩ, thường thì mua một chai
Remy [chai Cognac giá khoảng 100 dollars] và sau đó mời
các cô đến nói chuyện”. Đêm đó Thanh gặp hai người, Châu và Hoài, cả hai đều mặc
quần áo cộc và đi giày cao gót. Châu 23 tuổi, còn Hoài 24. Khi Thanh giới thiệu,
chúng tôi cùng mỉm cười và không nói chuyện được nhiều vì nhạc trong quán mở to
quá. Thanh thích Hoài và họ bắt đầu ve vãn nhau. Cuối buổi Thanh và Hoài cho
nhau số điện thoại và họ đi vào khách sạn, vào quán café, quán bar với nhau suốt
hai tuần liền. Trước hôm Thanh trở về Paris tôi đã mời anh ta đi uống café và làm một
cuộc phỏng vấn không chính thức. Câu đầu tiên Thanh nói với tôi bao trùm việc
buôn bán sắc đẹp của đàn bà và ước muốn của đàn ông [bằng tiếng
Anh]:
“Chị biết
đấy, tôi chỉ ở đây có hai tuần thôi và có một người đẹp đi chơi cùng thì còn gì
thú bằng. Nghĩa là, chị biết đấy, tôi là thanh niên Việt Nam, tôi mua cho
cô ta đồ trang sức, quần áo và cho cô ta tiền tiêu trong thời gian chúng tôi bên
nhau. Thanh niên da trắng kiệt sỉ lắm. Họ đếm từng xu, trong khi người Việt
Nam chúng ta phóng khoáng hơn. Tôi là
người tốt, chị biết đấy, tôi cho cô ấy tiền và mua cho cô ấy tặng phẩm. Tôi quan
tâm đến cô ấy. Tôi có thể tiêu nhiều tiền trong hai tuần cũng không sao. Đây là
kì nghỉ của tôi”.
Khi tôi
hỏi Thanh trong hai tuần qua anh ta đã chi cho Hoài bao nhiêu, thì anh ta bảo:
“Tôi không biết. Tôi mua cho cô ấy rất nhiều đồ, thỉnh thoảng tôi lại đưa cho cô
ấy hai trăm… có thể sáu bảy trăm dollars”. Khi tôi nói về quan niệm của anh ta
về những người làm việc trong lĩnh vực tình dục ở Việt Nam và tỉ giá
ngoại tệ, Thanh giải thích: [bằng tiếng Anh]:
“Những cô
gái này cao giá vì họ trẻ, xinh xắn, và những anh chàng khác cũng muốn. Chị biết
đấy, họ khéo léo và biết nói tiếng Anh. Họ biết cách nói chuyện với đàn ông… Tôi
biết nếu tôi đưa ít thì cô ấy sẽ đi với người khác. Tôi không muốn những cô xấu
xí đang nói chuyện với mấy tay da trắng mà chị nhìn thấy
kia.”
Việt kiều,
tương tự như Thanh, đến Việt Nam để thụ hưởng không chỉ tình dục.
Những người đàn ông này mua dịch vụ của những người lao động tình dục trong khu
vực cao cấp, tức là mua dịch vụ của những cô gái trẻ, đẹp, phong lưu và có nhiều
người thích, và quan trọng hơn là làm cho họ cảm thấy là mình cũng được người
khác thích. Những người phụ nữ này còn tạo điều kiện cho đàn ông thể hiện sức
mạnh của đồng tiền của mình bằng cách tạo ra cách sống sang trọng. Những người
lao động tình dục trong khu vực cao cấp dùng tình cảm để tạo ra cảm giác thèm
muốn và cảm giác về quyền lực của khách bằng cách giúp những người đàn ông đó
thể hiện nam tính của mình ở những nơi công cộng (Allison, 1994). Cái ham muốn
đó hiện diện không chỉ trong khả năng thanh toán của Thanh mà còn nằm trong khả
năng thể hiện tình cảm của Hoài khi cô cùng với Thanh vào quán café, khách sạn
hay quán bar (Constable, 2003). Trong khu vực cao cấp, quà tặng là thứ bắt buộc
phải có để trao đổi. Thông qua những món quà tặng đắt tiền, cả người lao động
lẫn khách làng chơi đều thể hiện mình là những người sành điệu hơn những người
đàn ông và đàn bà trong khu vực trung và hạ cấp, tức là những người sử dụng quan
hệ tình-tiền theo kiểu “tiền trao cháo múc” (Peiss,
1986).
Nhiều
người lao động trong khu vực này có khả năng và cũng gặp những khó khăn nhất
định trong việc cung cấp cái mà Hochschild gọi là “tình cảm sâu nặng” (deep
acting). Một trong những người như thế là Kim Lý, một người bạn trai đã giới
thiệu tôi với cô vào tháng 8 năm 2006. Cũng như những người mà tôi ngờ rằng đang
làm trong lĩnh vực tình dục khác, tôi phải chờ cho đến khi khá thân với Kim Lý
mới dám hỏi thẳng và trực tiếp về công việc của cô. Giống như một số người phụ
nữ làm việc trong khu vực cao cấp, Kim Lý xuất thân từ một gia đình khá giả. Cha
mẹ cô có một cửa hàng bán đồ Mỹ phẩm sản xuất tại Nhật và Hàn Quốc ở quận 1. Kim
Lý thường mời tôi đi uống café, vào Mỹ viện và quán bar, cho thấy khả năng kinh
tế và xã hội tạo điều kiện cho cô sự tự tin và có những cầu nối để gia nhập
những quán bar cao cấp, nơi cô có thể gặp gỡ những người đàn ông Việt kiều khác
nhau. Trong thời gian gặp gỡ tôi, Kim Lý đang hẹ hò với hai Việt kiều Mỹ; một
người từ San Jose, California còn người kia thì từ Pittsburgh, Pennsylvania tới.
Mới 21 tuổi, những đêm cuối tuần Kim Lý thường đến các quán bar cao cấp trong
những khách sạn 5 sao hay những địa điểm như Whisper. Khả năng kinh tế và xã hội
của Kim Lý giúp cô che giấu vai trò của mình (người lao động tình dục) đối với
đa số đàn ông trong khi kín đáo thể hiện nó với một số người
khác.
Một tối
(tháng 6 năm 2007) Kim Lý và tôi tới Whisper. Đêm đó tôi mới biết rằng so với
những người phụ nữ trong các khu vực khác, những người hành nghề trong khu vực
cao cấp thường bỏ rơi những khách làng chơi mà họ thấy là không hợp, như Kim Lý
đã làm hôm đó. Bỏ rơi đàn ông thường làm cho cô có nhiều khách hàng hơn, đặc
biệt là Việt kiều, những người mà cô có thể lựa chọn. Hơn nữa, nó còn đưa đến
cho cô những người thích cô để cô lựa chọn. Cô nói với tôi [bằng tiếng
Anh]:
“Phải
biết cách nói chuyện với đàn ông Việt kiều. Không được nói ngay là tôi sẽ ngủ
với anh, còn anh sẽ trả tiền cho tôi. Nếu muốn được nhiều tiền hơn thì phải kiên
nhẫn và biết cách nói chuyện với họ”.
Khi tôi đề
nghị giải thích thì cô bảo [bằng tiếng Việt]:
“Chị biết
đấy, nhiều cô gái cảm thấy ngượng khi đòi tiền ngay. Nhưng đấy là những con
ngốc. Như em thì em sẽ nói: ‘Anh yêu ơi, phải tiết kiệm mới được. Ăn ở chỗ nào
rẻ rẻ thôi’. Lúc đó họ sẽ nghĩ là em quan tâm tới họ và họ sẽ cho tiền. Không
cần phải đòi. Chị hiểu không? Việt kiều thường hào phóng. Em phải tỏ ra quan tâm
tới họ bằng những việc nhỏ nhặt thôi và họ thường cho em những món đồ đẹp như
thế này (vừa nói cô vừa chỉ vào cái vòng bằng vàng trắng trên cổ
tay”.
Trong
những trường hợp như vậy, những người đàn bà như Kim Lý thể hiện tình cảm bằng
cách giả vờ quan tâm tới túi tiền của khách. Tương tự như các cô trong công
trình nghiên cứu của Amy Flowers về trí tưởng tượng bằng công nghệ tình dục qua
điện thoại, Kim Lý thường nói dối, đóng kịch với khách, kể chuyện nhằm kiếm được
những món quà tặng đắt tiền (Flowers, 1998). Những người phụ nữ này dành nhiều
thời gian và công sức nhằm lèo lái và trình diễn tình cảm với khách hơn là làm
tình “theo lối mì ăn liền”. Nhằm khẳng định mình là những người phụ nữ trẻ, đáng
ước ao, họ thường làm cho khách tin rằng họ không cần đàn ông, mà là những người
phụ nữ có quyền lựa chọn, những người yêu và thích đi chơi với những người
đó.
Khi tôi
hỏi cách thức cô quyết định sẽ ngủ với người nào, nếu khi mới gặp cô không thể
hiện cho họ biết rằng mình là người làm trong lĩnh vực tình dục, thì cô giải
thích:
“Em không
ngủ ngay. Em phải nói chuyện với họ trong quán café, rồi đi nhà hàng nữa. Em chỉ
ngủ sau khi đã nhận được tiền hoặc quà. Phải bắt họ làm, không thì họ sẽ chẳng
coi mình ra gì. Nếu em nghĩ rằng đấy là người kiệt xỉ thì em sẽ không nhấc máy
mỗi khi họ gọi nữa”.
Điều này
cho thấy thời gian đóng vai trò như thế nào trong quan hệ ở khu vực cao cấp.
Những người phụ nữ này mất nhiều ngày thậm chí nhiều tuần với khách nhằm tạo ra
quan niệm về sự sang trọng trong khi chờ đợi được trả bằng tiền hay quà cáp
trước khi đồng ý ngủ với khách. Những người như Kim Lý, tức là những người đóng
vai khách hàng giàu có trong các quán bar và câu lạc bộ đắt tiền ở thành phố
HCM, phải chi cho riêng khoản uống đã là khoảng từ 15 đến 100 USD một đêm. Khác
với những người phục vụ khách làng chơi địa phương và người da trắng, những
người làm trong khu vực cao cấp hoạt động độc lập và không bao giờ thể hiện công
khai là những người làm việc trong lĩnh vực công nghệ tình dục. Bằng cách thanh
toán bằng quà tặng, cả đàn ông lẫn phụ nữ đều che giấu được hình ảnh của họ. Đây
là cách làm hiệu quả vì những Việt kiều như Thanh thích đi quán, đi nhà hàng với
những người phụ nữ đẹp, những người tạo cho họ cảm giác là được người khác quan
tâm.
Kết
luận
Có sự khác
nhau trong quan hệ giữa khách hàng với người lao động trong ba khu vực khác nhau
trong lĩnh vực kĩ nghệ tình dục ở thành phố HCM, phụ thuộc vào địa điểm làm
việc, kiểu khách hàng, cách thức quan tâm, thời gian, sự gắn bó về kinh tế và
tình cảm, cách thức phụ nữ chiêu dụ đàn ông, và kiểu quan hệ của phụ nữ với
khách hàng của họ. Phụ nữ làm việc trong khu vực hạ cấp phải bán dâm để sống tại
những địa điểm tồi tàn nhằm thoát nghèo, trong khi những người hoạt động trong
khu cao cấp xuất thân từ những gia đình khá giả và có nguồn lực kinh tế cũng như
quan hệ xã hội bảo đảm cho họ thâm nhập vào trong và xung quanh những khu đắt
tiền nhất ở thành phố HCM. Là những người bán dâm, phụ nữ dựa và tham gia vào
những hình thức thể hiện hoặc đè nén tình cảm. Người lao động tình dục trong khu
trung cấp làm cho “Tây ba lô” cảm thấy mình là những người có quyền lực và cần
thiết vì có tiền chăm sóc cho những người đàn bà nghèo thuộc thế giới thứ ba;
trong khi những người lao động tình dục trong khu cao cấp làm cho Việt kiều cảm
thấy là được người phụ nữ của mình thích và yêu; còn những khách làng chơi trong
khu vực hạ cấp quan hệ với những người phụ nữ xuất thân từ tầng lớp nghèo khổ
như họ. Công trình này khảo sát bản chất của mối quan hệ giữa khách làng chơi và
người lao động, từ đáy cho đến đỉnh của thị trường, và thấy rằng ở dưới đáy có
nhiều tình dục và nhiều đè nén tình cảm hơn, trong khi những người phụ nữ được
trả giá cao nhất lại cần ít tình dục nhưng phải thể hiện nhiều tình cảm hơn. Các
nữ nhân viên hoạt động trong lĩnh vực tình dục, những người có thể biến tình cảm
của mình thành một loại hàng hoá và đem bán và tạo được quan hệ thân mật với
khách làng chơi đàn ông có thể được giá cao hơn, trong khi những phụ nữ hành
nghề mại dâm “tiền trao cháo múc” thường phải đè nén cảm giác kinh tởm của mình.
Tình cảm
thể hiện trong những mối quan hệ này cho thấy những điều kiện tạo ra những lựa
chọn cho cả đàn ông lẫn phụ nữ. Qua khảo sát khía cạnh văn hoá của tình cảm thể
hiện, tiểu luận này cho thấy cung cách mà những người lao động trong lĩnh vực
tình dục thể hiện với đàn ông Việt Nam, với “Tây ba lô” và Việt kiều và bằng
cách đó, minh hoạ cho sự phức tạp của kĩ nghệ tình dục ở thành phố HCM. Giá trị
của tiểu luận này không phải chỉ là nó cho chúng ta thấy kĩ nghệ tình dục ở
thành phố HCM hoạt động như thế nào mà còn giúp cho ta hiểu sâu thêm về cách
thức đè nén cũng như thể hiện tình cảm của những người lao động tình dục nhằm
tạo ra cảm giác thoải mái, mơ mộng và ước muốn. Cách thức thể hiện này thay đổi
đối với cả đàn ông lẫn phụ nữ, tuỳ thuộc vào địa vị kinh tế cũng như xã hội của
họ.
Tri
ân: Tôi xin cảm ơn
Barrie Thorne, Raka Ray, Irene Bloemraad, Michael Burawoy, Hung Cam Thai, Peter
Zinoman, Becki Ross and Paul Spickard, những người đã giúp đỡ tôi bằng những
nhận xét và đưa ra nhiều câu hỏi trong khi tôi viết bài báo này. Tôi cũng xin
cám ơn Suowei Xiao, Julia Chuang and Leslie Wang, những người đã giúp tôi xem
xét các số liệu và khung lý thuyết cho bài báo này. Tôi xin cám ơn Rhacel
Parrenas, Stephanie Gilmore and Eileen Boris, những người đã tổ chức hội thảo
tại UC Santa Barbara nơi bản nháp của bài báo này được viết. Cuối cùng tôi xin
được cám ơn Jessica Cobb, người đã giúp tôi hoàn thiện những ý tưởng trong bài
báo này.
Nguyên
Trường dịch
Tài liệu
tham khảo
Allison,
Anne (1994) Nightwork: Sexuality, Pleasure, and Corporate Masculinity in a
Tokyo Hostess
Club. Chicago, IL: The University of Chicago Press.
Bales,
Kevin (2004) Disposable People: New Slavery in the Global Economy. Los Angeles: University of California Press.
Bernstein, Elizabeth (1999) ‘What’s
Wrong with Prostitution? What’s Right with Sex Work? Comparing Markets in Female
Sexual Labor’, Hastings Women’s Law Journal 10(1):
91–117.
Bernstein, Elizabeth
(2007) Temporarily Yours: Intimacy, Authenticity, and the Commerce of Sex.
Chicago, IL:
University of
Chicago
Press.
Brennan,
Denise (2004) What’s Love Got to do with it? Transnational Desires and Sex
Tourism in the Dominican
Republic. Durham, NC:
Duke University Press.
Cabezas,
Amalia (2004) ‘Between Love and Money: Sex, Tourism, and Citizenship in
Cuba and the
Dominican
Republic’, Signs 29(4):
987–1015.
CATW
(2005) ‘Trafficking and Prostitution in Asia
and the Pacific’, Coalition Against Trafficking In Women, URL (accessed January
2010): http://www.catw-ap.org/programs/research-documentation-publications/facts-and-statistics/
Constable, Nicole (2003) Romance on
a Global Stage: Pen Pals, Virtual Ethnography, and ‘Mail-Order’ Marriages.
Berkeley: University of California Press.
Dunn,
Caroline (1994) ‘The Politics of Prostitution in Thailand and the Philippines:
Policies and Practice’, unpublished Working Paper 86, Centre of Southeast Asian
Studies, Monash University, Australia.
Enloe,
Cynthia (1990) Bananas, Beaches, and Bases: Making Feminist Sense
of International Politics. Berkeley: University of California Press.
Flowers,
Amy (1998) The Fantasy Factory: An Insider’s View of the Phone Sex Industry.
Philadelphia: University of Pennsylvania
Press.
Greider,
William (1997) One World, Ready or Not: The Manic Logic of Global Capitalism.
New York:
Simon and Schuster.
Guenel,
Annick (1997) ‘Sexually Transmitted Diseases in Vietnam and Cambodia since the
French Colonial Period’, in Milton Lewis, Scott Bamber and Michael Waugh
(eds) Sex, Disease, and Society, pp. 139–53. Westport: Greenwood Press.
Hochschild, Arlie (2003 [1983]) The
Managed Heart: Commercialization of Human Feeling. Berkeley: University of California Press.
Hoogvelt,
Ankie (1997) Globalization and the Postcolonial World: The New Political Economy
of Development. Basingstoke:
Macmillan.
Jamieson,
Niel (1995) Understanding Vietnam. Berkeley: University of California Press.
Kempadoo,
Kamala (2004) Sexing the Caribbean. New York:
Routledge.
Lim, Lin
L (1998) The Sex Sector: The Economic and Social Bases of Prostitution in
Southeast Asia. Geneva: International Labour
Office.
Nguyen-Vo, Thu-Huong (2008) The
Ironies of Freedom: Sex, Culture, and Neoliberal Governance in
Vietnam. Seattle: University of Washington Press.
O’Connell
Davidson, Julia (1998) Prostitution, Power and Freedom. Ann
Arbor: The University of Michigan Press.
Peiss,
Kathy (1986) Cheap Amusements: Working Women and Leisure in
the Turn-Of-The-Century New
York. New York:
Temple
University
Press.
Pham, Chi
Do (2003) The Vietnamese Economy: Awakening the Dormant Dragon. New York:
Routledge.
Proschan,
Frank (2002) ‘Syphilis, Opiomania, and Pederasty: Colonial Constructions of
Vietnamese (and French) Social Diseases’, Journal of the History of
Sexuality 11(4): 610–36.
Rodriguez, Marie-Corinne (2008)
‘Insights into Prostitution in Vietnam During the Colonial Days from the Late
19th Century to the Early 1930s’, unpublished paper, University of Provence,
Aix-en Provence, France.
Sassen,
Saskia (1998) Globalization and its Discontents: Essays on the New Mobility of
People and Money. New
York: The New Press.
Sassen,
Saskia (2001) The Global City: New York,
London, Tokyo. Princeton, NJ: Princeton University Press.
Smith,
Michael Peter and Guarnizo, Luis Eduardo (1998) Transnationalism from Below.
New Brunswick, NJ: Transaction
Publishers.
Stoler,
Ann (1991) ‘Carnal Knowledge and Imperial Power: Feminist Representations of
Women in Non-Western Societies’, in Micaela Di Lenardo (ed.) Gender at the
Crossroads of Knowledge: Feminist Anthropology in the Postmodern Era, pp.
51–101. Berkeley: University of California Press.
Stoler,
Ann (1992) ‘Sexual Affronts and Racial Frontiers: European Identities and the
Cultural Politics of Exclusion in Colonial Southeast
Asia’, Comparative Studies in Society and History 34(3):
514–51.
Sun, Sue
(2004) ‘Where the Girls Are: The Management of Venereal Disease by
United States Military Forces
in Vietnam’, Literature and
Medicine 23(1): 66–87.
Turley,
William and Selden, Mark (1993) Reinventing
Vietnamese Socialism: Doi Moi in Comparative Perspective. Boulder, CO: Westview Press.
Wilson,
Ara (2004) The Intimate Economies of Bangkok:
Tomboys, Tycoons, and Avon Ladies in the Global
City. Los Angeles: University of California Press.
Wonders,
Nancy and Michalowski, Raymond (2001) ‘Bodies, Borders and Sex Tourism in a
Globalized World: A Tale of Two Cities – Amsterdam and Havana’, Social Problems 48(4):
545–71.
Xiao,
Suowei (2009) ‘China’s New Concubines? The
Contemporary Second-Wife Phenomenon’, unpublished PhD thesis, University of California
Berkeley.
Zelizer, Viviana (2005) The Purchase of Intimacy.
Princeton,
NJ:
Princeton
University Press.
No comments:
Post a Comment